VÌ SAO TRUNG ĐÔNG ĂN CHÀ LÀ HÀNG NGÀY?
#BlvHaiThanhplus #BLVHảiThanh #BLVhaiThanhStory
Vì sao người Trung Đông tôn sùng quả chà là đến mức xuất hiện trong tôn giáo, văn hóa và đời sống hằng ngày? Trước khi có dầu mỏ, chà là từng là nguồn sống của cả sa mạc. Câu chuyện đằng sau loại quả nhỏ bé này sẽ khiến bạn bất ngờ.
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIDates are more than just a fruit in the Middle East; they are a symbol of life, survival, and cultural identity. Long before the discovery of oil, dates were the most precious asset in the Arabian Peninsula, providing essential nutrition and enabling the establishment of desert civilizations. Today, they remain deeply integrated into daily life, religious traditions, and hospitality.
Mỗi năm, thế giới sản xuất hơn 9 triệu tấn trà là, riêng Ả Rập Xê Út có hàng chục triệu cây trà là.
UAE tổ chức các lễ hội trà là quy mô quốc gia.
Hàng trăm triệu người Hồi giáo trên thế giới mở đầu bữa sáng trong tháng Ramadan
bằng vai quả trà là trước khi ăn bất kỳ một món nào khác.
Có lẽ trên thế giới rất ít loại hoa quả nào, rất ít loại trái cây nào được tôn trọng như trà là.
Nếu người Việt Nam coi hạt gạo là biểu tượng của nền văn minh lúa nước,
thì với người Ả Rập, trà là gần như là biểu tượng của sự sống.
Mức tiêu thụ trà là ở Trung Đông rất khác nhau giữa các quốc gia,
nhưng nhìn chung cao hơn rất nhiều so với phần còn lại của thế giới.
Cả các nước vùng vịnh như là Ả Rập Xê Út, UAE hay là Oman,
nhiều người có thói quen ăn khoảng gần chục quả trà là mỗi ngày,
đặc biệt là vào bữa sáng khi uống cà phê hoặc là trong tháng Ramadan.
Trong tháng Ramadan, lượng tiêu thụ còn mạnh hơn vì nhiều người bắt đầu bữa ăn
sau khi nhịn ăn cả ngày bằng 3 quả trà là theo truyền thống Hồi giáo.
Tính trung bình cả năm, một người Ả Rập Xê Út tiêu thụ khoảng 20-35 cân trà là mỗi năm,
tương đương khoảng từ 50 đến gần 100 gram mỗi ngày.
Nếu người Việt Nam có thể ăn cơm mỗi ngày thì với rất nhiều gia đình Ả Rập,
trà là cũng là một món ăn quen thuộc xuất hiện gần như hàng ngày trên bàn ăn,
dù chỉ với vài quả mỗi lần.
Có những người lớn tuổi ở vùng nông thôn Trung Đông thậm chí ăn trà là hàng ngày
trong suốt cuộc đời, giống như người Việt uống trà.
Để hiểu vì sao một loại trái cây nhỏ bé lại có vị trí đặc biệt đến như vậy,
chúng ta hãy quay về hàng nghìn năm trước,
khi mà nhắc đến Trung Đông người ta vẫn chưa nhắc đến dầu mỏ,
chưa có Dubai hào nhoáng, chưa có những tòa nhà chọc trời
và cũng chưa có những dòng tiền khổng lồ từ năng lượng.
Khi ấy phần lớn bán đạo Ả Rập chỉ có cát, đá, nắng nóng và sự khác nghiệt.
Và trước khi phát hiện ra dầu mỏ, trà là mới là tài sản quý gia nhất.
Ngày nay người ta thường gọi dầu mỏ là vàng đen của Trung Đông,
nhưng trong phần lớn lịch sử khu vực này,
dầu mỏ hoàn toàn vô giá trị vì chưa ai biết khai thác.
Trong khi đó trà là mới là thứ quyết định một gia đình có đủ ăn hay không.
Nguồn gốc của cây trà là được cho là xuất phát từ khu vực Trung Đông,
đặc biệt là khu vực Ven Vĩnh Ba Tư ngày nay, cách đây khoảng 5.000-7.000 năm.
Đây là một trong những loại cây ăn quả được con người thuần hóa sớm nhất trong lịch sử.
Từ quê hương ban đầu, cây trà là theo các đoàn thương nhân
và các tuyến thương mại cổ đại lan rộng khắp bán đạo Ả Rập,
Bắc Phi, Ba Tư rồi tới Tây Ban Nha.
Nhờ khả năng chịu hạn cực tốt, sống được trong điều kiện nóng và khô khắc nghiệt,
trà là nhanh chóng trở thành cây chiến lược của các nền văn minh sa mạc.
Trước khi dầu mỏ xuất hiện, nhiều vùng Trung Đông gần như sống nhờ với cây trà là,
đến mức người Ả Rập cổ có câu nói,
cây trà là là người bạn đồng hành của con người từ khi sinh ra cho đến lúc qua đời.
Nhiều vùng tại Ả Rập Xê Út, Úa E hay Âu Man chỉ nhận được một lượng mưa cực kỳ khiêm tốn.
Lượng mưa này thì chỉ bằng một phần rất rất nhỏ so với Hà Nội của chúng ta mà thôi.
Trong điều kiện đó, rất nhiều loại cây không thể sống nổi.
Nhưng cây trà là lại phát triển mạnh.
Bộ rễ của nó có thể ăn rất sâu xuống lòng đất để tìm nguồn nước.
Nó chịu được cây nóng trên 45 độ C.
Nó có thể sống cả trăm năm.
Một cây trưởng thành mỗi năm có thể cho hàng chục hoặc hàng trăm cân quả.
Vì vậy, đối với người Ả Rập cổ đại,
sở hữu một vượn trà là đồng nghĩa với việc sở hữu nguồn lương thực lâu dài.
Nhiều gia đình giàu có được đánh giá bằng số lượng cây trà là mà họ sở hữu
chứ không phải bằng vàng bạc hay là một yếu tố nào khác.
Đã tạo ra các ốc đảo giữa biển cát.
Nhìn từ trên cao xuống nhiều khu vực ở Trung Đông,
người ta sẽ thấy những màng xanh nổi bật giữa biển cát mênh mông.
Đó chính là các ốc đảo.
Điều thú vị là trung tâm của rất nhiều ốc đảo luôn xuất hiện những hàng cây trà là cao lớn.
Những cây này không chỉ cho quả mà còn tạo ra bóng mát.
Tàn lá rộng giúp giảm nhiệt độ bên dưới.
Nhờ vậy người dân có thể trồng thêm rau xanh, cây ăn quả và gũ gốc.
Nhiều nhà nghiên cứu gọi đây là mô hình nông nghiệp ba tầng.
Tầng trên cùng là trà là, tầng giữa là các loại cây ăn quả,
tầng dưới cùng là rau và cây lương thực.
Có thể nói trà là giống như chiếc ô khổng lồ tre trở cho cả một hệ sinh thái nhỏ giữa sa mạc.
Nếu không có cây trà là, rất nhiều ốc đảo sẽ không tồn tại.
Và nếu không có ốc đảo, nhiều cộng đồng dân cư cũng khó có thể hình thành.
Nói cách khác, trà là không chỉ nuôi sống con người
mà còn giúp tạo ra những điểm định cư đầu tiên của nhiều khu vực tại Trung Đông.
Trà là cũng là thứ hoàn hảo cho những người chinh phục sa mạc.
Ngày này chúng ta có bánh năng lượng, có lương khô, có sô-cô-la hay là các loại thực phẩm bổ sung.
Nhưng cách đây hàng nghìn năm,
những người thương nhân và du mục phải tìm một nguồn năng lượng đơn giản hơn rất nhiều.
Họ cần thứ gì đó nhẹ, dễ mang theo, không bị hỏng
và cung cấp năng lượng cho những chuyến đi dài hàng trăm kỳ số.
Trà là đáp ứng hoàn hảo yêu cầu này.
Một gram trà là chứa khoảng 280 calor.
Nó giàu đường tự nhiên, giàu cali, giàu maze và chứa nhiều chất sơ.
Chỉ cần một túi trà là cùng ít sữa lạc đà là một người có thể duy trì sức lực trong suốt nhiều giờ.
Quan trọng hơn, trà là khô có thể bảo quản rất lâu.
Không cần tủ lạnh, không cần đóng hộp, cũng chẳng cần phải chế biến quá phức tạp.
Đối với các đoàn lữ hành xuyên sa mạc, đây gần như là một thứ quá hoàn hảo.
Nhiều sử gia cho rằng, nếu không có trà là thì các tuyến thương mại nổi tiếng
đối liền bán đảo Ả Rập với Châu Phi, Ba Tư và địa Trung Hải sẽ khó phát triển mạnh như trong lịch sử.
Và không chỉ quả trà là đâu, một điều đặc biệt là người Trung Đông tận dụng gần như toàn bộ cây trà là.
Quả dùng để ăn, quả khô dùng để giữ chữ, hạt dùng làm thức ăn gia súc,
lá dùng để đan giỏ, làm chiếu hoặc lập mái nhà,
thân cây dùng làm cột nhà và vật liệu xây dựng, sợi cây dùng làm dây thường.
Trong môi trường mà tài nguyên luôn khan hiếm, một loại cây có thể cung cấp nhiều thứ như vậy là cực kỳ quý giá.
Chính vì vậy người Ả Rập cổ đại thường ví cây trà là như người bạn đồng hành của cả gia đình.
Nhiều cây được truyền lại qua nhiều thế hệ.
Ông trồng cây, cha chăm sóc cây và con thì tiếp tục thu hoạch.
Cây trà là không đơn thuần là tài sản mà còn là một phần của văn hóa gia đình.
Nếu chỉ có giá trị kinh tế thì trà là đã rất quan trọng.
Nhưng điều khiến nó trở nên đặc biệt nằm ở tôn giáo.
Trong kinh Qur'an, ở kinh của những người Hồi giáo, cây trà là được nhắc đến nhiều lần.
Theo truyền thống Hồi giáo, nhà tiên tri Muhammad thường dùng trà là để kết thúc thời gian nhịn ăn.
Chính vì vậy trong tháng Ramadan ngày nay, hàng trăm triệu tiến đồ Hồi giáo trên khắp thế giới
vẫn duy trì thói quen ăn vài quả trà là khi mặt trời lạn.
Đây không chỉ là một hành động ăn uống đơn thuần mà còn là một sự kết nối với truyền thống đã kéo dài hơn 1.400 năm.
Trẻ con tại nhiều quốc gia Ả Rập được dạy về ý nghĩa của trà là từ rất nhỏ.
Chúng lớn lên cùng những câu chuyện về loại quả này.
Vì vậy, tình cảm dành cho trà là không chỉ đến từ vị ngon mà còn đến từ niềm tin và bản sắc văn hóa.
Trà là chính là biểu tượng của lòng hiếu khách.
Ở nhiều quốc gia vùng Vịnh, khách bước vào nhà thường được mời cà phê Ả Rập và trà là.
Đây là một nghi thức truyền thống tồn tại từ rất lâu.
Trong quá khứ, việc chia sẻ đồ ăn với khách thể hiện sự hào phóng và tôn trọng.
Theo thời gian, trà là trở thành biểu tượng của lòng hiếu khách.
Và đến tận ngày nay, nhiều doanh nhân, chính khách hay du khách khi đến Ả Rập Xê Út hoặc UAE
vẫn thường được đón tiếp bằng những đĩa trà là đẹp mắt.
Nhiều loại trà là cao cấp còn được dùng làm quà tặng trong các dịp quan trọng.
Điều này khá giống việc người Việt Nam mang trà ngon hoặc đặc sản quê hương đi biếu người thân và đối tác.
Nhưng không phải quả trà là nào cũng giống nhau.
Trên thế giới có hàng trăm giống trà là khác nhau.
Một số giống nổi tiếng được xem là hàng cao cấp,
đặc biệt là giống gọi là Aiwa của Ả Rập Xê Út rất được ưa chuộng vì gắn với câu chuyện tôn giáo.
Một số hộp trà là thượng hạng có giá lên đến hàng chục hoặc hàng trăm đô.
Chúng được đóng gói sang trọng không khác gì hộp bánh cao cấp hoặc quà tặng dành cho doanh nhân.
Điều này khiến nhiều du khách đến với khu vực Trung Đông sẽ cảm thấy bất ngờ.
Họ không nghĩ rằng một loại quả khô lại được tôn trọng đến như vậy.
Sau đây là một số kỷ lục về trà là.
Kỷ lục đầu tiên, trà là là một trong những loại cây trồng lâu đời nhất trên thế giới.
Cây trà là đã được con người trồng cách đây khoảng 5.000-7.000 năm tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi.
Điều đó có nghĩa là khi nhiều nơi trên thế giới còn đang trong thời kỳ đồ đá mới,
người dân vùng Lưỡng Hà và bán đảo Ả Rập đã biết trồng trà là làm lương thực.
Trà là có thể sống hơn 100 năm.
Một cây trà là khỏe mạnh có tuổi thọ từ 80-100 năm, thậm chí lâu hơn trong điều kiện thuận lợi.
Trong suốt cuộc đời, một cây có thể cho hàng tấn quả.
Vì vậy, ở Trung Đông, trồng trà là được xem như cách đầu tư cho thế hệ con cháu.
Về năng suất, thì có những cây trà là cho hơn 2 tạ quả mỗi năm.
Còn một cây trưởng thành trung bình cho khoảng 70 cân cho đến 1 tạ rưỡi quả mỗi năm.
Như vậy, đây cũng là một con số khổng lồ.
Nhiều người nghĩ rằng, khi đã giàu lên nhờ giàu mỏ, các khu doang vùng vịnh sẽ không còn quan tâm tới nông nghiệp.
Nhưng mà thực tế thì lại hoàn toàn ngược lại.
Các nước như là Ả Rập Xê Út, UAE và nhiều nước khác
vẫn đầu tư rất lớn trong nghiên cứu giống mới, công nghệ tưới tiêu và bảo quản trà là.
Họ xây dựng các trung tâm nghiên cứu, tổ chức hộ trợ quốc tế và hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất.
Lý do đơn giản, trà là không chỉ là một mặt hàng nông nghiệp, nó là biểu tượng văn hóa.
Nó là một phần lịch sử dân tộc.
Nó nhắc người dân nhớ về thời kỳ tổ tiên đã sinh sống giữa vùng đất khắc nghiệt nhất thế giới như thế nào.
Cảm ơn vì dành sự quan tâm cho câu chuyện này.
Bản thân mình thì cũng rất thích quả trà là này.
Còn bạn thì sao? Hãy để lại ý kiến dưới phần bình luận.
