NHÂN QUẢ HIỆN ĐỜI: CẢNH TỈNH CHO KẺ THAM LAM, KIẾM TIỀN BẤT CHÍNH KHIẾN DÒNG HỌ TUYỆT DIỆT

Sống thuận tự nhiên
437 Người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Nếu là bạn khi có cơ hội chiếm trọn một món lợi lớn mà không ai biết bạn có lấy không?
Chỉ một lần thôi, chỉ một cái gật đầu thôi.
Không ai thấy, không ai biết cuộc đời bạn đổi khác ngay lập tức.
Nhưng có những thứ không biến mất.
Nó chỉ im lặng chờ, đúng người, đúng thời điểm để quay lại.
Người ta thường hỏi, sao cha làm ác mà con phải chịu?
Nhân quả chẳng lẽ bất công?
Trong thành Lạc Dương, thời Thịnh Đường, có một thương nhân tên Hạ Liên Thành, buôn tơ lụa nổi tiếng giàu con.
Nhưng cái khiến người đời nhắc đến, ông ta không phải giàu sang, mà là một câu chuyện lạ.
Hạ gia ba đời, đều sinh ra những đứa trẻ khỏe mạnh, thông minh.
Nhưng cứ đến tuổi 20, chúng đều chết yếu.
Có người bảo nhà ấy phạm vào sát nghiệp, có người bảo tổ tiên thiếu nợ mạng.
Riêng Hạ Liên Thành không tin.
Ông ta bảo, ta buôn bán sòng phẳng, chẳng bao giờ ăn gian thiếu hụt, sao lại bị quả báo?
Và quả thực, nhìn bề ngoài, Hạ Liên Thành là một người tử tế.
Ông mở quán cơm từ thiện mỗi tháng 15, bỏ tiền sữa cầu, sữa đường, được hàng xóm gọi là Hạ Thiện Nhân.
Chẳng ai biết rằng, cái giàu có ấy được đắp lên từ một việc làm tầy trời, mà chính ông cũng tưởng rằng, nó đã bị thời gian chôn vùi.
Chuyện kể rằng, năm Hạ Liên Thành 22 tuổi, ông còn là một lái buôn nhỏ, chuyên mua lùa vùng Gia Nam, đem bán ra Bắc.
Năm ấy, ông đổ thuyền ở Bến Đông Khẩu, gặp một gia đình nọ, gồm vợ chồng trẻ, cùng đứa con gái một tuổi.
Người chồng họ mạc, tên Mạc Văn Lượng, cũng buôn lùa, nhưng nhỏ hơn, chỉ dám theo thuyền của Hạ Liên Thành để chở hàng nhờ.
Hai người kết bạn trên sông. Mạc Văn Lượng hiền lành, thật thà, thường chỉ cười khi Hạ Liên Thành khoe mưu mẹo làm ăn.
Đi suốt một tháng, tình cảm thân thiết như anh em.
Đến Bến, Mạc Văn Lượng mời Hạ về nhà chơi, khoe, vợ ta dệt lùa đẹp lắm, đem bán được giá gấp đôi.
Quả nhiên, tấm lùa vợ mạc dệt hoa văn tinh tạo, theo uyên ương sóng động như thật.
Hạ Liên Thành mắc sáng lên. Ông bảo, anh cứ giao hàng cho tôi, tôi bán giúp, chia 5 năm.
Mạc Văn Lượng mừng lắm, cầm tay Hạ cảm ơn, và cái gợt đầu ấy đã định đoạt tất cả.
Một năm trôi qua, lùa của vợ chồng họ mạc ngày càng nổi tiếng.
Hạ Liên Thành bán hết lô này đến lô khác, nhưng lòng tham bắt đầu nảy mầm.
Ông ta nghĩ, sao mình chỉ được 5 phần? Công bán là công lớn nhất, lẽ ra phải 7, phải 8. Ông ta bày mưu.
Một hôm, ông nói với Mạc Văn Lượng rằng, có một thương nhân Tây Vực muốn mua toàn bộ lùa dệt uyên ương, với giá cao gấp 3.
Nhưng yêu cầu bí mật tuyệt đối, không được để lộ nguồn gốc.
Mạc Văn Lượng tin tưởng giao hết thảy thuyền lùa cho Hạ. Hạ Liên Thành lặng lẽ chở thuyền đi, bán hết lấy tiền, rồi biến mất.
Khi Mạc Văn Lượng vỡ nợ, không có tiền trả vốn lùa cho làng dệt, vì chủ nợ đánh đập. Hắn ta tìm Hạ Liên Thành khắp nơi không được.
Cuối cùng, đêm 30 Tết, vợ chồng họ mạc, ôm đứa con gái, cùng thắt cổ trong căn nhà trống rỗng.
Trước khi chết, người vợ cắn rứt cầm tấm lùa đỏ theo uyên ương, tấm đầu tiên nàng dệt làm của hội môn, nhỏ máu lên đôi chiên, thì thầm, trăm kiếp sau, kẻ mang ân thành oán, sẽ bị trói bằng chính sợi tơ này.
Việc ấy không ai biết. Hạ Liên Thành trốn vào Lạc Dương, lấy vợ giàu, sinh con, dùng số tiền đó làm vốn buôn bán phát đạt.
Ông ta có tài xóa sạch quá khứ, đổi cả tên họ.
20 năm sau, chẳng ai còn nhớ ở Bến Đông Khẩu, từng có một gia đình 3 người chết thảm.
Chỉ có điều lạ, đứa con trai đầu của Hạ Liên Thành, Hạ Lương, 2 tuổi, khỏe mạnh, ngoan ngoãn, bỗng nhiên một đêm lên cơn sốt, rồi chết không rõ nguyên do.
Đứa thứ hai, Hạ Vân, cũng 2 tuổi bị rắn cắn chết. Đứa thứ ba, Hạ Thạch, 2 tuổi, rơi từ lầu xuống, gãy cổ.
Hạ Liên Thành khóc đến mở mắt, vợ ông ta phát điên, la hét suốt ngày, máu nhà Hạ bị nguyên rồi.
Nhưng Hạ Liên Thành còn một đứa con trai của vợ bé, Hạ Bảo. Đứa bé khấu kính, thông minh hơn cả 3 anh trước.
Hạ Liên Thành nâng niu như nâng trứng, không rời nửa bước. Ông ta thuê thầy giỏi, mời đạo sĩ Trấn Yểm, đeo vùa hộ mạng cho con đầy mình.
Ông ta nghĩ, lần này sẽ không sao. Ta đã sám hối, đã làm nhiều việc thiền, nghiệp tươ ác tiêu tan.
Nhưng nhân quả không phải là món nợ, có thể trả bằng cách bố thí vài bát cơm.
Nó lặn lẹ, như sợi tơ, bệnh từng vòng quang cổ, chờ giây phút viết lại.
Hạ Bảo lên 18, khôi ngô tuấn tú. Một hôm, cậu đi vào phố, tình cờ thấy một cô gái bán tơ lụa bên đường.
Cô gái mặc áo lụa đỏ theo uyên ương, dung mạo thanh tú, mắt buồn như chưa nước thu.
Hạ Bảo đứng sửng, tim đập loạn, trong đầu chỉ có một ý nghĩ, phải cưới nàng bằng được.
Cậu chạy về thưa với cha. Hạ Liên Thành sai người đi hỏi, mới biết cô gái tên Mạc Thị Hương,
là một cô nhi, sống với bà nội già ở xóm nghèo, không cha mẹ, không họ hàng.
Nghe đến họ Mạc, mặt Hạ Liên Thành tái mét. Hạ Liên Thành rung lên, mồ hôi lạnh chảy dọc sóng lưng.
Ông ta nhìn thẳng con trai cưng, đôi mắt Hạ Bảo sáng rực như chưa từng có, mà lòng quặng thắt.
Họ Mạc, không thể nào trùng hợp như vậy được, ông tự trấn ác.
Nhưng cái tên ấy như mũi dao nhọn xoáy vào ký ức 30 năm trước,
bến Đông Khẩu, đêm 30 Tết, hài sát chết treo, và đưa con gái lên hay khóc đến khảng cổ,
rồi cũng tắt thở, ít nhất ông tưởng thế.
Ông ta lập tức sai người điều tra. Chỉ hai hôm sau, gia nhân về báo, Mạc Thị Hương năm nay, 22 tuổi,
sống với bà nội ở xóm chài, cha mẹ mất từ nhỏ, không ai biết rõ nguồn gốc.
Bà nội họ mạc và yếu, ăn sinh qua ngày.
Hạ Liên Thành thở vào, một nhà tàn rồi, không thể biết chuyện cũ.
Ông nghĩ, chỉ cần cấm con trai không lấy là xong.
Nhưng Hạ Bảo không nghe.
Cậu nói, thưa cha, con chưa từng yêu ai.
Gặp nàng, con mới biết thế nào là định mệnh.
Hạ Liên Thành dùng đủ mọi cách, dọa các quyền thừa kế,
nhúc con trong phòng, thậm chí định mua chuột bà nội của Hương để đưa cô đi nơi khác.
Nhưng Hạ Bảo trèo tường trốn ra, tìm đến xóm chài,
quỳ trước túp lều của Mạc Thị Hương, ba ngày ba đêm.
Cả lạc dương xôn tạo.
Người ta bảo, Hạ công tử si tình quá.
Con nhà giàu mà yêu cô gái ăn mầy, thật hiếm.
Có khen, có chê, nhưng đa phần đều thương cảm.
Mạc Thị Hương không nói lời nào, chỉ lặng lẽ dệt lùa bên khung cử.
Ngày thứ ba, khi Hạ Bảo kiệt sức, cô bước ra,
đặt lên tay cậu tấm lùa đỏ theo uyên ương, chính là mẫu hoa văn tưa cũ.
Cô nói nhỏ, bà nội dậy, ai cầm tấm lùa này mà thành tâm,
thì đó là người nạn dành cả đời.
Hạ Bảo bưng tấm lùa như bưng báu vật.
Cậu chạy về nhà, khóc lầy cha.
Con tin cha, nếu cha không cho con lấy nạn, con sẽ bỏ nhà ra đi.
Hạ liên thành nhìn tấm lùa đỏ, bỗng nhiên tay rung bắn.
Hoa văn uyên ương, đôi chim khâu bằng chỉ vàng,
mắt đính hạt cường, không thể nhầm.
Đây chính là lùa của vợ Mạc Văn Lượng ngày trước.
Ông ta chợt nhận ra một điều kinh khủng.
Nếu Mạc Thị Hương còn sống, vậy đứa con gái năm xưa đã không chết.
Linh tính mất bảo, ông ta không được để cuộc hôn nhân này xảy ra.
Nhưng làm thế nào để giải thích với con trai.
Nói rằng cha đã lừa đảo, hại chết cha mẹ nàng.
Nói rằng nàng đến để báo thù.
Ông ta cắn răng, nghĩ ra một kế, thay vì cấm, hay kiểm soát.
Ông đồng ý cho Hạ Bảo cưới Mạc Thị Hương.
Nhưng với điều kiện, nàng phải sống trong một quê phòng riêng,
không được ra ngoài, không được tiếp xúc với bất kỳ ai ngoài tới gái do ông ta chọn.
Hạ Bảo mừng rỡ chấp thuận, nghĩ đó là cách cha bảo vệ nàng khỏi thị phi.
Đám cưới cử hành linh định, nhưng không ai thấy cô dâu.
Mạc Thị Hương được đưa vào phòng the bằng kiệu kính, lùa đỏ che mặt.
Hạ Liên Thành đứng ngoài giám sát từng bước, tay nắm chặt tràn hạt trong tay áo, miệng lẩm bẩm niệm Phật.
Ba tháng trôi qua, Hạ Bảo sống trong men say tình ái.
Ngày đến bên vợ, Mạc Thị Hương hiền diệu, đảm đang, dệt lùa rất đẹp.
Nhưng có một điều lạ, cô không bao giờ nói về quá khứ,
không nhắc đến cha mẹ, chỉ cười buồn mỗi khi Hạ Bảo hỏi.
Tắm lùa đỏ theo uyên ương, cô vẫn giữ bên mình, thường đem ra ngắm nghĩa lúc nửa đêm.
Hạ Liên Thành cho người theo dõi, không thấy dấu hiệu gì bất thường.
Ông ta bắt đầu yên tâm.
Chỉ là trùng hợp thôi, ông tự nhủ, một đứa trẻ mồ côi, không biết gì.
Ta đã sám hối, làm biết bao việc thiền, chẳng lẽ trời chẳng lượng.
Rồi Hạ Bảo thưa với cha rằng, vợ mình có thay.
Hạ Liên Thành mừng rỡ, lập tức sai sửa soạn phòng đệ, mời bà đỡ giỏi nhất thành.
Ông nghĩ, chỉ cần đứa cháu ra đời khỏe mạnh, chứng tỏ lời nguyện đã tăng.
Con trai ta sẽ sống qua 20 tuổi, mọi chuyện tốt đẹp.
Nhưng niềm vui chẳng được bao lâu.
Một đêm, khi Hạ Bảo 20 tuổi tròn 2 tháng,
câu bỏng tỉnh giấc thấy vợ mình ngồi bên khung cửi, tay theo dở tắm lùa.
Ánh trăng lạnh lẽo hát qua khung cửa sổ, mặc thị hương mặc bộ y phục trắng, mái tóc xóa dài.
Cô cất tiếng hát, một bài hát ru bằng giọng khàng khàng, giai điệu cổ xưa.
Ngày xưa, có người qua sông, kẻ mang ơn thành kẻ trong nợ đời.
Trăm năm tơ kết thành lời, ai làm, ai chịu, ai thời loãng quên.
Hạ Bảo rùng mình, câu hỏi, nàng hát bài gì thế?
Mặc thị hương quay lại, mỉm cười, nụ cười lần đầu tiên khiến Hạ Bảo thấy lạnh sóng lưng.
Cô nói, bà nội dậy, bà bảo, bài hát này dành cho người họ hả?
Đêm Hạ Bảo đập mạnh, câu chưa kịp hỏi thêm, thì bụng mặc thị hương bỗng đau dữ dội.
Cô ôm bụng, mặt tái mét, chỉ kịp nói, em sắp sinh rồi.
Hạ Bảo hoảng hốt chạy đi gọi bà đỡ, gọi cha.
Cả nhà náo loạn, Hạ Liên Thành đứng ngoài phòng, nghe tiếng vỡ con trai rên rỉ, tay rung cầm cập.
Một canh giờ trôi qua, tiếng khóc trẻ con vang lên, yếu ớt, rồi tắt ngắm.
Bà đỡ chạy ra, mặt cắt không còn giọt máu, thư chủ nhà, đứa bé, không thở được.
Còn người mẹ, mất máu quá nhiều, e không qua khỏi.
Hạ Bảo gào khóc, xông vào phòng.
Cậu ôm vỡ, nước mắt nóng hổi rơi xuống gương mặt tái nhợt của mặc thị hương.
Cô mở mắt, yếu ớt đưa tay kéo tắm lụa đỏ theo uyên ương dưới gối, nhét vào tay Hạ Bảo.
Giọng cô như tiếng gió thoảng, chàng cầm lấy, sau này sẽ hiểu, tội của cha chàng, đến lúc trả rồi.
Rồi cô tắt thở.
Hạ Bảo ngẩn người.
Cậu nhìn tắm lụa đỏ, bỗng nhiên nhận ra một chi tiết kỳ lạ, dưới đôi uyên ương.
Có hai hàng chữ nhỏ được theo bằng chỉ trắng, mở đến nổi, chỉ khi đưa sát mắt mới thấy.
Nằm thứ hai, đời đường trinh quán, bên đông khẩu, mặt văn lượng, cùng vợ là mặc thị tẩn mình.
Con gái duy nhất tên mặc thị hương mây, nhờ bà nội cứu thoát.
Hạ Bảo sửng sờ.
Cậu vùng chạy ra ngoài, gặp Hạ Liên Thành đang đứng giữa cục, mặt tám như troi.
Cậu dơ tắm lụa lên, hỏi cha.
Cha, hãy nói cho con biết, cha đã làm gì với nhà hò mặt?
Hạ Liên Thành lùi lại, hai chân khuyều xuống.
Ông ta mở miệng, nhưng chỉ phát ra tiếng khô khóc như tiếng gỗ mục.
Hạ Liên Thành ngồi bệt, xuống nền đất lạnh.
Tay ông bám vào thành cục, móng tay cao rách cả lớp sơn.
Hạ Bảo đứng trước mặt cha, tắm lụa đỏ trên tay, bay phần Phật trong gió đêm.
Trong nhà vọng ra tiếng của bà đỡ và bọn gia nhân tỳ tạo.
Một mùi máu tanh nồng từ phòng trong sông ra, quyện với hương trầm đốt từ bàn thờ Phật trong giang chính.
Hạ Bảo gào lên, cha nói đi.
Chữ trên tắm lụa này là thật hay giả?
Cha có biết mặt thị hương là ai không?
Tại sao nàng lại nói câu cuối cùng ấy?
Tội của cha chẳng đến lúc trả, cha có tội gì?
Hạ Liên Thành rung rảy đưa tay bịp tay, nhưng giọng con trai vẫn xuyên thấu.
Ông ta lẩm bẩm, ta không cố ý, ta còn trẻ, lúc đó nghèo lắm, chỉ muốn có vốn làm ăn.
Giọng ông nhỏ giận, rồi vỡ hòa trong tiếng khóc nghẹn ngào của kẻ già nua đã mất hết.
Hạ Bảo lặng người, cậu thả tay, tắm lụa rơi xuống đất như cánh bướm gãy.
Cậu ngồi thập xuống trước mặt cha, đôi mắt đỏ hoe.
Vậy là, cha đã hại chết cha mẹ nàng ấy.
Để rồi con cưới nàng, con yêu nàng, con mang nàng về nhà kẻ thù của nàng.
Và nàng chết trong chính căn nhà này, sinh ra đứa con của con, kẻ mang dòng máu của kẻ giết cha mẹ nàng.
Hạ Liên Thành không đáp, chỉ khóc.
Nhưng trong cái khóc ấy, không phải sám hối, mà là sợ hãi.
Sợ hãi trước một chân lý đang hiện hiện, nhân quả không trừ ai, kể cả khi ông ta đã cố gắng trôn vùi nó suốt 30 năm.
Đúng lúc ấy, một bà lão gầy cầm chống gầy từ ngoài cổng bước vào.
Bà mặc áo nâu sợn, tóc bạc phơ, mắt đục nhưng sáng quắt.
Lũ da nhẫn ngăn lại, bà gạt tay họ như gạt rơm.
Bà đi thẳng vào, đến trước mặt Hạ Liên Thành, ngừng lại.
Hạ Bảo ngước nhìn, thấy bà lão dơ ngón tay khô đét, chỉ vào mặt cha mình, cất giọng khàng khàng.
Hạ Liên Thành, người còn nhận ra ta không?
Hạ Liên Thành ngẫn đầu, mặt cắt không còn giọt máu.
Môi ông mấp mấy, bà, bà là?
Ta là mẹ của mặt văn lượng, bà lão nói.
Từng chữ như búa bổ.
Ta là bà nội của mặt thị hương, đứa cháu gái mà ngươi vừa ép chết tối nay.
Không khí như đóng băng.
Hạ Bảo đứng bật dậy, cậu nhìn bà lão, rồi nhìn cha, rồi nhìn sát vợ trong phòng.
Tất cả họa vào một nỗi kinh hoàng không thể tả tiết.
Bà lão tiết hai mươi năm trước, ngươi lừa hết lùa của vợ chồng thằng mặt, khiến chúng nó phải tự vận.
Hôm ấy ta về làng muộn, chỉ kịp bế đứa cháu gái hai tuổi chạy thoát.
Ta nuôi nó, dạy nó dệt lùa, dạy nó bài hát ru của dòng họ.
Ta không dạy nó thù hận, vì ta nghĩ thù hận chỉ làm khổ mình.
Nhưng ta cũng dạy nó một điều, nợ cũ không ai trả thay.
Nhưng kẻ mắc nợ sẽ tự đến mà trả, bằng cách này hay cách khác.
Bà lão bước tới nhặt tấm lùa đó lên, phủi bùi tấm lùa này.
Năm đó, con dâu ta theo làm của hội môn.
Nó đã thấy cảnh vợ chồng thắt cổ, đã thấm máu của kẻ oan.
Ta giữ nó, đưa cho Hương, bảo nó.
Thế ai cầm tấm lùa này thành tâm, thì đó là người nợ nần của nhà ta.
Hạ bảo, con trai người đã cầm nó, đã cầu hôn, đã rước nó vào nhà.
Đó chẳng phải nhân quả ư.
Hạ bảo nghe đến đây, bỗng nhiên bật cười, một tiếng cười khô khóc, điên dại.
Cầu cười, rồi khóc, rồi lao vào phòng, ôm sát mặt thị Hương lên.
Gào lên một tiếng xé lòng, nàng biết.
Nàng biết từ đầu đúng không?
Nàng biết con là con trai kẻ thù.
Nhưng nàng vẫn lấy con, vẫn mang thai con, để chết dưới mái nhà này.
Nàng trả thù bằng cách ấy ư.
Bằng cách để con yêu nàng, rồi mất nàng, để con mang nợ máu thay cha.
Mặt thị Hương, tất nhiên không thể đáp.
Nhưng trong tay nàng, lúc này mới thấy, có một mảnh giấy nhỏ.
Hạ bảo mở ra, trên đó chỉ vẹn vẹn mấy chữ viết bằng mực đỏ, nét chữ rung rảy.
Thiếp không trả thù.
Thiếp chỉ trả lại nghiệp cho nhà chàng.
Tin chàng đừng hận thiếp. Hận là sợi tơ khác, đừng để nó trói chàng thêm.
Hạ bảo đọc xong, tay rung đến nỗi mảnh giấy rơi.
Cậu ngồi thử ra, mắt vô hồn.
Lúc này, bà lão chóng gậy đi ra phía cửa, quay lại nhìn Hạ Liên Thành đang co ro dưới đất.
Nói, ba đứa con trai trước của ngươi chết yếu, đó không phải lời nguyện.
Đó là nghiệp.
Nghiệp ấy không giết ngươi, vì để ngươi sống mà chứng kiến từng đứa con chết, từng đứa cháu mất.
Để ngươi thấy dòng họ mình tàn dần trong chính tay mình.
Đến hôm nay, con trai út của ngươi cũng đã chết rồi, không phải chết thân xác, mà chết trong tâm hồn.
Một người đã thấy vợ mình chết trong lúc sinh con của kẻ thù, thì còn gì để sống.
Bà lão dừng một lát, rồi nói thêm, ta không đến để báo thù, ta đến để chứng giám.
Nhân quả tự vận hành, không cần ai suý dục.
Nói xong, bà lão cúi đầu, lặng lẽ bước ra khỏi cửa.
Không ai dám ngăn.
Hạ Bảo vẫn ngồi ôm sát vợ, không nói, không khóc, đôi mắt khô khóc nhìn vào quảng không.
Hạ Liên Thành bò đến nắm lấy chân con trai, gọi tên nó, nhưng Hạ Bảo không đáp.
Cho đến rạng sáng, người ta thấy Hạ Bảo đặt vợ túng giường, cởi chiếc áo ngoài, khoát lên người nàng, rồi lặng lẽ đi ra sau vườn.
Sáng hôm sau, gia nhân tìm thấy Hạ Bảo đang ngồi dưới gốc cây hòe, tóc cắt ngắn, mặc áo vải thu, bên cạnh là túi vải và một cây gậy tre.
Cậu nói với cha, con đi. Con không trách cha, nhưng con không thể sống trong nhà này thêm một ngày nào nữa.
Mỗi viên gạch, mỗi tấm lụa ở đây đều thấm máu của vợ con. Con sẽ đi tu, cầu siêu cho nạn và đứa con chưa kịp chào đời.
Hạ Liên Thành quỳ xuống níu áo con, khóc lóc vang tinh, nhưng Hạ Bảo chỉ nhẹ nhàng gỡ tay cha ra, rồi bước đi, không ngoái đầu.
Hạ Liên Thành đứng dưới gốc cây hòe, nhìn theo bóng con trai khuất giận sau lạng chương sớm.
Ông đứng rất lâu, đến nổi chân tê cứng, người hầu phải dìu vào trong. Căn nhà rộng lớn, vỗng trở nên trống rộng lạ thường.
Vòng mặt thị hương vẫn còn nguyên khung cử, sợi tơ dở dang, bên cạnh là tấm lụa đỏ đã nhậu thác.
Đứa bé chết non được đem chôn sau vườn, chẳng có bia mộ, chỉ một nắm đất nhỏ.
Ba ngày sau, Hạ Liên Thành sai người đi tìm Hạ Bảo. Họ tìm khắp các chùa triền trong thành Lạc Dương, rồi mở rộng ra vùng ngoại ô, nhưng không thấy.
Có người nói thấy một thanh niên đầu cắt ngắn, mặc áo vải, đi về hướng nam.
Có người bảo thấy cậu vào rừng sâu, rồi tin tức đứt đoạn. Hạ Bảo biến mất như bọt nước.
Hạ Liên Thành ngồi trước bàn thờ, vật suốt ba ngày không ăn.
Ông mở két bạc, lấy ra một nửa tài sản, sai tay một ngôi chùa nhỏ, ở ngay mảnh đất sau vườn, nơi chồng đứa cháu chết non.
Ông mời sư về tụng kinh, làm lễ cầu siêu cho mặt thị hương, cho cha mẹ nạn, cho ba đứa con trai đã chết.
Nhưng đêm đến, ông vẫn nghe tiếng khóc trẻ con từ sau vườn.
Có khi là tiếng thòi đưa trên khung cửi, có khi là tiếng hát ru, mà ông từng nghe mặt thị hương hát đêm cuối.
Một bữa, ông gọi người hầu đem tất cả lùa trong kho ra đốt.
Hàng nghìn tấm lùa quý giá bốc cháy, khói đen bay lên trời, cả thành lạc dương, đều người thấy mùi tơi cháy.
Người ta bảo hạ thiện nhân phát điên rồi, vợ cá của ông đã mất từ lâu,
vợ lẻ bỏ về nhà mẹ đẹp, mang theo số vàng bạc, ông để dành.
Nhà cửa dần đổ nát, gỗ liêng bị mối mọt, mái ngói rêu phồng.
Rồi một hôm, có một nhà sư trẻ ghé qua.
Sư mặc áo nâu sờn, chân đất, tay cầm bình bát.
Sư đứng trước cổng nhà hạ, gõ mỏ.
Hạ Liên Thành lê bước ra, mắt mờ chân chậm, nhìn sư hồi lâu rồi bật khóc, bảo
Con trai ta, nhà sư không đáp, chỉ lặng lẽ đặt vào tay Hạ Liên Thành,
một sợi tơ lụa đỏ, rất nhỏ, chỉ bằng một đốt ngón tay, nhưng hoa vàng, uyên ương vẫn rõ.
Sư nói, vần tăng từ chùa Linh Vân ngoài thành phía nam.
Có người gửi vật này, bảo trao tận tay chủ nhân.
Người ấy nói, con đã tìm thấy con đường của mình.
Xin cha, đừng tìm con nữa. Hãy buông.
Hạ Liên Thành rung rung cầm sợi tơ.
Ông ngước lên định hỏi thêm, nhưng nhà sư đã quay lưng bước đi.
Ông gọi với, sư ở lại ăn bát cơm đã.
Sư không hoái lại, chỉ cất tiếng đáp vọng ra từ xa,
bận tăng ăn chay, không ăn của cái trộm cướp.
Hạ Liên Thành nghe câu ấy, hai chân khuyểu xuống,
miệng lắm bẩm, trộm cướp, ta là kẻ trộm cướp.
Rồi ông cười, cười rất to, rất dài, đến nỗi hàng tớm phải sang tên.
Từ hôm đó, Hạ Liên Thành mất trí.
Ông đi lang thang khắp phố, tay cầm sợi tơ đỏ,
miệng hát bài, hát ru, mà chỉ ông mới nghe thấy.
Có đứa bé nào nghịch ngợm chạy đến hỏi,
Ông Hạ ơi, sao ông hát buồn thế?
Ông chỉ cười, rồi khóc, rồi lắm bẩm,
một tấm lùa, ba mạng người, mười đời không hết.
Năm ấy, mùa đông đến sớm, rét đậm.
Một buổi sáng, người ta thấy Hạ Liên Thành nằm dưới gốc cây hòe trước nhà,
tay vẫn nắm chặt sợi tơ đỏ, mình phủ đầy tuyết.
Ông đã chết từ lúc nào không rõ.
Người qua đường thương tình, đáp cho ông manh chiếu rách,
đem chồn bên cạnh nắm mồ nhỏ sau vườn,
nơi chồn đứa bé chết non, nơi có ngôi chùa nhỏ tập tệ.
Chùa ấy về sau, không ai trồng nôm,
cửa gỗ mục nát, tượng Phật bông tróc sơn.
Nhưng có một điều lạ, mỗi đêm trăng sáng,
người dân quanh đó lại nghe thấy tiếng thoai đưa từ trong chùa vọng ra,
tiếng khóc trẻ con, tiếng người đàn ông khàng khàng hát một bài ca cổ.
Có người bảo đó là ma, có người bảo lại nhân quả chưa giết.
Nhưng già là Nguyễn, tên một cụ già trong xóm,
nói thế này chẳng phải ma quỷ gì đâu.
Đó là tiếng vọng của một món nợ chưa trả hết.
Khi nào trong thiên hạ, không còn kẻ tham lam lừa lọc,
khi nào có người biết sợ trời biết sợ người,
thì tiếng thoai ấy mới thôi.
Rồi cụ già ấy thở dài, nhìn ra tâm.
Người đời thường hỏi, sao cha làm ác mà con phải chịu.
Nhân quả chẳng lẽ bất công.
Nhưng nào ai hay, cái khổ của con
chính là cái nhói đau đớn nhất của cha.
Trời không giết hạ liên thành,
trời để ông sống và chứng kiến từng đứa con lần lượt chết,
để ông thấy con trai út phải bỏ nhà đi tu,
để ông chết trong cô quả và điên loạn.
Còn hơn giết không?
Có những món nợ tưởng đã chôn vùi theo thời gian,
nhưng thật ra, chỉ đang đổi cách quay lại.
Không phải lúc nào, người gây ra cũng là người trực tiếp gánh chịu,
mà là người họ thương nhất.
Có những sai lầm, dù sau này làm bao nhiêu điều tốt,
cũng không thể thoá sạch hoàn toàn.
Nhân quả không vội, nhưng cũng không quên.
Đến khi nó tới, thường là lúc con người không còn đường để sửa nữa.
Nếu một ngày bạn đứng trước một lựa chọn tưởng chừng không ai biết,
hãy nhớ, có những thứ không cần ai nhìn thấy,
vẫn sẽ quay lại với bạn.
Câu chuyện về hạ liên thành, về tấm lụa đỏ theo uyên ương,
xin khép lại ở đây.
Nhân quả không phải một mũi tên bắn thẳng,
mà là sợi tơ bệnh vọng,
có thể bệnh chặt, có thể cắt đứt,
nhưng vết cắt vẫn để lại sẹo.
Ai gieo nhân nào, gặp quả ấy,
có khi sớm, có khi muộn,
có khi không phải mình gánh,
mà là người mình thương nhất.
Quý vị nghĩ sao về chuyện này?
Có bao giờ quý vị chứng kiến một việc làm tưởng nhỏ,
nhưng hệ lụy kéo dài?
Hoặc có khi nào quý vị tự hỏi,
liệu những điều mình đang gặp phải hôm nay,
có liên quan đến quá khứ xa tôi?
Hãy để lại suy nghĩ của mình dưới phần bình luận nhé.
Nếu quý vị thấy câu chuyện này có ý nghĩa,
xin hãy like, subscribe và bấm chuông
để theo dõi những câu chuyện nhân quả kỳ thú tiếp theo.
Đừng quên chia sẻ cho bạn bè và người thân biết đâu
một câu chuyện có thể thức tỉnh một tâm hồn.
Xin cảm ơn quý vị đã lắng nghe.
