Bích Câu Kỳ Ngộ - P3/3

Kẻ Học Trò
775 Người theo dõi
25 Lượt xem video·10 thg 7, 2026
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIThis story follows the transcendental love between the scholar Tú Uyên and a celestial fairy. After enduring a painful separation and overcoming earthly desires, Tú Uyên embraces a path of spiritual cultivation. Together with his family, he ascends to the celestial realm, leaving behind a legacy of divine love and enlightenment that inspires future generations.
Từ khi lễ đền về, trước mươi hôm, non tiên gan tức, không thấy tâm hơi, thường khi trước đèn dưới trăng, đối cảnh sinh tình, nồng nỗi chàng được tỏ ra trong các bài thơ, tự điệu ai oán, tiếc không thể chép hết được.
Sau đây, chỉ thuộc lại dâm ba bài để cho thức giả xem.
Đáo bạch mã từ tiền, hồi hậu cảm tác, kỳ nhất.
Thôi sầu thiên ngoại, lạc cương phong, suy đoạn tình duyên nhất tuý trung.
Lục giả vị cam tiêu tục lử, Thái Loan tất cánh phụ kỳ phùng.
Đồng tâm la đới do hương dị, Tế ngữ sa trù, uyển ngọc dung, Đào động bồng sông kim vàng lý, Thử sinh hà xứ, hữu tương phùng.
Ngộ bả phù sinh lục tuý hương, Thương tâm để sự nại hà nương.
Kiều tà ngân hán tam canh đoạn, Thủy cách bồng lai, nhất lộ trường.
Khởi vị trình kỳ hoàng trích gián, Giả ưng kế khoác liệu điên cuồng.
Trung tổng túng hữu khai dương lệ, Bất nhãn tiền duyên, đạo nhất trường.
Kim lô hương lạnh lệ ngân tiêu, Cô quán phong thanh bàn tịch lưu.
Nhân thế sầu lai tuyền lộ cận, Thần tiên hứng khứ ngọc kinh giao.
Tam sinh hốt giác vô phong mộng, Thất tịch tư liêng chức nữ kiều.
Ai tố khả lân cô yến tài, Lương gian mộ mộ, cánh triêu triêu.
Kỳ cửu
Thủy dư phong phát biến đường lê, Muộn ý vân lang khước lãng đề.
Thường uyển thu hồi thương nhạc quá, Vũ lang xuân tận, tốt oanh đề.
Tâm tiêu bất đải thuần bôi nhiệt, Cốt sấu năng kham vạn ký thê.
Chủng chủng u sầu thôi vị kiệt, Mộ trung thanh đoạn, hữu thần kê.
Kỳ thập
Tương thân tương ái mạc tương quyên, Tàng diễn dương niên chúc nhị ngôn,
Vãn sự nhất trường dai mộng lý, Khát hoài cá nguyệt, mũi vân biên.
Lương trần túng cách kim sinh hận, Bách ước tu đề tái thế duyên.
Phó giữa tam thanh lai hạt giá, Đăng tiền tố thử, đoạn trường thiên.
Nghĩa là
Thơ làm sao khi cúng khấn, Ở đền bạch mã ra về.
Bài thứ nhất
Cơn buồn bã ngoài trời gió dục, Dứt tơ tình trong lúc la đà.
Lòng trần còn nặng vị hoa, Duyên tiên may mắn sao mà dở gian.
Giái đồng còn đượm mùi tương, Cửa không còn bóng kiểu nương ra vào.
Sông xa ta cách động đào, Kiếp đẩy biết có nơi nào gặp nhau.
Bài thứ hai
Phù sinh trót vị sai nhầm, Tính làm sao nổi thương tâm hởi nàng.
Sông ngân nhớ dịp cầu ngang, Non bồng cách trở dặm đàn xa xôi.
Đọa đày dù hết hạn rồi, Thì đem lời hẹn làm mồi thuốc tiên.
Trùng phùng bằng có nhân duyên, Ngậm ngùi không nở thang phiền cùng ai.
Bài thứ tám
Hương tàn giọt ngọc nhỏ tuông, Quán trơ hiêu quạnh gió luồng thổi qua.
Người buồn những muốn gần ma, Thần tiên vui thú cách xa non bồng.
Núi vu trật tỉnh giấc nồng, Mong sao nối kịp cầu sông ngân hà.
Lẻ loi con em rang ca, Sớm chiều trên quảng rường nhà thương thay.
Bài thứ chính
Thất giấc dậy nghe cây gào gió, Biến ngâm thơ vỏ vỏ mình ngồi.
Nhạc về hầu hết thu rồi, Oanh già sẽ lại lần hồi xuân qua.
Ruột nóng chẳng lo là rượu dội, Xuân gầy không chịu nổi rương pha.
Mối tình đòi đoạn xót xa, Hồi chuông chiều vắng, tiếng gà canh khuya.
Bài 16
Yêu nhau đừng vội xa nhau, Giấy tay còn nhớ những câu ngày nào.
Việc qua như giấc chim bao, Bên trời mong đợi luôn khao khát lòng.
Nay dù cách mối tình chung, Kiếp sau để chữ tương phùng làm duyên.
Giám viên cánh hạt động tiên, Trước đèn gửi tới một tiên đoạn trường.
Mỗi khi làm thơ xong, Chàng ngâm vịnh hai ba lần, Khóc nứt nở, Không bao lâu thành bệnh.
Hà Lan thương xót đưa thuốc men đến cho chàng, Sợ chàng vì nhớ nàng, Lỡ hại đến tính mạng.
Hà khuyên giải nhiều đường vẫn không được, Hà mới nói bịa ra rằng,
Ôi bác lầm đã lâu rồi. Chàng hỏi, Sao thế?
Hà Lan nói, Trước kia bác bại thần tiên, Sau khi gặp gỡ ở chùa Ngọc Hồ,
Bác mới tin là hám muốn, Khiến cho ba quỷ nhân đó đến tác quái.
Nếu không biết liệu sớm, Tất sẽ mắc họa phi thường.
Và lại đêm hôm qua, Vào khoảng canh ba, tôi ở phòng sách,
Đọc sách mệt rồi tựa gối ngủ, Mộng thấy con lão hồ tinh quanh quẩn ở bên cạnh bác.
Hút hết cả huyết tuổi, Lại bác quá phiền bị bệnh,
Tức là hồ tinh hóa phép làm ra những sự quái gỡ, Để mê hoạt lòng người.
Nó muốn dùng bác làm như ý quân đó, Tôi xin bác tự trọng tấm thân,
Đừng mê hoạt vào cái yêu quái hoang nguyệt Để tổn hại cả chí khí bình sinh.
Chàng nói, Sống chết có mệnh trời, Mộng mỹ không lấy gì làm bằng cứ.
Tôi có chút thông minh, Người quân tử há lẽ sống ở đời không có ý nghĩa.
Và lại, Nương tử tôi thái độ khác cường, Trinh thuần hơn ai.
Những công việc chỗ buồn thê, Đời nay ít người làm được như thế.
Từ khi đẹp duyên đôi lứa, Tôi được tinh thần thư sản,
Thân thể nhẹ nhàng như sinh lông mọc cánh, Nếu phải là yêu quái sao tôi còn được ở đây?
Hà Lan nói, Quý nương nếu là thiên tiên, Nay đi lâu rồi ân ái đã tuyệt.
Bác có tài như Lý Đỗ, Há lẽ không sánh đôi được như người Tạ Chu hay sao?
Giai đàn đất rồi lại nói là lẽ thường, Việc gì mà khổ như thế?
Phương Chi thể phách tôn nghiên, Để lại chỉ có một mình bác,
Há lẽ vì tình chăn gối mà hại đến nghiệp cơ cường?
Chàng nói, Tôi không phải không nghĩ, Nhưng cái tình đầm thấm, cái chí cảm thông,
Không làm sao quên đi được. Vạn nhất trưng công thất vọng,
Tổ thị không trở về, Tôi cũng không nở lấy người khác.
Hà Lan không nói loạt tai, Vậy áo đứng lên đi,
Tú Yên nhớ đến câu thơ cổ, Ninh nhỉ tử tương kiến,
Bất nhẫn sinh biệt ly. Nghĩa là, Thà rằng chết gặp mặt,
Không nở sống biệt ly. Chàng than rằng,
Câu thơ này chính là cảnh ngộ của ta ngày nay đó.
Nói rồi, Lấy dạy khăn lùa của nàng để lại từ trước,
Vẫn bác ở xa nhà xuống, định tự tử.
Chợt thấy một trận gió thoảng đưa hương thơm đến,
Ngày trước cửa sổ, Thấy rơi xuống một chuỗi hoa,
Chàng bồi vàng ra xem, Thấy hai thị nữ dìu nàng đến,
Chàng vừa thương vừa mừng ôm lấy nàng khóc,
Nói rằng, Nếu hôm nay đường tử không đến,
Đường tử sẽ tìm thấy tôi ở nơi chính suối.
Nàng nói, Thì vẫn ở đây, Không bao giờ để chàng đến nỗi thế,
Khi biệt ly, Đi mười bước, Có đến chính lần quay đầu lại,
Nhưng không đi thì không cảm động được lòng chàng,
Để mà căng dáng chàng, Chàng thực sự là người cao nghĩa,
Nghe những tình ý trong thơ tử, Câu nào cũng là sắc đá,
Thế bụng già nào lại nở vội bỏ mà đi?
Chàng nói, Việc trước đã qua không làm sao được nữa,
Việc sau sắp tới vẫn có thể theo dõi được,
Từ nay về sau, Sinh theo như ý của nàng,
Bèn làm thơ để yên ủi nhau,
Nhất tự vân dai trở ngọc nhang, Hồi đầu bất nhẫn đối hoa khang,
Mũi thương hóa kiếm chung nang hợp, Khởi ý di châu, hữu tái hoàng,
Tác hận khinh tùy kim giả vốn,
Tân minh trùng chí cựu thời sang,
Ký ngôn đại thượng tư thiên khách,
Mạc bã canh trù, hoang lậu càng,
Nghĩa lạ, Từ khi mặt ngọc cách xa,
Một mình sao nở xem hoa vui vầy,
Trảnh nhiệm gương hóa rồng bay,
Ngờ đâu hợp phố, Châu nay lại về,
Trận mưa rửa sạch hờn xưa,
Chỉ non xanh nối lời thề từ đây,
Nhắn người giữ thể đêm nay,
Trống canh sinh chớ đổi thay vội vàng,
Nàng hỏa lại để yên úi chàng,
Thiều thiều nhất giả lưỡng bi hoang,
Bã cựu tân tử thức lệ khang,
Thiên cổ tổng lai tình nghị trọng,
Nhất triêu phản tác biệt ly nang,
Phúc lưu tử cổ thu ưng hẳn,
Minh kính như kim phá phục hoàng,
Tổng thử vĩnh hại loan vững lử,
Nhậm tương hảo tứ tục quang quang,
Nghĩa là,
Đêm nay vừa tẻ vừa vui,
Thơ tự mới cổ ngập người xem qua,
Nghìn năm tình nặng chúng ta,
Chưa phôi nở để xảy ra một ngày,
Bát nước đổ, bốc khôn đầy,
Mảnh gương hậu vỡ,
Mừng nay lại lành,
Phượng loan kết bạn trung tình,
Thơ quang quang cổ chúng mình nối theo,
Từ đó tình ái ngày càng khăn khích,
Việc gì phải làm cũng thuận theo,
Ở với nhau được một năm,
Sinh hạ con trai đặc tên là Trân,
Khi ấy chẳng nghĩ đến việc thi cử,
Chăm chỉ học hành,
Suốt đêm không lúc nào trễ nảy,
Nàng nói,
Danh phận tuy là trọng,
Nhưng trần tuộc cũng đáng kinh,
Đại đế người ta sinh ra ở khoảng trời đất,
Chỉ là bốn chất, đất, gió, nước, lửa,
Giá hợp lại mà thành,
Trên không bám vào cây nào,
Dưới không có gốc rễ nào giữ lại,
Bóng quang âm trôi qua vùng vục,
Sinh ra rồi lại chết đi,
Ví như bọt nước,
Sương ở đầu ngọn cỏ,
Chốc lại thành không,
Chàng chẳng thấy đáy ư,
Từ muôn thuở tới đây,
Non sông có đứng vững ở chỗ nào,
Dầu sang có quy hẳn vào chỗ nào,
Từ héo nổi chìm,
Nhìn hình muôn trạng,
Nếu thân danh có hơn đời,
Tài khí có hơn người,
Tâm trí được thỏa mãn,
Cao chẳng qua sống được bảy tám mươi năm,
Thấp chẳng qua sống được năm sáu mươi tuổi,
Tùy những buổi công danh ít gặp,
Đầu tóc vàng phút chót mây xanh,
Nhưng trong khi năm tháng đưa thôi,
Má hơi đỏ bổng dưng tóc bạc,
Khoảng đời phú quý trăm năm trên cõi trần,
Cũng chỉ bằng cảnh thanh nhàn một ngày đêm trên cõi tiên,
Người đời không biết,
Sát thân làm mộng,
Nắm chặt lấy khối thịt túi da,
Nhận là của ta,
So sánh ván dại,
Phân tách sống mái,
Đầu có biết thương thân lao tứ,
Đều là con đường bại thân,
Hàm sướng mãi vui,
Cũng chỉ trong lò hồng tiêu mạng,
Trước mắt kia,
Đền đại mây mốc,
Lộng lẫy nguy nga,
Xưa nay cũng đã biến hình còn đâu,
Ngoài vùng núi động hang vàng,
Thừa thải trước sau,
Cũng chỉ còn trơ gò đất,
Cơ sao muôn vạt từ xưa đến nay đâu cả,
Những bậc anh hùng trước kia,
Ngày nay đâu cả,
Vả lại khi buồn khi vui,
Khi tan khi hợp là sự thường của người đời,
Trong thời tuổi xanh,
Chính chàng đã lịch duyệt cả,
Kể có câu rằng,
Nhân sinh như điểu đồng lâm túc,
Đại hạng lai thì cát tự phi,
Nghĩa là,
Người như chim đậu cùng rừng,
Đến khi đại hạng liệu chừng bay đi,
Đến thế thì,
Dù có xe đẹp ngựa tốt,
Có thể dùng mãi trong cạnh giới ngắn ngũi vội vã
Của người đời được không?
Không gì bằng,
Dứt bỏ bảy tính,
Tẩy trừ sáu dục,
Sớm chơi nơi ba bồng đảo,
Chịu lên chỗ chính tầng trời,
Hương gió trăng chốn non bồng,
Rửa trần ai nơi nước nhược,
Trời đất xuân không lão,
Vui sướng chừng nào,
Ngày tháng bổng thêm dài,
Phong quan vô hạn,
Xin chàng nghĩ kỹ,
Để ta thoát khỏi vòng trần,
Chàng nghe nói hình như có vẻ ngừng ngại,
Nàng tiếc,
Tất cả cái mà người đời cho là việc khó làm,
Chỉ có trên thờ cha mẹ,
Dưới nuôi vợ con,
Là có quyến luyến hệ lụy đó thôi,
Nay chàng đã không có hệ lụy thân quyến,
Thiếp cũng không có cầu cạnh dầu sang,
Sao lại lấy sự bô suyết,
Của đời người mà tự buộc tấm thân vào trong vòng khổ não,
Chàng nghe nói,
Tỉnh ngộ ngay và nói,
Nếu không có nàng chỉ rõ nẻo mê,
Dẫn vào đường giác,
Thì đời tôi sẽ rơi vào cái lưới của trần gian,
Nhưng đạo tiên có thể học được à?
Nàng nói,
Lấy đạo cầu tiên,
Tiên cũng rất dễ,
Cốt ở sự tu trị của ta thế nào đó thôi,
Phường trì tên chàng đã có
Trong sổ các tiên,
Lại có thiếp biến hóa,
Thật không lấy gì làm khó,
Nhưng chàng hỏi đến phép thuật,
Nàng trao cho một bí quyết,
Chàng liền dò tìm lĩnh hội,
Nhận việc đã qua,
Biết việc sẽ đến,
Thông lễ huyền diệu đến chỗ nhịm màu,
Hàng long phục hổ khung lượng cơ thần,
Rút đất cưới mây,
Tỏa ra tay pháp,
Một hôm mây móc bệnh quấn ngay giữa sân nhà,
Trong đám mây ấy có một hạt trắng ngậm thư bay xuống,
Chàng cùng con là Trân,
Và Gián Kiệu đều cưới hạt bay đi,
Không biết đi đâu,
Sau Hà Lan từ chỗ làm quang xa
Đến thăm chàng,
Khi đến nơi thì đầy thềm rêu phủ,
Cây cỏ oanh keo,
Hỏi người hàng xóm đều bảo là
Nhà ấy cửa đóng đã một năm,
Hà Lan cho là trần công đắc đạo,
Mới đem nói chuyện cùng mọi người,
Không ai không chép miệng khen là kỳ dự,
Sau có người Phường Bích Câu
Chơi thuyền ở Hồ Tây,
Ban đêm được gặp trần công,
Nhận biết được tường tận,
Cùng với lời nói của Hà Lan không sai,
Từ đó câu chuyện truyền đi khắp kinh thành
Ai cũng biết,
Sau khi chàng Tú Uyên đã bỏ nhà cũ,
Trải bao năm tháng vườn hoa tường liễu,
Phong vật y nguyên,
Người ngoài vào chơi cảm thấy hương khí đầy nhà,
Đêm đến thường có tiếng thiên nhạc,
Người ta đều cho là thần,
Cầu đảo thấy linh ứng,
Một hôm có một con chim to
Từ phương Tây Nam bay lại,
Đổ ở trên nóc nhà,
Một lát lại trông thấy mây bay đi,
Thả xuống một tờ giấy có sơn đỏ,
Đề rằng,
Đăng tiên hậu cảm tác,
Ly hợp nhân gia nhất đại khối,
Linh chi dĩ hoáng tục cân hài,
Ngọc kinh phong nguyệt thường xuân sắc,
Bối quyết yên hoa,
Ngoại vọng đôi,
Đắc đạo đống cư hoa cái đồng,
Sinh thân kim tác ngọc tinh khôi,
Phân phân phụ thế vô nhân thức,
Đáng nhật chiêu nguyên,
Nghĩa là, sau khi lên tiên,
Vườn to tan hợp một nhà,
Hình hài thế tục đổi là linh huân,
Cùng tiên giăng gió thương xuân,
Khói hoa đế nguyệt trong ngần nơi xa,
Tu đắc đạo ở hoa cái đồng,
Tấm thân này là giống ngọc kinh,
Đời người ai kẻ biết mình,
Ngày nguyên đáng,
Chim hạt hiện hình lại đây,
Thức giả nói,
Đây là trần tiên sinh đắc đạo thành tiên,
Nay lại về đó,
Người trong vườn càng cho là lạ,
Lập đền qua năm hương lửa phụng thờ,
Nay chùa An Quốc,
Chính là di tích còn lại,
Niên hiệu vĩnh hữu năm thứ nhất,
Năm 1735,
Có một người tú tài ở Nam Châu,
Vì đi thi, đem đến cầu mộng,
Người tú tài cầu mộng thấy,
Có người lại dẫn đến một nơi,
Cửa vân gác lộ rất là lộng lẫy,
Bốn mặt toàn thủy tinh,
Trong bức rèm treo có đặt một tấm bình phong vân mẫu,
Có màng vóc theo, hương thơm sực nước,
Choáng ván cả mắt,
Người tú tài tệ chỉnh đi vào,
Thấy có một vị đầu đội mũ vân hồng,
Mình mặc áo vàng sẫm,
Ngồi ở phía trong bình phong,
Bên chỗ ngồi ấy,
Có các cô gái đẹp trẻ tuổi,
Và đồng tử thị nhi,
Đứng chung quanh tả hữu,
Người cầm cây quạt che cáng bằng vàng,
Người cầm đôi giày theo cánh chim túy,
Người bưng trăm ngọc,
Người cầm lọng hoa,
Oai vệ như một vị đế vương,
Một lát, nghe thấy có tiếng ở trên đền nói cho ngồi,
Rồi bảo rằng,
Chàng có biết sở dĩ tìm chàng đến đây có ý gì không?
Người tú tài thưa,
Tôi là tiển sĩ giang hồ,
Niềm tục dế mê,
Nay bước chân đến trốn giao cung,
Thật là ba sinh có duyên may mắn,
Nhưng không biết đây là nơi nào,
Và quý nhân tìm tôi đến có ý gì?
Vị ấy bảo,
Đây là cung tử Thanh,
Ở trên tầng trời,
Cách nhân gian tám mươi vạn dặm,
Nếu không có duyên xưa sao đến đây được?
Vì chàng cao tài hậu nghĩa,
Ta muốn đem một việc nhờ chàng
Truyền lại ở Trần Thế đó thôi,
Nhân kể lại lịch trước sau
Và bảo người tú tài rằng,
Ta là Trần Tú Uyên,
Tự vươu bang,
Sống vào đời vua Thánh Tông nhà Lê,
Người ở phường Bích Câu, huyện Quảng Đức,
Vì tổ tiên ta có âm đức,
Nên được Thượng Đế thương tuổi trẻ cơ bẩn,
Người sai một nàng tiên xuống Trần để sánh đôi,
Tình ân ái cung kính lẫn nhau,
Vào khoảng nửa chừng,
Tuy ta có vị uống rượu xui,
Nên tạm thời chia rẽ,
Nhưng lại đoàn tụ như xưa,
Đút hoa lại sáng,
Gương ngọc lại tròn,
Ở với nhau được một năm sinh con trai tên là Trần,
Sau văn mệnh Đức Thượng Đế,
Cũng lên ở cung tiên,
Giữa việc sớ tấu,
Này tiêu giao tiên phủ,
Theo dõi trên trời không lạc xuống,
Cõi trần gian dâu bể nữa,
Không ngờ ngu dân hạ giới,
Quen thói khinh bạc,
Muốn đặt ra những lời dối trá hảo huyền,
Cho vợ chồng ta là kẻ thù của giới tiên,
Lại truyền nói với nhau rằng,
Do ta uống rượu sinh điên cuồn,
Thường phạm đến nương tử,
Gây thành oan trái,
Cho nên Thượng Đế nghỉ sử,
Chú Yên này kiếp sau đầu thai,
Ở phường An Hoa, huyện Quảng Đức,
Làm con gái nhà tiểu dân họ Nguyễn,
Nương tử thì thân sau đầu thai
Ở phường Kim Hoa, huyện Thọ Xương,
Làm con trai quan thượng Thư Hòa Trần,
Đảo đi đảo lại chồng làm vợ,
Vợ làm chồng để báo phục lẫn nhau,
Những lời giềm pha theo dịch như thế
Không có bằng chứng gì,
Để cho người đời cái bia miệng nói liều,
Thậm chí viết ra cả chữ,
Như câu,
Khả lân sân hỏa khởi, tiện bả ai lâm thiêu,
Nghĩa là,
Đáng thương lửa nóng bùng lên vội,
Đem cả rừng yêu nọ đốt đi,
Lại có kẻ nói,
Tảo tri hương hỏa hôi duyên lạnh,
Hận bất di tương túi tịch phần,
Chí kim phòng vũ hộ trung lãng,
Do vị tiên thù khởi nộ sân,
Nếu viết sớm lửa duyên lành bút,
Sao sổ say không đốt ra trò,
Đến nay mưa gió giữa hồ,
Còn vị câu chuyện tiên thù sinh sân,
Những loại như thế kể ra không thiết,
Ôi văn chương thông cảm tạo hóa,
Sĩ quân tử cầm bút viết,
Nói ra lời nếu muốn
Truyền chép chuyện này,
Hã không có lời lẽ khói hoạt,
Việc gì phải dèm pha đến chỗ cao minh,
Chế cả thượng giới,
Cầu đế mê hoạt người đời,
Chỉ là mình lại dối mình,
Vã lại việc xưa không có mà nay bị ra làm có,
Đắc tội với cổ nhân nhiều lắm,
Chàng đường mới rộng rãi,
Nay sắp đến lúc đắc chí,
Việc vui của nhân thế tất được hưởng trước người ta,
Ngày khác sẽ cùng ta ngao du,
Nay may mắn tới đây,
Xin giải tỏ đôi lời,
Đế vì đời mà giải những mê hoạt,
Đừng đế cho ngọc vết trắng,
Trong đám mây xanh phải đeo những vết xấu,
Như tiếng rụi tiếng nhặn,
Người tú tài nghe nói,
Đáp lời dạ dạ,
Nhận hỏi đến tiền trình,
Vì ấy bảo đến ngày khác sẽ biết,
Cờ vi của tạo hóa không thể tiết lộ được,
Nói xong,
Vì ấy truyền lệnh cho ăn yến rồi tiến về,
Người tú tài bái từ mà ra,
Khi tỉnh dậy,
Đem việc ấy hỏi những sư ở các chùa,
Bây giờ có một nhà sư họ Bùi,
Vân sắc điệp nhà vua,
Ở chùa An Quốc đã trải ba đời,
Có thể nói chuyện được những việc từ đời Hồng Đức,
Năm 1470,
1497,
Đều hợp với chuyện trong mộng,
Bèn đêm chép ra chuyện này.
