1.000 Năm Trước Thần Nhân Đã Tiên Tri Về 2026: Lời Cảnh Báo Không Ai Được Bỏ Qua!

Giải Đáp Tâm Linh
82 Người theo dõi
60 Lượt xem video·13 thg 7, 2026
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tại sao vào đầu năm 2026, tất cả các nhà tiên tri trên toàn thế giới đều không hẹn,
hoặc còn cảnh báo đây là năm khởi đầu của đại họa toàn cầu?
Rất nhiều người sẽ ra đi thảm khốc trong kỳ thanh lọc phát hiện này.
Câu sấm rợn người ấy đã nhanh chóng đang truyền khắp cõi mạng.
Nhưng ít ai biết được nguồn gốc thực sự của luận đoán về năm 2026.
Lại đến từ một tác phẩm được viết cách đây gần 1.000 năm
bởi nhà tiên tri lỗi lạc, thần toán tử Hiệu ùng,
tác giả của bộ sách tiên tri Hoàng Cực Kinh Thế.
Đây là cuốn sấm thư kết hợp giữa kinh dịch, triết học toán, thiên văn
và các học thuật huyền học để mô tả các quy luận biến hóa của vũ trụ,
trời đất và con người theo nguyên lý âm chưa ngủ hành.
Nó đã tiên tri chính xác đến từng chi tiết, sự thịnh suy của các triều đại,
khủng hoảng kinh tế thế giới cho đến hai cuộc thế chiến.
Và đặc biệt nhất là nói về các sự kiện sẽ xảy ra vào thời mặt kiếp tận thế.
Vậy rốt cuộc, năm 2026 theo Hoàng Cực Kinh Thế thực sự là năm như thế nào?
Quể năm 2026 sẽ nói lên điều gì?
Cử tử ly hỏa vận là thật hay chỉ là trào lưu mạng?
Và quan trọng hơn, bạn thuộc nhóm người sắp than hoa hay nhóm người cần phải cẩn thận?
Tất cả sẽ được giải đáp trong tập này.
Xin chào quý vị và các bạn, mình là Ngọc Vy.
Chào mừng mọi người đến với kênh Giải Đáp Tâm Linh.
Quý vị và các bạn có biết không?
Vào mùa đông năm Hoàng hữu thứ tư thời Bắc Tống tức năm 1952,
trong một vườn ma giữa lòng Lạc Dương, một nhóm đại thần quyền quý đang thượng hoa.
Trong đám quạt lớn ấy có đương triệu tể tướng Phú Bật, nhà sử học và là nhà văn học lần danh Tư Mã Quang,
người sau này đã biên soạn bộ thông xử biên niên đầu tiên của Trung Quốc, mang tên là Tư Trị Thông Giám.
Thế như dù đứng giữa bao nhiêu quan cao hiển quý,
người thu hút mọi án nhìn nhất lại là một ông lão đi dép rơm chống nghệ trúc,
tay sách bầu rượu, ông ăn mặc tự do, phóng khoáng,
không câu nệ lễ nghi nhưng ký chất vi phạm, phong thái thì đỉnh đạt.
Và chính những vị đại thần kia lại bao vây ông như những vì sao tụ quanh mặt trăng.
Đang dọn bước chiến góc mai, mọi người nhìn lên thấy hai con chim sẻ đang tràn nhau một cành hoa,
rồi cả đôi cùng rơi xuống đất.
Vị khách phong trần đó nhìn thấy cành ấy rồi thủng thẳng nói,
không có biến cố thì không khởi quẻ, không có việc cần chim thì không khởi quẻ,
nhưng hôm nay hai con chim sẻ tranh giành cành mai mà cùng rơi xuống,
thật là kỳ lạ, vậy ta sẽ khởi một quẻ.
Nói rồi, ông bắt đầu tính toán thầm trong miệng.
Năm nay là năm thịnh, trong 12 địa chi thịnh đứng thứ năm.
Hôm nay là ngày 17 tháng 12, giờ sinh số 90, cộng các con số lại.
Xong rồi, ông phán rằng, đêm mai sẽ có một thiếu nữ đến đây trộm hái hoa mai.
Bị người giữ vườn phát hiện, hoảng loạn bỏ chạy rồi phát ngã tại chỗ này.
Nhưng không có gì nguy hiểm, chỉ bị trầy đồ gối thôi.
Cả đám quan lớn hã hốc miệng, đây đâu phải khởi quẻ nữa,
đây là xem video tu lại từ tương lai còn hơn.
Và điều kỳ diệu là ngày hôm sau, mọi chuyện đã xảy ra y chang từng chữ.
Sau đó, các quan lại lần lượt đến bái phỏng vị tiên sinh thưa rằng,
từ xưa đến nay, người ta vẫn dùng quy giáp thi thảo để khởi quẻ.
Phép chiêm bói của ngài là lần đầu tiên chúng tôi được nghe.
Xin hỏi tên gọi là gì?
Việc cao nhân thông dông đáp, việc khởi quẻ từ hoa mai mà ra,
vậy ta gọi là quẻ mai hoa vậy.
Câu chuyện này được ghi lại trong chương đầu của bộ.
Mai hoa dịch số và nhân vật chính trong đó chính là Thiều Ún,
triết gia y học gia, lý học gia, toán học gia và là thiên nhân nổi tiếng tại Bắc Tổng.
Cuộc đời của Thiều Ún vô cùng truyền kỳ và đầy ấp nhẫn thần tích.
Ông vốn là đại sư lý học sánh ngang Chu Đôn Di,
là sư trưởng của anh em Trình Hảo và Trình Di, là bạn chí thân của Tư Mạ Quang.
Thế nhưng, chính vì những nghiên cứu và khám phá độc đáo về mệnh lý học,
thì ông đã bị hầu thế xếp vào hàng thần toán tử,
đứng chung với Viên Thiên Cương và Lý Thuận Phong trong hàng ngàn năm lịch sử chi bói.
Ông đã để lại vô số tác phẩm thần kỳ,
từ những công trình nghiên cứu quá khứ đến sư diễn tương lai.
Và năm nay là năm 2026,
và chắc hẳn không ít người trong lòng chúng ta đã từng nghe qua luận đoán này.
Năm 2026 là một bước ngoặt có những người rất khó mà vượt qua được.
Và có những video ngắn trên mạng nói đây là lời cảnh báo của cố đại sư y học Tăng Thế Cường để lại.
Có người bảo đây là lời sống từ dân gian.
Thực ra thì, nguồn gốc thực sự của việc suy diễn quẻ năm 2026
lại đến từ Bộ Hoàng cực Kinh Thế mà Thiệu Ún đã viết.
Hôm nay chúng ta sẽ cùng ngồi lại kể về câu chuyện cuộc đời của Thiệu Ún
và xem xét năm 2026 có thực sự đáng sợ như lời đồn đại hay không nhé.
Thiệu Ún, còn tự là Nghiêu Phu Hiệu An là tiên sinh,
sinh năm 1911 vào mùa đông năm Đại Trung,
tường phù thứ tư thời Tống Trần Tông.
Ông chào đời tại làng Đại Thiệu, Châu Trác, tức là tỉnh Hà Bắc ngày nay.
Năm 12 tuổi, ông theo cha mẹ,
rời cư đến Cổng Thành tức là vùng Tô Mông Sơn
thuộc huy huyện tỉnh Hà Nam ngày nay.
Vào thời Tống, chế độ khoa cử đang ở thời Hoàng Kim.
Dù là nhà giàu hay là nhà nghèo,
ai cũng coi việc đọc sách là bậc thang duy nhất
để bước vào chốn quan trường và thực hiện hóa giá trị của cuộc đời.
Thiệu Ún cũng không ngoại lệ.
Ông sống vào thời Tống Trần Tông và Tống Nhân Tông
đúng vào giai đoạn Hoàng Kim của phong trào đọc sách vào thời Tống.
Bị thời đại cảm hóa, từ nhỏ ông đã học theo
kiểu đầu treo xà ngang, dùi đâm vào đùi để tự tỉnh ngủ mà học.
Theo Tống Sử Truyện, Thiệu Ún sở học của ông thì vô cùng rộng.
Cứ sách là ông đọc, bất kể thể loại gì, có ứng dụng được hay không.
Năm 15 tuổi, ông đã có thể viết văn hay, bộc lộ trí tuệ xuất chúng.
Năm Tống Thiên tháng thứ tư thì Thiệu Ún 16 tuổi,
bổn nhưng giác ngộ rằng đọc sách của cổ nhân thôi vẫn chưa đủ,
phải đi đến những vùng đất mà cổ nhân đã từng đặt chân đến.
Nói thẳng ra là đọc vạn quyển sách, còn phải đi phạm dặm đường.
Thế là ông rời nhà, xuôi theo sông Hoàng Hà về phía Bắc,
vượt qua sông Phần Hà, dọc đường du lịch qua những cú đô của các nước tệ lỗ tống trịnh.
Sau nhiều năm du lịch một hôm khi đang lưu lạc nghìn dặm xa quê,
ông nhận được thương nhà.
Cha cho biết mẹ vì thương nhớ con mà tinh thần hoảng loạn,
đã bắt đầu tổn kinh nghiệm vật suốt ngày.
Thiệu Ún nhận tin vội vã lên đường trở về nhà thúc ngựa chạy suốt đêm,
đến vùng Bắc Sơn thì xảy chân cùng ngựa lăn xuống vực.
May mắn thay chỉ hỏng mất một cây mũ.
Sau khi về đến nhà, Thiệu Ún bắt đầu ở lại mà tiết sách lập thuyết,
không đi chui dù nữa.
Cũng chính lúc đó, ông gặp được người thay đổi cả cuộc đời của mình,
đương triều tri huyện Cộng Thành, tên là Lý Chi Tại,
vị tri huyện xuất thân danh môn.
Ngoài quan chức ra thì còn nắm giữ một tuyệt kỷ bí truyền là Mệnh Lý Học.
Mệnh Lý Học thời tống có nguồn gốc từ trần đoàn lẩu tổ thời đầu tống,
truyền đến chủng phóng, chủng phóng thì truyền đến mục tu,
mục tu thì truyền đến Lý Chi Tại, một mạch truyền thừa liên tục,
truyền đến đâu là thấm sâu đến đó.
Ngoài giờ công vụ, Lý Chi Tại vẫn đang âm thầm tìm kiếm
một người kế thừa xứng đáng cho dòng phái của mình.
Thiệu Ún tuy ở ẩn trên tô môn sơn, không có công danh khoan cử,
cũng chưa có tác phẩm nào ra đời,
nhưng tiếng ham học của ông đã vàng rất xa,
điều đó đã khiến Lý Chi Tại chủ động tìm đến thăm.
Lý Chi Tại gõ cửa tức nều thấp của Thiệu Ún,
hai người ngồi nói chuyện thâu đêm, quên ăn quên ngủ.
Lý Chi Tại, kinh ngạc trước tuổi trẻ nhưng học vẫn uyên bác của Thiệu Ún,
chủ động đề nghị là truyền thụ toàn bộ vốn kiến thức cho ông.
Thiệu Ún cầu mà chẳng được, tất nhiên nhận lời ngay,
quỳ xuống bái Lý Chi Tại làm thầy,
bắt đầu học kinh dịch và vật lý tính mệnh chi học.
Tính ra Thiệu Ún cũng là đệ tử đời thứ tư của trần đoàn lẩu tổ.
Điều đáng quý là sau khi theo học Lý Chi Tại,
Thiệu Ún không chỉ đắt được chân truyền mà còn có sáng tạo riêng.
Vượt trội hơn cả thầy, ông kết hợp những tâm đắc của bản thân
mà viết ra Hoàn Cực Kinh Thế, Quan Vật Nội Ngoại Thiên,
Ngư Tiều Vấn Đối và hàng loạt tác phẩm học thuật khác,
còn tự sáng tạo ra Tiên Thiên Học,
xây dựng nên hệ thống học tuấn riêng của mình.
Bức Tiên Thiên đồ chính là nền tảng lý luận của Thiệu Ún.
64 quẻ xếp thành vòng tròn, biểu trưng cho trời.
64 quẻ xếp thành hình vuông, biểu trưng cho đất.
Đỉnh của vòng tròn là quẻ càng.
6 hào đều dương, tượng trưng cho cực dương.
Dưới cùng là quẻ khôn.
6 hào đều là âm, tượng trưng cho cực âm.
Tự quẻ càng xoay theo chiều kiên đồng hồ.
Một bước là quẻ cấu.
Hào dưới cùng tự dương chuyển sang âm.
Biểu thị từ cực dương bắt đầu chuyển âm.
Cứ thế xoay đến quẻ khôn rồi tiếp tục xoay sang quẻ phục.
Hào dưới cũng từ âm lại chuyển thành dương.
Biểu thị từ cực âm bắt đầu chuyển dương trở lại.
Vạn vật trong trời đất đều đang ở trong trạng thái âm dương tiêu trưởng như vậy.
Tiên Thiên đồ cũng là nền tảng của Bộ Hoàng cực Kiên Thế,
Bộ sách Vũ Trụ Quang mà Thiệu Ún dày công viết nên.
Năm khánh lịch thứ năm, thời bắt tống, tức năm 1945,
ân sương lý tri tài qua đời Thiệu Ún đau buồn khôn xiết.
Một thời gian dài chìm trong ủ ức.
Năm sau, tức là khánh lịch thứ sáu, tâm trạng dần bình phục.
Ông nhận lời mời đến tại kênh Lạc Dương mở quán giảng học.
Bị vẻ đẹp sơn thủy nơi đây mê hoặc, ông hãy xin ý định muốn định cư.
Năm Hoàng hợo nguyên niên thời tống nhân tống, tức năm 1949,
Thiệu Ún đã bước qua tuổi tứ tuần, chính thức định cư tại Lạc Dương
và đón gia mẹ từ Cộng Thành về.
Ban đầu thì ông mua một mảng đất phía sau Nam Sông Lạc,
dựng hai nhà khai khẩn, cuộc sống không khá giả, thậm chí có phần tốn thiếu.
Mỗi ngày, từ chặt của nấu cơm hầu hạ song thân,
nhân tài học xuất chúng của Thiệu Ún nhanh chóng được giới quan lại.
Danh gia tại Tây Kinh Lạc Dương cộc nhận.
Đến năm gia hữu thứ bảy thời tống nhân tống,
tức năm 1962 khi Thiệu Ún 52 tuổi,
đương nhiệm tri phủ Lạc Dương là Vương Cụng Thần đứng ra chủ trị,
xây tặng cho ông một ngôi viện lớn gồm 30 giang nhà,
kèm theo một khu vườn.
Thiệu Ún đặt tên cho căn nhà là An Lạc Hoa.
Ban đầu, địa bộ đất do Tư Mã Quang đứng tên,
nhà là do Vương Cụng Thần đứng tên, vườn là do Tệ Tướng Phú Bật đứng tên.
Mãi đến 10 năm sau mới hoàn toàn chuyển sang tên cho Thiệu Ún.
Nhân đó, ông có viết một bài thơ cảm tạ đa tạ chư công vị mãi viên,
nhị thập chư gia tranh xuất tiền.
Có thể thấy ông được lòng người đến mức nào.
Có An Lạc Hoa, những năm cuối đời Thiệu Ún có thể mở quán giảng học
và viết sách một cách thoải mái hơn rất nhiều.
Thực ra cuộc đời của Thiệu Ún thì cũng có vài lần có cơ hội bước chân vào quan trường.
Năm chí hòa nguyên tức năm 1061 thì tống nhân tống xuống chiếu tìm hiện tại,
yêu cầu các địa phương rộng rãi tiến cử nhân tài.
Vương Cụng Thần đã tiến cử Thiệu Ún.
Tống nhân tống đã lâu nghe tiếng học vấn kỳ lạ của ông,
lập tức bổ nhiệm ông làm chủ bà tương tác giám,
cơ quan trong coi việc xây dựng cung điện, đồ theo thùa và chế tác khí dụng cho triều đình.
Chức chủ bà cũng tính ra khoản bật chánh thất phẩm,
nhưng Thiệu Ún không do dự mà từ chối thẳng.
Về sau đến đời tống thần tống niên hiệu là Hi Ninh,
triều đình trẻ trung đang chấn hừng,
ngoài khoa cử lại cũng yêu cầu các địa phương tiến cử người tài.
Người sử trung thừa lã hối và nhiều vị quan lại một lần nữa tiến cử Thiệu Ún,
nhưng ông ngoan cố từ chối thêm lần nữa.
Người bạn thân phú bật từng khuyên ông rằng
chỉ bạn treo thêm một cái danh là Hiền Nhân trong triều đình,
vừa hưởng lương vừa không cần phải làm nhiều,
một mặt lại đáp lại thịnh tình của triều đình chiêu hiền,
mặt khác là giải quyết được chuyện kinh tế,
có gì mà không làm.
Nhưng mà Thiệu Ún nhất quyết nói rằng
mình không công thì không nhận lọc,
chỉ muốn chuyên tâm nghiên cứu mệnh lý học.
Mùa xuân năm Hi Ninh thứ 10,
tống thần tống tức năm 1077,
Thiệu Ún bỗng dưng cảm thấy sức khỏe ngày càng đi xuống.
Một hôm thì đang trò chuyện cùng với Tư Mã Quang và các bạn.
Ông cười nói tôi sắp đi thăm sự vần xoay của vạn vật rồi,
mọi người đều hiểu ngụ ý câu nói đó lọc xe lại.
Đến mùa thu năm ấy, bệnh của ông trở nặng,
cả ngày nằm trên giường,
Tư Mã Quang, Phú Bật, Trình Di, Trình Hào
ngày nào cũng đến thăm, túc trực bên giường.
Thiệu Ún tuy tứ chi đã không thể cử động được,
nhưng đầu óc vẫn hết sức minh mẫn.
Ngày 27 tháng 7, ông đang thoi thoát,
thì gọi con trai là Thiệu Báo Ún đến bên giường và nói rằng
ta có 3 điều muốn dặn, con nhất định phải làm theo.
Thiệu Báo Ún hòa khóc thưa cha, cha cứ nói đi à.
Thiệu Ún ngắc quảng mà nói.
Thứ nhất, ta chết rồi không được chôn tại Lạc Dương,
phải tán ở trại Nhiên Nhân, huyện Y Xuyên.
Thứ hai, bạn mình trên mộ chí do Trình Hào và Trình Di viết.
Thứ ba, không được chôn theo bất cứ thứ gì.
Đầu gối lên gối gỗ, thân mặc áo vải đen khô,
khi nhập quang phải tìm con gái nhà họ Lý đến để cô ấy chứng kiến.
Nói xong thì ông nhắm mắt lại, thằng thiền hưởng thọ 67 tuổi.
Gia đình bạn bè làm đúng theo di chúc,
khi nhập quang tìm con gái nhà họ Lý đến để cô chứng kiến Thiệu Ún
mặc áo vải đen khô rồi đậy nắp quan tài.
Nhiều năm sau thì người ta mới hiểu dùng ý của Thiệu Ún.
Về sau, người con gái họ Lý đó lấy chồng,
đến đời cháu có người làm nghề đào mồ trộm
Người bà Lý ngăn lại nói rằng
Đừng đến đó, hội nhập quang ta nhìn rất rõ,
bên trong chẳng có gì cả, đến áo cũng là áo xấu thôi.
Nhờ vậy mà nghìn năm qua, mồ của Thiệu Ún chưa một lần bị đào trộm.
Địa điểm chọn mồ cũng rất đặc biệt,
tuy phía đông từ giáp sông Y, phía tây giáp núi Tử Kim Sơn,
nhưng nằm trên một vùng đất hoang pu không có cây cỏ gì.
Xung quanh cũng chỉ có mỗi ngôi mồ đó,
tức cái gọi là tuyệt phần, không có mồ khác kề bên.
Con cháu của Thiệu Ún cũng không ai trôn ở đây,
bởi vì trước khi lâm trung, ông đã dặn con trai là Thiệu Báo Ún
dẫn cả nhà vào đất Thục tránh loạn.
Nhiều năm sau đó, con cháu Thiệu đều ở lại đất Thục.
Năm 1127, vào cuối trường Tống Huy Tông, niên hiệu là Tuyền Hòa,
quân Kim tràn xuống phía nam công phá đô thành Biện Lương của bác Tống,
bắt đi Tống Huy Tông và Tống Khâm Tông, lịch sử gọi là biến tỉnh Khang.
Còn con cháu họ Thiệu đã lắng vào Thục địa từ trước,
may mắn thoát khỏi cảnh bình đạo.
Tuy là Thiệu Ún chưa từng làm quang,
nhưng mà ông được đời sau sánh ngang với chú Đôn Di,
trương tải trình hào Trình Di trong hạng bác Tống Ngũ Tử.
Sau khi ông mất thì nhiều năm,
triều đình truy tặng Thụy Hiệu Khang Tiết,
lại phong Tân An Bá được tổng tự trong khổng miếu là vinh dự cực cao.
Nói đến Thụy Hiệu Khang Tiết của Thiệu Ún,
câu chuyện này còn liên quan một lần nữa đến thần toán khác của ông.
Kể rằng, trong những ngày Thiệu Ún nằm mệnh ở cuối đời
thì con trai Âu Dương Tu là Âu Dương Phỉ đến thăm,
thay mặt cha mình chuyển lời hỏi thăm đến ông.
Thiệu Ún tuy mới gặp Âu Dương Phỉ lần đầu,
nhưng lại kể từng tận cho vị thanh niên này nghe
toàn bộ cuộc đời và phương châm sống của mình.
Trước khi chia tay còn ân cần dặn,
mong sau này đừng quên những lời của lão già ở núi rần này.
20 năm sau, Âu Dương Phỉ làm thái thường bác sĩ,
chuyên phụ trách soàn thảo tiểu sử
và đặt Thụy Hiệu cho những danh dân đã mất.
Đến lúc ấy thì ông mới ngộ ra dụng ý của Thiệu Ún 20 năm trước
khi cứ không ngại phiền mà kể hết cuộc đời của mình cho ông nghe,
không khỏi thắng phục, tiên sinh quả thực là thần cơ diệu toán.
Cần cứ theo thuật cuộc đời của Thiệu Ún thì Âu Dương Phỉ định ra Thụy Hiệu Khang Tiết.
Khang có nghĩa là ôn họa, lương thiện, vui vẻ.
Tiết thì tượng trưng cho, tự luật thì liêm khiết.
Trên thực tế, thành tích mà Thiệu Ún tạo ra trong cuộc đời còn nhiều hơn thế rất là nhiều.
Trong lời từ của Mai Hoa Dịch Số có một câu chuyện nhỏ kể rằng
vào thời khánh lịch Thiệu Ún hơn 40 tuổi,
một hôm đang ngủ trưa thì bị chuột quấy chạy,
ông bực bội với ngay chiếc gối đá nán vào.
Thời bếp giờ gối thường làm bằng gạch, ngói, nôn,
người sang hơn thì dùng gối xứ, đây là thứ không chịu được và đập.
Chiếc gối vỡ tan và Thiệu Ún chợt nhìn thấy trên mảnh vỡ có một dòng chữ
gối xứ bán cho hiện nhân Khang Tiết, 5 tháng ngày giờ nào đó sẽ nán chuột vỡ gối.
Ông lập tức ôn những mảnh vỡ tìm đến chủ cửa hàng bán gối,
hỏi về xuất xứ của dòng chữ.
Chủ cửa hàng nói trước đây có một cụ già kỳ lạ,
tay cầm một cuốn cổ thư không biết là gì,
ngày nào cũng ra vào cửa hàng ngồi chơi,
không mua gối nhưng thường nghỉ trên chiếc gối đó,
và dòng chữ chắc là cụ già để lại.
Thiệu Ún hỏi có tìm được cụ già đó không,
chủ cửa hàng nói cụ đã lâu không còn đến nữa,
nhưng ông biết địa chỉ nhà cụ,
thế là chủ cửa hàng dẫn Thiệu Ún đến nhà cụ già,
đến nơi mới biết cụ đã qua đời.
Nghe xong nội tình,
gia đình cụ già lấy ra một cuốn sách cụ,
nói rằng trước khi mất,
cụ đặc biệt dặn do sau này có một vị thư sinh
phong nhã đến thăm,
hãy giao cuốn sách này cho người đó,
người ấy nhất định có thể hoàn thành tâm nguyện của cụ.
Thiệu Ún nhận sách lên xem,
hóa ra là một bản thảo nghiên cứu du dịch
với dạy đạt khẩu quyết
và thí dụ thực hành.
Ông ngay tại chỗ thử suy diễn
rồi nói với gia đình cụ,
lúc sinh thời cụ đã giấu một số vàng
tại phía tây bắc dưới gầm giường ngủ,
các vị có thể đào lên
mà lo hậu sự cho cụ.
Gia đình làm theo quả nhiên đã tìm được vàng.
Thiệu Ún mang bản thảo của cụ về,
chuyên tâm nghiên cứu và thu được nhiều điều bổ ích.
Trong dân gian,
lưu truyện về thần toán tử Thiệu Ún
còn rất nhiều câu chuyện nữa,
chẳng hạn là chuyện nổi tiếng
hai lần đoán chữ tử các môn hoàn toàn khác nhau.
Chuyện kể rằng
người buôn bán tên là Trương Thủy,
thường xuyên ra ngoài làm ăn,
lần này trước khi lên đường đặc biệt
tìm đến Thiệu Ún để xem vận khí.
Thiệu Ún yêu cầu ông
viết một chữ, ông thuận tay viết chữ tử,
lúc đó người hậu bưng trà bước vào,
Thiệu Ún thấy vậy
mặt tư lên nói
chuyện đi này ông nhất định bình an thuận lợi,
làm gì cũng kiếm được tiền,
ông cứ mạnh dạng mà đi.
Trương Thủy nghe xong mừng rỡ vô cùng,
tạ ơn rồi hân hoan ra đi.
Đi được nửa đường,
Trương Thủy gặp Lý Mục,
Lý Mục thấy Trương Thủy mặt mày rạn rỡ
hỏi có chuyện gì vui vậy.
Trương Thủy đã kể lại câu chuyện,
tìm đến Thiệu Ún xem quẻ,
Lý Mục nghĩ bụng,
mình cũng chuẩn bị ra ngoài làm ăn,
sao không đến nhờ Thiệu Tiên Sinh xem một quẻ nhỉ.
Cũng giống như lần trước
Thiệu Ún yêu cầu Lý Mục viết một chữ,
Lý Mục nghĩ bụng,
Trương Thủy viết chữ tử mà được quẻ đại các,
thôi mình cũng viết chữ tử chắc chắn không sai đâu.
Đúng lúc đó một con mèo hoa
Thiệu Ún nhìn thấy sắc mặt trầm lại
mà nói, chuyện đi này
ông có thể gặp nguy hiểm,
dù có thoát được cũng sẽ bị hao tài tốt nhất đừng đi.
Lý Mục thậm nghĩ kỳ lạ thật,
cùng một chữ sau lại hai kết quả
khác nhau, mình nhất định không tin
chuyện này Trương Thủy đi đâu
thì ta đi đó, anh ta bán gì
thì ta bán đấy, xem thử kết quả có khác không.
Theo là suốt dọc đường
Lý Mục cái gì cũng bắt trước theo Trương Thủy,
hôm đó hai người đến Hà Nam,
mỗi người mua một ao gạo
gánh rịch vài chuẩn bị đem về bán.
Đến mờ sông thì Trương Thủy bảo
phải đi tiểu nhờ Lý Mục
trong hàng hộ. Đúng lúc đó
thì thuyền đo cập bến, Lý Mục nghĩ thơ sảnh
thì tranh thủ gánh hàng của mình lên
thuyền trước. Vừa bước lên
thuyền thì một con gió thổi tới
Lý Mục trượt chân ngã xuống sông.
Tuy vẽ vùng mãi cũng được
người chèo thuyền cứu lên, nhưng
cả một bao gạo trôi hết xuống sông rồi.
Còn Trương Thủy thì thuận buồn
xuôi gió, đưa gạo về quê
bán được giá tốt.
Sau đó hai người đều tâm phục khẩu phục
về tài toán quẹ của Thiệu Ung
nhưng vẫn không hiểu tại sao cùng một
chữ lại ra hai kết quả khác nhau.
Hỏi đến hỏi Thiệu Ung
ông giải thích rằng lúc Trương Thủy
viết chữ tử, người hồ bưng trào vào
nữ với tử kết hợp thành chữ
hảo tức là tốt đẹp. Còn Lý Mục
viết chữ tử đúng lúc con mèo
phóng vào tử tức là chuột.
Chuột gặp mèo thì hung đa cắt
ít rồi, hai người lúc đó mới vỡ lẻ.
Dĩ nhiên những câu chuyện
nhỏ này phần lớn đều là
truyền thuyết dân gian kể lại thật
giả khó phân, kể cả câu chuyện trong
lời tựa Mai Hoa Dịch Số
cũng lộ một chỗ sơ hở.
Dòng chữ trên cuối xứ gọi Thiệu Ung
là Khang Tiết Tiên Sinh, mà Khang Tiết
là thủy hiệu của Thiệu Ung,
tức là cái tên chỉ có sau khi ông qua đời.
Người cùng thời nào mà lại dùng
thủy hiệu để gọi người còn sống?
Đọc qua là thấy đây là
chuyện hồ nhân bị ra rồi.
Tuy câu chuyện
thần toán tử thật giả lẫn lộn
nhưng tư tưởng triết học sâu sắc trong
những tác phẩm của Thiệu Ung để lại
thì thật là 100%.
Chẳng hạn như án hùng văn nghìn đời
ngư tiều vấn đối chỉ với vài nghìn
chữ ngắn gọn mà nói hết được
thiên đạo là gì, nhân đạo là gì,
nhân quả là gì, phải nhìn nhận thế nào
về họa phúc thịnh suy trong cuộc đời.
Ngư tiều vấn đối thực chất
là một tác phẩm triết học.
Thông qua những câu hỏi vấn đáp và biện luận
giữa người đánh cá và người tiều phu
để trình bày quan điểm triết học
của Thiệu Ung. Ở đây chúng tôi xin tóm
được tư tưởng triết học trong đó
thành 5 câu vàng.
Câu thứ nhất là vận vô
bất đối, lý vô bất vân, tức là
không có vật nào mà không tương đối,
không có lý nào mà không phân biệt.
Câu chuyện bắt đầu từ
một hôm người đánh cá đang câu cá
trên song y thì người tiều phu đi qua
đặt cánh xuống ngồi nghỉ trên đá
rồi bắt chuyện. Người tiều phu hỏi
không có mồi câu thì có câu được không?
Người đánh cá trả lời không.
Người tiều phu đáp tiếp cá vì ăn
mồi mà bị hại. Người thì thích ăn cá
mà được lợi cũng là kết quả.
Sao lại khác nhau thế? Người đánh cá
lại không đồng ý nói người và cá
đều được lợi vì ăn. Vừa bị hại
vì ăn, nếu không ăn thì người và cá
không sống được một ngày. Nhưng
cũng đều có thể bị hại vì ăn.
Anh chỉ biết tôi câu được cá mà được lợi
mà không biết ra giữa sông lớn biển
cả để câu cá nguy hiểm đến thế nào.
Cá bị hại vì mồi. Người bị hại
vì tài. Mồi và tài tuy khác nhau
nhưng là cái hại giống như nhau.
Câu này của người đánh cá muốn nói
bất cứ chuyện gì cũng phải
nhìn biện chứng. Không có gì là
tuyệt đối. Cùng một sự vật với
người khác nhau thì lợi hại cũng khác nhau.
Ngược lại, những sự vật khác nhau
với người khác nhau thì lợi hại
có thể giống nhau. Bản chất cốt lõi
của vạn vật trong thiên hạ là thông
với nhau. Câu thứ hai
là thủy hỏa năng tương tế, thừa
năng tương tức. Nước lửa có thể tương hổ
lại cũng có thể tương khác.
Chẳng chỉ nước lửa mà thiên hạ
vàng sự đều như vậy. Người tiêu phu
hỏi người đánh cá, cá có thể
ăn sống không? Người đánh cá đáp rằng
phải nấu chính mới ăn được.
Người tiêu phu hứng hở nói vậy thì
củi tôi chặt rất có ít. Với anh đấy
nhỉ. Người đánh cá bể lại rằng
anh chỉ biết củi của anh nấu được cá của tôi
mà không biết đạo lý sâu hơn.
Nấu cá không phải là củi mà là lửa.
Các củi là hình thể của lửa,
lửa là công dụng của củi.
Lửa vốn không có hình thể, phải nhờ củi
mới có hình thể. Củi vốn không có tác dụng,
phải đợi lửa bùng lên mới có tác dụng.
Cá từ nước mà ra
lại không thể thiếu nước. Nên muốn
có bữa cơm ngon, phải cần cả nước
lẫn lửa. Nước lửa tương tế
mới hoàn thành được việc. Nhưng đồng thời
nước lửa lại tương tức. Lửa gặp
nước thì tắt, nước gặp lửa thì bốc hơi.
Chẳng chỉ nước lửa thiên hạ
Trong một số điều kiện
nhất định đã có thể tương hổ, mối chốt
nằm ở cách bạn bận dụng.
Câu thứ ba là tận
nhân sự, thính thiên mệnh.
Hết lòng lo nhân sự rồi mới nghe
theo thiên mệnh. Người tiều phu hỏi
người đánh cá, câu cá cần những gì?
Người đánh cá nói cần sáu vật,
cần câu, dây câu, phao câu, chì câu,
lưỡi câu, mồi câu. Nhưng đôi khi
dù chuẩn bị đủ cả sáu vật
vẫn không câu được cá. Lúc đó
thì không phải lỗi của người nữa có thể là thiên
ý. Còn nếu ngay cả sáu vật
cũng không chuẩn bị đủ mà câu không
được thì trách ai đây?
Giống như một người nông dân chỉ mơ
được mùa màng mà không chịu chăm sóc
đồng ruộng. Để đất hoàn toàn
thì đó là nhân họa. Nhưng nếu chăm chỉ
cây cấy mà gặp lũ lụt hàng kháng
thì mới gọi là thiên tai. Câu này
tóm lại một chữ, hết lòng lo cho
nhân sự rồi mới nghe theo thiên mệnh.
Quan niệm nhân sinh này hoàn
toàn khác với tư tượng nhân định
thắng thiên. Hồi trẻ thì
nghe câu đó thấy rất là hào ký.
Nhưng khi có một chút trải nghiệm cuộc đời
bạn sẽ nhận ra rằng câu đó
đã phóng lại quá mất chủ
quan năng động của con người.
Trong cuộc sống có những mục tiêu
không phải cứ nỗ lực là sẽ đạt được.
Nhưng nếu không nỗ lực thì mãi mãi
không thể thực hiện được. Tìm được
điểm cân bằng giữa nhân sự và thiên mệnh
mới có thể đối mặt một cách thẳng
nhiên với mọi điều, không như
ý trong cuộc sống chúng ta.
Câu thứ tư là thiên ác
báo ứng, mệnh giữ, vận di biệt.
Câu này thật ra đang nói về
quy luật nhân quả báo ứng và quy luật vận mệnh.
Người tiêu phu hỏi người đánh cá
Con người cầu nguyện
thần ninh để cầu phúc. Phúc có
thực sự cầu được không?
Người đánh cá đáp, lời nói và
hành động thiên ác là do con người. Còn
phúc và họa là kết quả từ trời.
Quy luật thiên đạo, thần ninh nào có thể
vi phạm? Ác mà mình gây ra
thì ác nghiệp nào có thể trốn thoát?
Thiên thượng dán họa xuống
cầu nguyện thì có ích gì. Tư thiện
thích đức mới là bổn phận của người
quân tử. Như vậy tự nhiên họa
sẽ không đến. Nhưng người
tiêu phu lại phản bác rằng vậy theo
cách thái đó thì người tốt đều phải có
phúc, người xấu đều phải bị báo ứng.
Thế mà thực tế đôi khi lại
ngược hẳn. Người đánh cá giải thích thêm
Người xấu gặp phúc, người
tốt gặp họa đó là mệnh chứ không phải
vận. Người xấu gặp họa, người
tốt gặp phúc, đó mới là kết quả
từ hành vi trong cuộc sống, tức là vận.
Mệnh là gì?
Phận là gì? Nhân quả? Báo ứng là gì?
Tôi lấy một ví dụ thực tế thật
đơn giản để mọi người hiểu. Hôm nay
bạn đang đi trên phố gặp một người
say rượu. Bạn không quen biết
gì vậy mà hắn ta song vào chữ
mới ẩm ủy. Khi đó có thể
hai loại phẩn ứng hoàn toàn khác nhau.
Có người sẽ tức giận lên,
cãi lại, thậm chí đánh nhau. Cuối cùng
cả hai vào đồn công an.
Không những việc mình định làm bị xấu trộn
mà còn có thể bị vướng vào kiện tụng.
Nhưng cũng có người
nắp đầu không tính toán, bước đi.
Thậm chí là còn nhẹ nhàng nói với
người say, anh ơi, anh nói gì thế?
Anh về nhà, nghỉ đi.
Đọc người say rượu là mệnh của bạn
còn phản ứng của bạn với chuyện đó
là phận của bạn. Và đó cũng chính là
nhân quả mà bạn tạo ra về song.
Câu thứ năm là vô ngã
vô ý, vườn năng, vật vật.
Không có cái ta, không có
thiên kiến thì mới có thể thông súc
vạn vật. Người đánh cá và
người tiều phu dong thuyền trên sông y.
Người đánh cá cảm khái nói
vạn vật trong thiên hạ nhiều vô số kể
phức tạp vô cùng. Phải dùng
cái tâm không vướng bận mà nhìn vạn vật
thì mới có thể sống tự tại
ung dung, học dòng tự nhiên.
Người tiều phu hỏi rằng thế vô tâm
là sao? Người đánh cá đáp
vô tâm tức là vô ý. Vô ý tức là không
tách biệt ta với vật. Nếu vạn vật
làm chuẩn thì ta cũng là vật.
Nếu ta làm chuẩn thì vạn vật cũng là ta.
Trời đất là vạn vật. Vạn vật
cũng là trời đất. Ta cũng là vạn vật.
Vạn vật cũng là ta. Trời đất
vạn vật vốn là một thể cho nên ta là
vạn vật có thể chuyển hóa lẫn nhau.
Như vậy ta có thể làm chủ trời đất
sai khiến quỷ thần hố hồ là người
và vật. Đời này của người
đánh cá thật ra đang nói về buôn bỏ
phân biệt tâm. Không vì vật mà
vui. Không vì mình mà buồn. Siêu thoát
ngoài vật thì có thể đạt đến giải phóng
tinh thần. Không bị được mất của
ngoài vật làm việc nhiễu. Mới
có thể giữ được tâm thái bình ổn
và không bị tổn hại. Trong ngư tiều
vấn đối còn có rất nhiều nội dung
bàn về chu dịch bác quái ở đây
không tiện khai triển thêm.
Đến cuối buổi nói chuyện thì
người tiều phu cảm khái mà thúc lên rằng
tôi nghe nói thượng lộ có phu tử
hôm nay hình như tôi thực sự gặp
được phu tử rồi. Nói xong ông cuối
đầu bái lại người đánh cá ba lần rồi
tự biệt. Ngoài ngư tiều
vấn đối, tiều ôn còn để lại nhiều tác
phẩm triết học và hơn 3.000 bài thơ
Nhưng chính vì là lý học gia
triết học gia như vậy, ông lại bị
nhiều hậu nhân xếp vào loại thầy bói.
Mà nói đến khả năng chiêm bói
của tiều ôn thì không thể bỏ qua
Mai Hòa dịch số. Bộ sách này
căn cứ vào số của tiên thiên
bác quái. Càng một đoài
2 ly 3 chấn 4 tốn 5 khảm 6
cấn 7 khôn 8
kết hợp với thiên can địa chiên ngũ hành
để bói hung cát về một sự việc
nào đó có thể dự đoán
xuất hành thư tự thi cử bệnh tật
dọn nhà giao dịch cầu tài và mọi
chuyện vụn vặt trong cuộc sống hàng ngày
Mai Hòa thi gồm 10 thủ
lần lượt tiên đoán về biến cố
tỉnh Khang Tây Bắc Tống, sự diệt phong
của Nam Tống, sự trổ dậy của Mông Cổ
chung Nguyên Chương Lập Tra Trường Minh
biến cố tỉnh Nạn của
Yên Phương Chu Đệ, sự thống trị
của Mãng Thanh. Đối với Trung Nguyên
thời loạn dân quốc, cục diện
hai bờ đối lập quan hệ căng thẳng
giữa Triều Tiên và Hoa Kỳ
và nhiều sự kiện khác.
Ba thủ cuối cùng mô tả về tương lai chưa
xảy ra dạng nói về cảnh tượng
thời mặt thế cho đến khi vật di lạc
hạ sơn truyền pháp đổ nhân.
Mai Hòa thi rất hay, Mai Hòa dịch số
rất thuyện. Trong thời gian tới Ngọc Vi
sẽ gửi tới các bạn bài giải đáp
ba thủ cuối ngày cho quý vị. Cả nhà
nhớ đón xem nhé!
