150 Tỷ Đô - Trạm Vũ Trụ Quốc Tế ISS: Kỳ Quan Của Thế Giới Hay Canh Bạc Lớn Nhất Lịch Sử Nhân Loại?
11 Lượt xem video·29 thg 7, 2026
150 Tỷ Đô - Trạm Vũ Trụ Quốc Tế ISS: Kỳ Quan Của Thế Giới Hay Canh Bạc Lớn Nhất Lịch Sử Nhân Loại?
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIThe International Space Station (ISS) is a $150 billion collaborative marvel orbiting Earth, uniting former rivals and global partners to advance science. From its complex assembly via the Space Shuttle to its role as a microgravity lab, the ISS symbolizes human cooperation. As it nears its 2030 decommissioning, it paves the way for a new era of commercial space exploration.
Chào mừng quý khán giả trở lại với Bình Quân sự,
nơi sẻ chia những câu chuyện thú vị về khoa học khí tài,
công nghệ và diễn biến chiến sự đông Tây.
Kính thưa quý vị!
Nếu có ai đó nói với chúng ta rằng,
ngay lúc này, cách phía trên đầu chúng ta khoảng 400 km
đang có một chiến hạm thép nặng hơn 420 tấn lao vùn vút
với vận tốc gần 28.000 km một giờ.
Mỗi 90 phút nó lại hoàn thành một vòng quay quanh trái đất.
Còn mỗi ngày, đón tới 16 lần bình minh và hoàng hôn,
hẳn nhiều người sẽ nghĩ đó chỉ là một câu chuyện viễn tượng.
Nhưng không.
Cổ máy ấy vẫn đang tồn tại ngoài đời thực.
Nó đã vận hành liên tục suốt hơn một phần tư thế kỷ,
là công trình đắt đỏ nhất trong lịch sử nhân loại
với tổng chi phí lên tới khoảng 150 tỷ Mỹ Kim,
đồng thời cũng là nơi con người đang phải chi hàng tỷ đô la mỗi năm
chỉ để duy trì sự sống giữa khoảng không lạnh lẽo và chết chóc của vũ trụ.
Thế nhưng, điều đáng kinh ngạc nhất
lại không nằm ở kích thước khổng lồ hay mức đầu tư choáng ngợp.
Điều khiến cả thế giới phải ngả mũ chính là việc pháo đài trên quý đạo này được dựng nên
bởi những quốc gia từng xem nhau là đối thủ không đội trời chung.
Trong khi dưới mặt đất, cuộc cạnh tranh địa chính trị vẫn chưa bao giờ thật sự chấm dứt,
thì trên bầu trời các kỹ sư Hoa Kỳ, Nga, Châu Âu, Nhật Bản và Canada
lại cùng ghép từng mô đun thép, từng đường ống, từng mạch điện
thành một kỳ quan chưa từng có trong lịch sử văn minh nhân loại.
Quá thật.
Có những cuộc chiến được quyết định bằng hỏa lực,
nhưng cũng có những cuộc cạnh tranh được phân định bằng trí tuệ,
và ISS chính là minh chứng hùng hồn nhất cho điều đó.
Ngạn ngữ Á Đông từng có câu,
muốn biết nông sâu, phải dò mới tỏ,
muốn biết lòng người, phải trải mới hay.
Với ISS cũng vậy.
Đằng sau ánh hào quang của một biểu tượng khoa học là vô vàn câu chuyện ít người biết đến,
những cuộc mặt cả chiến lược giữa các cường quốc,
những lần đối diện sinh tử khi lắp ráp thực thể khổng lồ này giữa môi trường chân không,
những bi kịch khiến cả chương trình không gian từng đứng bên bờ vực sụp đổ,
và cả cuộc chạy đua quyền lực mới đang âm thầm diễn ra trên quỹ đạo,
khi biểu tượng ấy bước vào những năm tháng cuối cùng của sứ mệnh.
Vậy điều gì đã khiến hai cựu đối thủ trong cuộc chiến tranh lạnh quyết định bắt tay
để cùng xây dựng công trình vĩ đại nhất ngoài không gian.
Bằng cách nào con người có thể đưa hàng trăm tấn kết cấu thép lên độ cao 400km,
rồi lắp ráp chúng với độ chính xác gần như tuyệt đối?
Vì sao mỗi ngày ISS tiêu tốn một khoản kinh phí khổng lồ,
nhưng vẫn được coi là khoản đầu tư xứng đáng cho tương lai của nhân loại?
Và khi pháo đài 150 tỷ đô la chuẩn bị khép lại sứ mệnh lịch sử,
liệu ai sẽ trở thành chủ nhân của kỷ nguyên không gian tiếp theo?
Ngay sau đây, xin kính mời quý khán thính giả hãy cùng bình quân sự bước vào hành trình
khám phá toàn bộ những bí mật phía sau trạm vũ trụ quốc tế ISS,
kỳ quan công nghệ vĩ đại bậc nhất mà con người từng tạo dựng.
Nơi khoa học, địa chính trị, tham vọng và vận mệnh của nền văn minh hiện đại
đang giao thoa trên từng vòng quỹ đạo.
Trước một, cú bắt tay lịch sử trên quỹ đạo, khi hai cường quốc cùng viết lại cuộc đua không gian.
Lại nói, khi nhân loại cùng hướng tới một mục tiêu đủ lớn để vượt lên trên mọi sự khác biệt,
thì dù dưới mặt đất vẫn còn những toan tính chiến lược và danh giới lợi ích chẳng chịt,
các dân tộc và những bộ óc kiệt xuất vẫn có thể tìm được tiếng nói chung.
Hành trình khai sinh trạm vũ trụ quốc tế ISS chính là một trong những minh chứng sinh động nhất cho điều đó.
Muốn hiểu vì sao ISS được xem là kỳ quan của thời đại?
Chúng ta cần phải ngược dòng lịch sử về thập niên 1980.
Giai đoạn cuộc chinh phục không gian vẫn mang đậm dấu ấn cạnh tranh giữa các siêu cường.
Tại Hoa Kỳ, Tổng thống Ronald Reagan công bố tham vọng xây dựng trạm vũ trụ Space Station Freedom
nhằm khẳng định vị thế tiên phong của Washington trên mặt trận không gian.
Thế nhưng, giấc mơ ấy nhanh chóng vấp phải đối thủ lớn nhất.
Bài toán kinh phí, chi phí dự toán liên tục vượt khỏi tầm kiểm soát,
khiến Quốc hội Mỹ phải nhiều lần cân nhắc cắt giảm, thậm chí chấm dứt nguồn tài trợ.
Ở phía bên kia, Liên Xô, rồi sau đó là nước Nga lại sở hữu kinh nghiệm quý báo
về vận hành các trạm quý đạo dài ngày với chuỗi Salyut, đặc biệt là trạm Mir,
được phóng lên quý đạo năm 1986.
Những bước sang đầu thập niên 1990, những biến động lịch sử đã đẩy nền kinh tế Nga vào giai đoạn khó khăn nhất.
Trạm Mir dần giả cỗi, còn dự án Mir-2 đứng trước nguy cơ rang rở, bị thiếu hụt nguồn lực tài chính.
Chính trong thời điểm ấy, các nhà hoạch định chiến lược của hai phía đã nhìn ra cơ hội bổ trợ lẫn nhau.
Hoa Kỳ có nguồn lực tài chính cùng đội bay phi thuyền thoi,
đủ sức vận chuyển những cấu kiện khổng lồ lên quý đạo,
nhưng thiếu kinh nghiệm vận hành trạm không gian dài hạn.
Ngược lại, Nga sở hữu công nghệ mô-đun đã được kiểm chứng hệ thống hỗ trợ sinh tồn bền bỉ
cùng các tàu Soyuz và Progress nổi tiếng về độ tin cậy.
Mỗi bên đều nắm giữ điều mà bên kia còn thiếu,
và sự bổ khuyết ấy đã mở ra lời giải cho một bài toán tưởng chừng không thể.
Năm 1993, Hiệp định Hợp tác lịch sử chính thức được ký kết.
Thiết kế của Space Station Freedom và dự án Mir-2 được hợp nhất thành một chương trình chung.
Đồng thời, Mỹ, Nga còn mời thêm cơ quan vũ trụ châu Âu, cơ quan thám hiểm hàng không vũ trụ Nhật Bản
và cơ quan vũ trụ Canada cùng tham gia đóng góp những công nghệ thế mạnh của mình vào dự án.
Đó không phải là sự hòa tan về chính trị hay giấu chấm hết cho cạnh tranh giữa các cường quốc,
mà là một sự hợp tác thực dụng, nơi khoa học trở thành điểm gặp gỡ của những lợi ích chiến lược khác biệt.
Để biến thỏa thuận trên giấy thành hiện thực,
chương trình Shuttle-Mir giai đoạn 1995-1998 đã được khởi động.
Những chiếc phi thuyền thoi của Hoa Kỳ lần đầu ghép nối trực tiếp với trạm Mir của Nga.
Mỗi lần tiếp cận đều căng thẳng đến nghẹt thở,
bởi chỉ một size số rất nhỏ giữa hai vật thể đang lao đi
với vận tốc hàng chục nghìn km mỗi giờ cũng có thể dẫn đến hậu quả khôn lường.
Nhưng chính những chuyến bay ấy đã giúp các kỹ sư và phi hành gia hai bên
tích lũy được kinh nghiệm quý giá, đặt nền móng cho công trình,
sẽ làm thay đổi lịch sử chinh phục không gian.
Ngày 20 tháng 11 năm 1998,
từ sân bay vũ trụ Baikonur giữa thảo nguyên Kazakhstan,
hỏa tiến Proton của Nga,
Zhen Wang đưa mô đun đầu tiên mang tên Zarya, tức Bình Minh, lên quỹ đạo.
Chỉ tuần sau, phi thuyền Thoi Endeavour của Hoa Kỳ mang theo mô đun Unity,
tức Thống Nhất, thực hiện cuộc ghép nối lịch sử giữa hai cấu kiện đầu tiên của công trình.
Một mô đun do Nga chế tạo bằng nguồn tài trợ của Hoa Kỳ kết nối với một mô đun do Hoa Kỳ
sản xuất dưới bàn tay của các phi hành gia quốc tế,
ISS đã ra đời theo cách đặc biệt như thế.
Không chỉ là một kỳ tích kỹ thuật,
nó còn là biểu tượng cho khả năng hợp tác vượt lên trên khắc biển,
mở ra chương mới trong lịch sử chinh phục không gian,
biến quỹ đạo tầm thấp, leo thành điểm cao chiến lược của hàng nghìn
nghiên cứu khoa học và công nghệ.
Thế nhưng, đạt được sự đồng thuận trên bàn đàm phán mới chỉ là bước khởi đầu.
Làm thế nào con người có thể đưa hàng trăm tấn cấu kiện thép lên độ cao khoảng 400 km,
rồi lắp dắp chúng với độ chính xác gần như tuyệt đối giữa môi trường chân không khắc nghiệt?
Ai đã đảm nhận vai trò chú ngựa thồ trong đại công trường ngoài không gian đây?
Và phía sau, kỳ tích kỹ nghệ đó còn ẩn chứa những bi kịch cùng những khoảnh khắc sinh tử nào?
Trường 2, chú ngựa thồ mang tên Phi Thuyền Thoi và kỳ quan kỹ nghệ vô tiền khoáng hậu.
Lại nói, trong lĩnh vực hàng không vũ trụ, nếu việc phóng một vệ tinh lên quỹ đạo
có thể ví như bắn trúng một mũi tên từ khoảng cách hàng trăm km,
thì việc xây dựng trạm vũ trụ quốc tế IADES lại chẳng khác nào một cuộc xếp hình Lego khổng lồ
giữa khoảng không vô tận, nơi mỗi mảnh ghép nặng tới hàng chục tấn được liên kết với nhau
và chỉ một size số nhỏ cũng có thể kéo theo hậu quả khôn lường.
Trong đại công trường độc nhất vô nhị ấy, đội Phi Thuyền Thoi của cơ quan hàng không
và vũ trụ Hoa Kỳ chính là chú ngựa thồ vĩ đại, âm thầm ngánh trên vai hơn 80% khối lượng
các cấu kiện làm nên linh hồn của toàn bộ công trình.
Muốn đưa một cô máy khổng lồ vượt khỏi lực hút của trái đất đã là kỳ tích,
nhưng mang theo những khối kết cấu siêu nặng, siêu công cành lên quỹ đạo,
rồi trực tiếp lắp ráp trúng thành một chỉnh thẻ hoàn chỉnh còn là thử thách lớn hơn gấp bội.
Các hòa tiến đẩy truyền thống thời bấy giờ, dù mạnh mẽ đến đâu,
cũng chỉ đóng vai trò như những mũi tên một lần, đưa tải trọng lên không gian rồi kết thúc sứ mệnh.
Trong khi đó, Phi Thuyền Thoi của Hoa Kỳ lại sở hữu một lợi thế
mà không phương tiện không gian nào cùng thời có được.
Khoang chữa hàng của nó dài tới 18 mét, rộng 4,6 mét,
đủ sức mang theo những cấu kiện có kích thước khổng lồ.
Chính nhờ khoang bụng rộng lớn ấy, những chiếc Discovery, Atlantis và Endeavour
mới có thể lần lượt cõng lên quỹ đạo các phòng thí nghiệm hiện đại bậc nhất của nhân loại.
Từ mô đun Destiny của Hoa Kỳ, Columbus của châu Âu, cho đến Kibo,
niềm tự hào khoa học của Nhật Bản, tất cả đều từng nằm gọn trong khoang chữa trước khi được chuyển vào không gian.
Không dừng lại ở đó, toàn bộ hệ thống không gian tích hợp dài hơn 100 mét,
bộ xương sống nâng đỡ những giải pin năng lượng mặt trời khổng lồ của ISS,
cũng được chia thành nhiều phân để vận chuyển bằng chính đội Phi Thuyền Thoi huyền thoại của Hoa Kỳ.
Thế nhưng, nếu Phi Thuyền Thoi là sức mạnh vận chuyển,
thì đôi bàn tay thực hiện sứ mạnh gắn kết từng mảnh cấu kiện của trạm vũ trụ lại với nhau
chính là do cánh tay robot Canadarm2 của Canada đảm nhiệm.
Với chiều dài khoảng 17 mét, chiếc cần cầu đặc biệt này có thể di chuyển linh hoạt dọc theo thân trạm,
nhẹ nhàng nhức những mô đun nặng hàng chục tấn ra khỏi khoang chữa của Phi Thuyền Thoi,
rồi đặt chúng vào đúng vị trí ghép nối với độ chính xác gần như tuyệt đối.
Song hành cùng những cỗ máy hiện đại là sự hy sinh thầm lặng của các phi hành gia
qua hàng trăm giờ đi bộ ngoài không gian.
Giữa môi trường chân không nghiệt ngá, nơi nhiệt độ có thể thay đổi đột ngột từ âm 150 độ C
trong bóng tối lên tới dương 120 độ C giữa ánh nắng mặt trời trực tiếp,
những người thợ xây vũ trụ vẫn phải miệt mài làm việc từ 6 đến 8 giờ cho mỗi nhiệm vụ.
Trong những bộ đồ bảo hộ cồng cành và đầy hạn chế, họ kiên nhẫn siết từng con ốc,
kết nối hàng nghìn mét dây cắp điện cùng hệ thống đường ống dẫn dung dịch làm mát ammonia,
từng bước hoàn thiện công trình phức tạp bậc nhất lịch sử nhân loại.
Một ưu thế kỹ thuật khác khiến Phi Thuyền Thoi trở thành phương tiện gần như không thể thay thế
chính là khả năng hạ cánh trên đường băng như một chiếc máy bay.
Nhờ năng lực tái nhập khí quyển an toàn ấy, Phi Thuyền Thoi không chỉ đưa hàng hóa lên trạm
vũ trụ quốc tế ISS, mà còn có thể mang những thiết bị hỏng hóc cùng các mẫu thí nghiệm khoa học
kích thước lớn trở về trái đất để các kỹ sư kiểm tra, nghiên cứu và tái sử dụng,
điều mà các tàu vũ trụ dùng một lần khi ấy hoàn toàn không thể thực hiện được.
Thế nhưng, hành trình kiến tạo bất kỳ kỳ quan nào cũng phải đi qua những nốt chầm đau thương.
Ngày 1 tháng 2 năm 2003, thảm họa Phi Thuyền Thoi Columbia tan rã
khi tái nhập khí quyển đã cướp đi sinh mạng của 7 phi hành gia tài năng,
ráng một đòn nặng nề vào toàn bộ chương trình không gian của Hoa Kỳ.
Đội bay Phi Thuyền Thoi phải tạm dừng hoạt động hơn 2 năm rưỡi để điều tra và khắc phục sự cố,
khiến tiến độ xây dựng ISS đứng trước nguy cơ đổ vỡ.
Trong giai đoạn cam gói, chính các tàu Soyuz và Progress của Nga
đã âm thầm gánh vác trọng trách duy trì sự sống trên trạm,
đưa phi hành đoàn cùng nhu yếu phẩm tiếp tế lên quỹ đạo,
giữ cho hòn ngọc ISS không bị bỏ lại giữa khoảng không của quạnh.
Cuối cùng, sau 37 chuyến bay trực tiếp phục vụ việc xây dựng và bảo trí ISS,
đội Phi Thuyền Thoi đã hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh lịch sử trước khi chính thức nghỉ hưu vào năm 2011.
Điều họ để lại không chỉ là một pháo đài hoàn chỉnh giữa quỹ đạo,
mà còn là một trong những thành tiệu kỹ thuật vĩ đại nhất của nền ban minh nhân loại,
mở đường cho những chương mới của khoa học không gian.
Tuy nhiên, trong khi công trình trị giá khoảng 150 tỷ đô la Mỹ
đã xây dựng hoàn tất và hiên ngang đứng vững giữa quỹ đạo,
thì một câu hỏi rất thực tế lại được đặt ra.
ISS có thật chỉ là một món đồ chơi đắt đỏ ngoài không gian của giới khoa học,
hay đó mới chính là sưởng sản xuất tương lai
đang âm thầm mang lại những giá trị to lớn cho cuộc sống dưới mặt đất?
Và kể từ đây, những món quà vô giá mà ISS dành cho nhân loại
cùng những góc khuất sinh tồn nghiệt ngã của các phi hành gia giữa không gian
sẽ được mở ra trong chương hồi kế tiếp.
Quý khán thính giả thân mến, trong suốt nhiều thập kỷ qua,
dư luận thế giới không ít lần dấy lên những tranh cãi gãy gắt.
Tại sao nhân loại lại phải tiêu tốn tới 150 tỷ đô la Mỹ,
một số tiền đủ để xây dựng vô số trường học, bệnh viện hay hạ tầng dưới mặt đất,
chỉ để duy trì một khối thép trôi rạt ở độ cao 400 km?
Thế nhưng, nếu ví ISS như một máy sản xuất tương lai,
người ta sẽ nhận ra rằng mỗi đô la đầu tư vào cỗ máy này
đều đang thầm lặng trả lại cho trái đất
những giá trị nhân văn và khoa học vượt xa mọi phép tính tài chính thông thường.
Bí mật nằm ở ba chữ, vi trọng lực.
Trên trái đất, lực hấp dẫn là một vòng kìm kẹp vĩnh cửu.
Nó kéo mọi thứ xuống, gây ra hiện tượng đối lưu nhiệt,
sự lắng động của chất lỏng và làm biến dạng cấu trúc của các thể tinh thể.
Nhưng ở độ cao của ISS, trong trạng thái rơi tự do vĩnh cửu,
lực hấp dẫn dường như bị triệt tiêu gần như hoàn toàn.
Đây chính là môi trường vàng độc nhất vô nhị,
mà không một phòng thí nghiệm tối tân nào dưới mặt đất có thể tái tạo liên tục được.
Trong môi trường đặc biệt,
các nhà khoa học đã tạo ra những bước tiến mang tính cách mạng cho y học nhân loại,
tinh thể protein, nguyên liệu cốt lõi để nghiên cứu cấu trúc phân tử sinh học.
Khi phát triển trên ISS đạt độ tinh khiết và kích thước lớn hơn gấp nhiều lần so với trên trái đất.
Nhờ đó, các tập đoàn dược phẩm hàng đầu đã giải mã được cấu trúc của các protein liên quan đến
bệnh ung thư, hồi chứng loạn dưỡng cơ Duchenne, bệnh Parkinson và bệnh Alzheimer.
Từ những dữ liệu tinh xảo thu được trên không gian,
các dòng thuốc điều trị thế hệ mới đã ra đời,
mang lại hy vọng sống cho hàng triệu bệnh nhân dưới mặt đất.
Không chỉ có y học, những công nghệ sinh tồn khắc nghiệt trên ISS cũng đã quay trở về phục vụ đời sống thường nhật.
Để giữ cho các phi hành gia sống sót trong một chu kỳ khép kín,
ISS sở hữu hệ thống hỗ trợ sinh tồn và tái chế nước đạt hiệu suất kinh ngạc,
tái chế tới 98% lượng nước sinh hoạt từ hơi thở, mồ hôi và cả nước tiểu của phi hành đoàn.
Công nghệ lọc màng siêu nhỏ và khử trùng tiên tiến này sau đó đã được chuyển giao,
giúp sản xuất các thiết bị lọc nước lưu động cứu sống hàng triệu người dân ở các vùng hoang mạc khô hạn
hoặc những nơi bị thiên tai, lũ lụt tàn phá nghiêm trọng, gây ô nhiễm nguồn nước, sinh hoạt thiết yếu.
Bên cạnh đó, vị trí quan sát đắc địa trên quý đảo tầm thấp leo
còn biến ISS thành một đôi mắt thần quan sát trái đất.
Các hệ thống cảm biến quang học và radar hiện đại lắp đặt ngoài thân trạm vũ trụ này
liên tục theo dõi sự biến đổi khí hậu, đo lường độ ẩm của đất,
phát hiện sớm các đợt cháy rừng diện rộng và dự báo đường đi của những trận siêu báo,
giúp các quốc gia chủ động ứng phó với thiên tai, giảm thiểu tối đa những thiệt hại về người và tài sản.
Tuy nhiên, để đổi lấy những món quà vô giá ấy cho nền văn minh nhân loại,
các phi hành gia trên ISS đã phải trả một cái giá tiêu hào về sức khỏe sinh lý không hề nhỏ.
Môi trường vi trọng lực là một phép thử tàn nhẫn đối với cơ thể sinh học con người.
Khi không còn lực hút trái đất, khoảng 2 lít dịch chất lỏng trong cơ thể
sẽ dồn ngược từ phần dưới lên vùng ngực và đầu, gây ra hội chứng dịch chuyển chất lưu,
khiến khuôn mặt họ xưng phồng trong khi đôi chân bị teo nhỏ lại.
Chưa dừng lại ở đó, trong môi trường phi trọng lượng,
Mật độ phân tử xương của họ suy giảm trung bình từ 1% đến 1,5% mỗi tháng,
tương đương với tốc độ loãng xương trong nhiều năm của một người cao tuổi sống dưới mặt đất.
Bởi vậy, các chuyên gia sống và làm việc trên trạm nghiên cứu vũ trụ ISS
bắt buộc phải tập luyện kháng lực 2,5 tiếng mỗi ngày trên các thiết bị chuyên dụng
như máy chạy bộ thai hay thiết bị ARES để giữ cho cơ bắp không bị thoái hóa hoàn toàn.
Đằng sau những nụ cười dạng dỡ truyền về từ không trung là những giọt mồ hôi,
sự đau đớn và cả những rủi ro nhiễm bức xạ vũ trụ dai dẳng
mà họ chấp nhận gánh vác vì sự tiến bộ của khoa học.
Thế nhưng, đúng như Phật Pháp đã từng thuyết giảng,
vạn sự vạn vật đều phải trải qua quá trình.
Thành, trụ, hoại, diệt, sinh mệnh hay vật thể?
Dẫu vĩ đại đến đâu?
Sau hơn ba thập niên kiên cường chống chọi với môi trường tử thần ngoài vũ trụ,
cỗ máy 150 tỷ đô la mang tên ISS đang dần tiến tới những ngày tháng cuối cùng của sứ mệnh.
Theo dự kiến, kịch bản nghỉ hưu và cú hạ cánh rung rợn của khối thép nặng 420 tấn
xuống lòng đại dương sẽ diễn ra như thế nào vào năm 2030.
Và khi biểu tượng của thế kỷ 20 chính thức khép lại,
gác khổng lồ công nghệ SpaceX cùng tầm nhìn của Elon Musk
sẽ làm gì để tái thiết lại bản đồ quyền lực ngoài không chung?
Những diễn biến kịch tính về tương lai kế nhiệm của Kỷ nguyên không gian
sẽ được chúng ta đề cập đến trong chương hồi thứ bốn của thiên kịch bản.
Chương bốn, Cú hạ cánh năm 2030 và Kỷ nguyên bắt đầu từ SpaceX,
lại nói, vạn sự vạn vật dẫu nguy nga, hoành tráng hay bền bỉ đến nhường nào,
thì thời gian vẫn lặng lẽ để lại dấu ấn của mình trên đó.
Trạm vũ trụ quốc tế ISS cũng không nằm ngoài quy luật ấy.
Sau hơn ba thập niên không ngừng chống trọi với những chu kỳ co giãn nhiệt khắc nghiệt,
ma sát của tầng khí quyển và vô số va chạm với giác vũ trụ,
kết cấu kim loại của ISS đã bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu láo hóa.
Cô pháo đài bay khổng lồ từng là niềm tự hào của nền văn minh hiện đại này,
đang bước vào chặng đếm ngược cuối cùng trước khi khép lại sứ mệnh lịch sử vào năm 2030.
Nhưng kết thúc một công trình khổng lồ ngoài không gian chưa bao giờ là chuyện đơn giản.
Làm thế nào để khai tử một cỗ máy nặng hơn 420 tấn,
đang lao quanh trái đất với vận tốc khoảng 27.600 km một giờ,
mà không biến nó thành mối nguy hiểm đối với sự sống dưới mặt đất?
Đó chính là bài toán kỹ thuật cuối cùng,
và cũng là thử thách khó khăn bậc nhất của toàn bộ chương trình ISS.
Nếu để chạm rơi tự do ngoài tầm kiểm soát,
ma sát khí quyển chỉ có thể thiêu hủy một phần kết cấu,
trong khi nhiều cấu kiện có khối lượng lớn vẫn có khả năng
xuyên qua bầu khí quyển và rơi xuống trái đất,
tạo nên những rủi ro không thể xem nhẹ.
Để giải được bài toán trên, NASA đã giao cho SpaceX một hợp đồng
trị giá tối đa 843 triệu đô la để phát triển một con tàu chuyên dụng,
viết tắt là USDV,
dùng cho nhiệm vụ kéo ISS rời quỹ đạo vào cuối vòng đời.
Con tàu này sẽ ghép nối với ISS,
điều chỉnh quỹ đạo từng bước,
rồi dẫn chạm vũ trụ tái nhập khí quyển theo cách có kiểm soát,
nhằm giảm tối đa nguy cơ mảnh vỡ rơi xuống khu vực có người ở.
Cụ thể, theo như kế hoạch,
WV sẽ được phóng lên quỹ đạo,
tiếp cận rồi kết nối trực tiếp với ISS,
sau đó dùng các lần đốt động cờ,
Thay vì đẩy ISS lao thẳng xuống khí quyển,
phương tiện này sẽ dẫn dắt chạm đi theo một chuỗi quỹ đạo hạ dần,
giống như thao tác phanh nhiều lần,
để thời điểm tái nhập và điểm rơi cuối cùng
đều nằm trong vùng NASA có thể kiểm soát.
Trong quá trình tái nhập,
phần lớn kết cấu khổng lồ của ISS,
nặng gần 420 tấn
và trải dài gần bằng một sân bóng bầu dục,
sẽ cháy rụi khi ma sát với không khí
ở tầng khí quyển dày đặc tăng lên tới mức cực hạn.
Những mảnh vỡ còn sót lại,
chủ yếu là các cấu kiện kim loại lớn khó cháy hết,
sẽ được dẫn hướng để cho rơi xuống
một vùng biển xa xôi ở Nam Thái Bình Dương,
khu vực cách đất liền hàng nghìn km.
Nơi được biết đến với tên gọi
điểm Nemo,
cực đại dương hẻo lánh
và từ lâu vẫn được mệnh danh là
nghĩa địa tàu vũ trụ của nhân loại.
Tại đây, trong hơn nửa thế kỷ qua,
nhiều phòng thí nghiệm bay như Chạm Mia của Nga,
các tàu chở hàng Progress
hay những module đã hết hạn sử dụng
đã kết thúc hành trình,
biến vùng biển này thành điểm hẹn cuối cùng
cho những cỗ máy từng đại diện
cho đỉnh cao công nghệ trên quỹ đạo.
Thế nhưng, sự kết thúc của ISS
không đồng nghĩa với dấu chấm hết
của kỷ nguyên trinh phục không gian.
Trái lại, đó có thể là phát súng mở màn
trong một giai đoạn phát triển hoàn toàn mới,
nơi vai trò tiên phong dân chuyển
từ các chương trình thuần túy của chính phủ
sang khu vực tư nhân.
Và cái tên nổi bật nhất trong lan sóng chuyển mình ấy
lại chính là SpaceX.
Với siêu hỏa tiến Starship,
được thiết kế theo mục tiêu tái sử dụng hoàn toàn
và có khả năng đưa hơn 100 tấn
tải trọng lên quỹ đạo,
chi phí vận chuyển hàng hóa và không gian của Starship
được kỳ vọng sẽ giảm tới 90%
so với thời kỳ phi thuyền thòi
mở ra một bước ngoặt lớn cho ngành hàng không vũ trụ,
tầm nhìn của tương lai.
Vì thế cũng đang thay đổi.
Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào một trạm vũ trụ khổng lồ
vận hành bằng ngân sách quốc gia,
nhân loại đang hướng tới hệ sinh thái
các trạm vũ trụ thương mại thế hệ mới
như Axiom Station hay Orbital Rift,
nhỏ gọn hơn, linh hoạt hơn
và được vận hành theo mô hình thương mại.
Những trạm quỹ đạo này
sẽ tiếp tục duy trì sự hiện diện của con người
trên quỹ đạo tầm thấp,
đồng thời giải phóng nguồn lực để NASA
cùng các đối tác tập trung cho chương trình Artemis
đưa con người trở lại mặt trăng
và từng bước hiện thực hóa khát vọng chinh phục hỏa tinh.
Mở ra chương tiếp theo
Chương 5
Thay cho lời kết,
quý khán thính giả thân mến,
hành trình khám phá trạm vũ trụ quốc tế ISS của chúng ta
cũng đang từ từ ca khúc vĩ thành.
Từ một ý tưởng tưởng trừng như không tưởng
giữa những năm tháng căng thẳng
của cuộc chiến tranh lạnh,
ISS đã vượt lên trên mọi sự khác biệt
để trở thành công trình khoa học phức tạp
và đồ sộ bậc nhất mà loài người từng tạo dựng.
Hơn ba thập niên tồn tại trên quỹ đạo,
pháo đài thép ấy không chỉ chứng kiến
hàng trăm phi hành gia đến rồi đi,
hàng nghìn thí nghiệm được thực hiện
mà còn âm thầm chứng minh một chân lý giảm dị.
Chí tuệ con người chỉ thật sự phát huy
sức mạnh lớn nhất khi biết kết nối
thay vì đối đầu. Ngạn ngữ A Đông qua cầu
một bàn tay vỗ không thành tiếng.
ISS cũng vậy.
Đó không phải là chiến thắng của riêng Hoa Kỳ,
nước Nga, châu Âu, Nhật Bản hay Canada
mà là thành quả của sự cộng hưởng
giữa tri thức, ý chí và lòng kiên trì
của biết bao thế hệ con người.
Có lẽ đó mới chính là công nghệ vĩ đại nhất
mà ISS từng để lại cho nhân loại.
Ở chiều cao hơn 400 km phía trên đầu chúng ta,
ISS hiện vẫn đang lặng lẽ
quay quanh trái đất hàng trăm nghìn vòng
như một lời nhắc nhở rằng
tri thức cũng giống như bầu trời bao la rộng lớn kia.
Càng khám phá, càng thấy mình nhỏ bé.
Càng bước tiếp, càng nhận ra
phía trước vẫn còn vô vản
không gian huyển áo và sâu rộng.
Có lẽ giờ đây, ISS sẽ hoàn thành sứ mệnh
và lặng lẽ trở về giữa Thái Bình Dương.
Nhưng những bài học mà nó để lại
sẽ còn tiếp tục đồng hành cùng nhân loại
trên những chuyến bay đến mặt trăng,
sao hỏa và xa hơn nữa.
Bởi suy cho cùng, điều đáng nhớ nhất
của một công trình không nằm ở tuổi thọ của thép
hay giá trị của những con số đầu tư
mà nằm ở việc nó đã giúp con người
tiến thêm được bao xa trên hành trình chinh phục chính mình.
Đến đây, hành trình du hành
tri thức của Bình Quân Sự cũng đang dần dà khép lại.
Cảm ơn toàn thể quý khán, thính giả
đã dành thời gian đồng hành cùng chúng tôi
từ những vòng quay đầu tiên của ISS
cho đến phút cuối của câu chuyện hôm nay.
Nếu thấy video mang lại những góc nhìn thú vị,
vậy mong mọi người đừng quên dành cho kênh
một nút bấm like hoặc đôi dòng cảm nhận,
bởi biết đâu chỉ một thao tác nhấp chuột
rất nhỏ của quý vị hôm nay,
lại là nguồn nhiên liệu sạch để chúng tôi có thêm động lực
thực hiện những hành trình du hành
và khám phá lớn hơn trong tương lai.
Còn bây giờ, Lê Minh xin kính chào tạm biệt
và hẹn gặp lại mọi người trong những thiên kịch bản tiếp theo
của Bình Quân Sự.
