Câu chuyện | Thiên cổ anh hùng Hàn Tín | Phần 6 | Một lòng trung thành

Bảy sắc cầu vồng
952 Người theo dõi
#baysaccauvong
https://chanhkien.org/2022/08/thien-co-anh-hung-han-tin-1-long-om-chi-lon-an-than-giau-tai.html
…………………………………………………………………
Âm nhạc: Chánh Kiến.
Giọng đọc: Bạch Liên.
Bài sát Cầu Vọng kính chào quý khán giả. Mời các bạn cùng nghe luật bài về Thiên Cổ Anh Hùng Hàn Tín, phần 6, Một Lòng Trung Thành.
7. Chiếm lĩnh nước tề
Nước tề đất dần người đông thực lực hù hậu. Khi sở hán giằng co, nước tề bảo trì trung lập, tọa sơn quan hù đấu.
Sau khi nước triều bị công phá, vì đề phòng Hàn Tín tấn công, nước tề đã điều hai mươi vạn đại quân tới biên giới, bày sẵn trận địa chờ Hàn Tín.
Dù lưu bang hiều trá thâm độc lại tước mất binh quyền của Hàn Tín, nhưng Hàn Tín đối với hán vẫn một lòng trung thành như thở đầu.
Ông lập tức chiêu binh mãi mãi, tổ chức lại một nhánh quân mới, chuẩn bị tiến đánh nước tề.
Hàn Tín trì quân là có phương pháp bài bàn. Tân binh được chiêu bộ chỉ sau một thời gian ngắn huấn luyện, đã trở thành những tinh binh thiện chiến.
Lưu bang lại lo số đường tân binh không đủ để đối kháng với quân tề, nên điều tàu tham và quán anh đến giúp đỡ, cũng là để tiện bề giám sát Hàn Tín.
Trước lúc Hàn Tín xuất binh đánh tề, bu sĩ của lưu bang là Lệ Thực Kỳ, xin được Sam Tề chiêu hàng.
Ông đến nước tề không e rẻ, và ngay trước mặt tề vương Điền Quảng, và tứ quốc nước tề là Điền Hoành, tuyên dương chiến tích ngày trước của Hàn Tín.
Nêu ra bài học kinh nghiệm của Ngụy Phương Báo, Triệu Phương Ít và Trần Dư, Hà Thuyết và Tiền Lệ Đức Yên đầu hàng, chỉ ra rằng chỉ quy hàng mới có thể giữ được Sam Sơn, còn không sẽ bị diệt vong.
Điền Hoành và Điền Quảng không phải là đồng minh của hàng Vũ, nếu giao chiến với Hàn Tín cũng không nắm chắc phần thắng, nên bị Lệ Thực Kỳ thuyết phục mà quy hàng.
Còn tôn Lệ Thực Kỳ làm thượng khách, đồng thời cũng buôn lòng việc phòng thủ ở Biên Cương.
Hàn Tín dẫn quân tiến về phía Đông, khi còn chưa từ Đồng Bằng vượt qua hàng Hà, nên nghe nói Lệ Thực Kỳ do Hán Vương phải đi đã thuyết phục được nước tề quy hàng.
Tuy không rõ nội tình, ông vẫn lên kế hoạch thu binh trở về Kinh Thành. Nhưng mưu sĩ Khoái Triệt lại có suy nghĩ khác.
Khoái Triệt là người đất Phạm Dương. Để tránh phạm tên hủy của Hán Vũ Đế, Lưu Triệt nên sửa sách thường dùng từ Thông thay cho từ Triệt, gọi ông là Khoái Thông.
Ông là người thông minh nhảy bén, có tài hùng biển. Trong những năm cuối của nhà Tần 2009 trước công nguyên, Trần Thắng tự lập mình làm vương, phái đại tướng quân Vũ Thần dẫn quân tiến đánh nước Triệu.
Khoái Triệt trợ giúp Vũ Thần, khuyên huyệt lệnh Phạm Dương đầu hàng, do đó ảnh hưởng đến các quan ấp lệnh khác của nước Triệu, khiến Vũ Thần không hao phí một binh tốt nào đã chiếm được hơn 30 thành. Do đó Khoái Triệt được kết đến là một thuyết sĩ.
Khoái Triệt cảm thấy việc hành động bãi binh ngương chiến của Hàng Tín lần này là không thòa đáng. Ông nhắc nhở Hàng Tín.
Hơn nữa, lệ thực kỳ chỉ là một gã thư sinh, chỉ dựa vào ba tức lưỡi mà thật sự có thể khuyên hàng được một nước Tề mạnh như vậy sao? Nếu không có sức mạnh và uy dũ quân đội của Ngài tiến sát biên giới trấn áp, thì đây sẽ là chuyện không thể.
Hàn Tín cảm thấy lời của khói triệt rất có lý. Nước Tề thực lực không mạnh, không dễ mà, tận tâm tận lực phục tùng nhà Hán. Nếu một ngày kia thế cuộc thay đổi, khó tránh sinh lòng phản nghịch, tốt hơn nên giải quyết triệt Trề.
Có học giả đời sau cho rằng Hàn Tín là người gây ra cái chết của Lệ thực kỳ, rằng Hàn Tín đánh Tề là do ông đổ kỳ với công lao của Lệ thực kỳ. Khi thực, quan điểm này là vô căn cứ, có 3 nguyên nhân như sau.
Thứ hai, từ bình đình Tam Tần đến gửi cư triều hàng nước yên, công lao của Hàn Tín đối với nhà Hán đã vượt trên tất cả chiến tướng và mô sĩ dưới trưởng Lưu Bang. Ông hoàn toàn không cần thiết phải tranh cao thấp với một mô sĩ.
Người mà ngay cả con của mình cũng không màng, thì làm sao có thể để tâm đến một mù sĩ hèn mọt đây? Bởi vậy, Lệ thực kỳ chết là lỗi ở Lưu Bang.
Hơn nữa, điểm này cũng cho thấy một quỷ kế khác của Lưu Bang, nhằm khiến Hàn Tín dù thắng hai bài đều không thể có quyết cục tốt. Nếu Hàn Tín ngưng đánh thì là làm trái ý của Lưu Bang, còn nếu Hàn Tín tiến đánh thì vẫn là làm trái ý của Lưu Bang.
Cuộc chiến diệt Tề đã khiến trinh lệch lực lượng quân đội ngưng về phía nhà Hán. Quân Hán đã hoàn thành việc bao vây hàng vũ trên quy mô lớn, là sự bảo đảm chắc thắng lời sau cùng.
Diệt triệu, phạt Tề là những trận đánh kinh điển của Hàn Tín, từ trạng thái không binh đến lấy ít thắng nhiều, bắt toàn bộ quân địch, giết dù xoái, công chiếm hoàn toàn một nước chỉ mất mấy tháng.
8. Trần Chiến Duy Thủy
Thời gian Hàn Tín công phá nước Tề cũng chính là lúc hàng vũ đông chinh bành việt lần thứ hai. Chỉ trong 15 ngày đã lấy lại 17 tòa thành trì, bình định đất lương, Tề vương điền quảng bài trần tan tác, bắt rắc rĩ đành cầu cứu hàng vũ.
Sau khi suy nghĩ kỹ lưỡng, hàng vũ quyết định để Đại tướng Long Thư làm thống xoái, dẫn theo 20 vạn binh mã đi cứu Tề.
Long Thư tấn tốc hành đầu, đến tháng 10 đã cùng Tề vương điền quảng hợp lực ở Cao Mật. Tình thế khi đó đối với Hàn Tín có thể nói là vô cùng bất lợi.
Phía Tây Nam có quân của Điền Hoành, Đông Nam có quân của Điền Quang, Đông Bắc có quân của Điền Ký, tạo thành thế giác công.
Đồng khi đó, Hàn Tín chỉ có trong tay không đến 10 vạn quân. Đã vậy, còn phải phân tán binh lực đi các nơi như Lịch Hạ, Lâm Tri để đề phòng sự phản công của Điền Hoành, Điền Ký.
Khi hai quân còn chưa giao tranh, mưu sĩ dưới trướng Long Thư đã hiến kế rằng quân Hán xa quê liều chết chiến đấu, tinh nhuệ khí thế khó bề cản nổi.
Còn hai quân Tề Sở thì lại tác chiến ngay trước cửa nhà, nên binh sĩ dế bề tháo chạy. Bởi vậy, chỉ bằng cho xây dựng lũy cao, hào sâu để Tề Vương Phái Đại Thần tầm phúc đi chiêu hàng những thành ấp.
Tướng Sí ở những thành ấp đó nếu biết được quân Vương của mình vẫn còn sống, lại thêm quân Sở đến cứu Điền, nhất định đều sẽ vùng lên chống lại quân Hán.
Quân Hán đang tạm lưu tại đất Tề, cách xa bàn quốc 2.000 rằm. Nếu như toàn bộ thành ấp nước Tề đều nhất để phản công, quân Hán sẽ không có chỗ nào để lấy lương thảo. Như vậy, có thể không cần phải đánh mà lại tự khiến địch tự hàng.
Đây quả thực là thường sách trong thường sách để phá quân Hàn Tín. Nhưng Long Thư lại không đồng ý. Ông nói, Hàn Tín chẳng qua chỉ là kẻ sống nhờ đồ bố thí của bà lão giặt đồ, tuy qua Hán người khác không đáng để phải sợ.
Và lại hiện giờ mang danh đi cứu Việt nước Tề, nếu không đánh một trận mà chỉ chờ quân Hán chủ động đầu hàng, thì há chẳng phải ta không có công lao gì đáng kể ưa. Nếu đánh bại Hàn Tín, một lửa nước Tề liệt rơi vào tay ta.
Điều Long Thư suy tính chính là, nếu như kiên thủ không đánh, lực lượng quân Tề sẽ nhanh chóng khôi phục. Tuy là có thể đánh bại Hàn Tín, nhưng người nắm giữ nước Tề vẫn là họ điền. Long Thư và nước Sờ sẽ không thu được lợi lọc gì.
Nước Tề và nước Sờ vốn có thù không đổi trời chung, lần này cũng bởi tình thế ép buộc mới phải tạo gác ân oán sang một bên. Một khi qua cơn huy khốn, quan hệ hợp tác giữa hai bên cũng sẽ lập tức tan thành mây khói.
Vậy thì Long Thư tiến quân lên phía Bắc lần này chẳng qua chỉ là làm không công cho nước Tề. Bởi vậy Long Thư chỉ còn cách quyết đấu với Hàn Tín một phen.
Tháng 11, năm Hán cao tổ thứ ba năm 2002 thức công nguyên. Liên quân Tề Sờ bày binh bố trận ở bên kia song Duy Thủy. Điền Quảng và Long Thư hợp quân ở bờ Đông, còn Hàn Tín thì ở bờ Tây.
Ông lấy cho một nửa số quân mã ma phục ở bờ song, còn bản thân dẫn theo một nửa binh sĩ vượt song tập kích Long Thư.
Hàn Tín giả thua, tháo chạy trở về. Long Thư dương dương từ đắc, càng tin Hàn Tín là kẻ nhát gan. Bèn tiên phong cưỡi ngựa sung trần, dẫn theo rất nhiều binh sĩ vượt song tuy kích.
Quán Anh tiếp tục tiến quân đến Can Thừa Công đánh tướng Điền Hấp. Hai tướng tè là Điền Hấp, Điền Quảng đều tử trận nơi chiến trường. Cuối cùng quân Hán đã bình định đất tè, tổng cộng chiếm được hơn 70 thành trì.
9. Từ sinh phong vương
Cho nên, việc trấn thủ nước tè quả là một thách thức rất lớn. So với nước yên, thế cuộc nước tè càng phức tạp hơn. Bên cạnh Hàn Tín cũng không có nhân tài quản lý đất nước tựa như Trương Nhĩ, và chỉ có những người nhà, võ như Quán Anh, Tàu Tham.
Như vậy, Hàn Tín xin để bản thân được làm giả tè vương, ý tứ là tè vương tạm thời. Trước nay, Lưu Bang vốn kiêng rè Hàn Tín, trước đó bởi phải dựa vào Hàn Tín đối chọi với Hạng Vũ, nên mới đành phải trao cho Hàn Tín phần nào binh quyền.
Trước hết, việc lập tè vương là tình thế bắt buộc. Lưu Bang không nhìn ra được điểm này, hoặc không thể chấp nhận điểm này. Hàn Tín dưng tấu thư nói thẳng vấn đề, ấy là việc làm của bậc trung thần. Thế thì ai thích hợp làm người cai trị đất tè đây?
Hàn Tín ở đất tè liên tiếp thắng trần, tuy danh tới như mặt trời chính ngọt. Ngoài Hàn Tín ra, xác thực không còn ai có thể ổn định thế cục của nước tè.
Thứ hai, Hàn Tín đã lập nên viết bao chiến công hiển hách cho Lưu Bang. Dù có thật sự luận công thỉnh thường, phong âu làm tè vương thì cũng không quá đáng chút nào.
Thứ ba, lòng đối kỳ chèn ép và loại trừ Hàn Tín của Lưu Bang vốn không phải từ khi Hàn Tín xin sắc phong cho mình là tè vương mới xuất hiện, mà nó đã bắt đầu ngay từ khi rời khỏi Hán Trung.
Lưu Bang đều là những lúc bản thân cùng đường bí lối mới tái dùng Hàn Tín. Còn khi tình huống chỉ hơi có chút chuyển biến tốt lên, nên lập tức tước binh quyền hoặc kìm hãng sự phát triển của Hàn Tín.
Tuy là Hàn Tín vẫn luôn lấy đức báo oán, một lòng trung thành và tận tâm với nhà Hán cũng không sao cảm hóa được Lưu Bang.
Mặc dù Lưu Bang ngay đến tức vương cũ không muốn phong cho Hàn Tín, nhưng công lao và năng lực của Hàn Tín thì trong mắt của người trong thiên hạ đã quá rõ ràng.
Rất nhiều kẻ sĩ tri thức đều nhận ra Hàn Tín mới là người nắm giữ đại cục, có thể thống nhất thiên hạ.
Nếu Hàn Tín đầu quân cho Lưu Bang, nhà Hán thắng, nếu ông đảo hướng nghiêng về Hạng Vũ, nước sở thắng, còn ví như tự mình làm vương thì sẽ chia ba thiên hạ.
Hạng Vũ vốn tự tin bản thân mình là thiên hạ vô địch, xem thử mưu tí và binh pháp.
Cái chết của Long Thư là một đòn nặng ráng vào ông ta.
Sau khi suy đi tính lại, Hạng Vũ đã thỉnh mời người có tài ăn nói là Vũ Thiệp đến thuyết phục Hàn Tín.
Quê của Vũ Thiệp tiếp xác với Hoài Âm nên có thể xem là đồng hương với Hàn Tín.
Người này xưa nay dựa vào tài ăn nói, hùng biển mà vang danh thiên hạ.
Khi đến gặp Hàn Tín, Vũ Thiệp phân tích rõ ràng về con người của Lưu Bang.
Chỉ ra lòng tham không đáy, hành động bội tín bội nghĩa, trở mặt vô tình và lấy oán báo ân của ông ta.
Với loại người không ràng tín nghĩa, sáng nắng chiều mưa như vậy, làm sao có thể nương tựa vào được?
Vũ Thiệp cho rằng Lưu Bang hiện nay chưa trở mặt với Hàn Tín, chẳng qua là vì muốn nhờ Hàn Tín đối phó Hạng Vũ.
Một khi diệt xong Hạng Vũ, người kế tiếp sẽ chính là Hàn Tín.
Người thông minh như Hàn Tín lẽ nào nhất định muốn dốc sức phục vụ Hán Vương để rồi khiến bản thân lâm vào tình cảnh nguy hiểm hay sao?
Vũ Thiệp đưa ra những lập luận sâu sắc, lời lẽ sắc xào để thuyết phục.
Nhưng Hàn Tín không chút động tâm và biểu đạt lòng trung thành với Lưu Bang, dù chết cũng không thay đổi.
Ông nhờ Vũ Thiệp gửi lời cảm ơn đến Hạng Vương.
Thấy thái độ cương quyết của Hàn Tín, Vũ Thiệp đành phải hậm hực ra về.
Sau khi Vũ Thiệp rời đi, tâm phúc của Hàn Tín là Khói Triệt cũng đến thảo luận với ông về chủ đề này.
Hiểu rõ Hàn Tín trong nghĩa khinh lợi, có ân át báo nên Khói Triệt đã muộn thuật xem tứa mặt mà đưa ra ý kiến với Hàn Tín.
Ông nói bản thân từng được cao nhân chỉ dạy, am hiểu sâu sắc thuật xem tướng bí truyền, có thể từ vóc dáng, khuôn mặt mà suy đoán ra vận mệnh, trước nay đều linh nghiệp.
Hàn Tín quả nhiên cảm thấy hứng thú nhờ Khói Triệt xem tướng cho mình.
Khói Triệt bào Hàn Tín lệnh cho lui tùy tùng.
Một lời, hai ý nói rằng, xem tướng mặt của tướng quân thì nhiều nhất cũng chỉ được phong hầu, hơn nữa còn có nguy hiểm, nhưng xem tướng lưng của ngài thì phú quý vô lường.
Chữ lưng bối mà Khói Triệt nói ở đây, ngụ ý là quay lưng rời bỏ Hán Vương, còn từ mặt diệt là đối lập với lưng, ý chỉ trung thành với Hán Vương.
Khói Triệt tiếp tục.
Thời đầu khi thiết hạ đại loạn, các anh hùng hào kiệt đều dương cờ xưng vương, vàn người quy tụ hưởng ứng.
Lúc bấy giờ, họ chỉ có một mục đích là lật đổ nhà tần mà thôi.
Hiện tại, thế cục đang biến thành sở hán tương tranh, khiến vô số người vô tội chết thảm, gan mật, xương cốt phơi đầy đồng hoang.
Hằng Vũ tuy có khởi đầu tốt, tuy xanh vang dội thiên hạ, thế nhưng hiện tại lại đang bị hãm ở khu vực thành phụ, ba năm không có đột phá gì.
Hán Vương dẫn theo mười vạn đại quân, dựa vào địa hình thuần lợi ở vùng Lạc Dương, mỗi ngày đánh tới mấy trần, nhưng chẳng được tức đất nào, liên tiếp bại trần tháo lui.
Họ đều là những người không đủ mưu trí và dũng cảm.
Đến nay, nhuệ khí của cả hai bên đều đã hết, tài lực cạn kiệt, bách tính chán ghét cảnh chiến tranh dai dặng, mong mỏi một cuộc sống yên ồn, nhưng không biết dựa vào ai.
Trước tình thế này, nếu không có người thánh hiền và đại đức, thì khó có thể dập tắt được sự hòa loạn của thiên hạ.
Hiện tại, vận mệnh của hai vị Vương đều nằm trong tay Ngài.
Ngài giúp Hán thì Hán thắng, Ngài giúp Sờ thì Sờ thắng.
Tôi sẵn lòng giãi bày tâm can với Ngài, xin dưng ngu kế của mình, chỉ Sờ Ngài không muốn dùng mà thôi.
Theo kế sách của tôi, thì tốt nhất là không giúp đêm nào cả.
Ngài và họ chia ba thiên hạ, tạo thế chân vạc.
Với tài năng thánh hiền của Ngài, lại thêm binh lực lớn mạnh và lãnh thổ rộng lớn của các nước Tề, Yên, Triệu Đại, sẽ có thể khống chế được hai nhà Lưu Hạc.
Chúng ta thuần theo ý dân, thì người trong thiên hạ nhất định sẽ đến hưởng ứng chúng ta.
Lấy đức, lấy lễ đối đải với các chư hầu, thì họ nhất định sẽ đến quy thần.
Thiên hạ sẽ thuộc về Tề.
Người ta thường nói, trời cho mà không lấy, thì ngược lại không chừng phải chịu tội.
Thời đến mà không hành động, thì sẽ nhận lấy tai ương.
Vậy nên mong Ngài hãy ri xét cho thật kỹ.
Hàng Tím nói, Hán Vương có ân huệ với tôi.
Tôi nghe nói rằng, đi xe người thì lo cho nỗi lo của người.
Mặc áo của người thì giúp cánh phát nỗi ưu tư của người.
Ăn cơm của người thì chết cho việc của người.
Tôi sao có thể vì tư lợi của bản thân mà bội tín, bội nghĩa chứ?
Khói Triệt nói, Túc Hà từ cho mình là chỗ sao hảo với Hán Vương.
Muốn xây dựng nên cơ nghiệp muôn đời.
Tôi thích nghĩ điều này có chỗ không đúng.
Nói như, Trương Nhĩ, Trần Dư, Sư Kia vốn là đôi bạn tri kỳ đồng sinh cộng từ.
Thế nhưng chỉ vì chút hiểu lầm nhỏ nhỏ mà đã xem nhau như kẻ thù không đổi trời chung.
Chỉ muốn mau giết đối phương cho hả dạ.
Ham muốn nhiều sẽ sinh hỏa loạn.
Hơn nữa lòng người khó lường, tình nghĩa giữa tướng quân với Hán Vương
không thể so sánh được với tình cảm của Trương Nhĩ và Trần Dư thời ban đầu.
Thế nhưng sự hiểu lầm giữa tướng quân với Hán Vương lại vượt xa mâu thuẫn của hai người kia.
Vì sao Ngài tin rằng Hán Vương không hại Ngài chứ?
Có câu rằng, thú hoang hết thì chó xanh cũng bị đem nấu.
Nước địch phá sông thì mưu thần cũng chết.
Xưa kìa, Đại phô Văn Chủng có công phục hơn nước Việt, giúp câu tiễn lên ngôi Bá Vương.
Vậy mà bản thân lại rơi vào cảnh công thành thân vong.
Hai ví dụ này còn chưa nói rõ vấn đề sao.
Tôi nghe nói rằng, những người dũng mãnh mưu trí khiến cho bực quân chủ e sợ,
thì bản thân họ rất dễ gặp nguy hiểm.
Người có công lao cái thế thì lại càng không được ban thường.
Ngài vượt Tây Hà, bắt Ngụy Vương làm tù binh,
bắt sống Hạ Duyệt dẫn binh xuống tỉnh Hình,
giết Thành An Quân, chiêu hàng Triệu Uy Hiếp Yên, Bình Định Tề,
bẻ gãy hai mươi vạn quân chi viện của sở phía Nam,
giết Long Thư ở phía Đông, trở về Tây để báo tin thắng trần.
Đó chính là công lao cái thế vô song và mưu lược thiên hạ để nhất vô nhị.
Nếu Ngài theo hạng Vũ, ông ấy cũng không dám tin tưởng Ngài.
Nếu như theo Hán Vương, Hán Vương nhất định sẽ có lo lắng trong lòng.
Vậy thì Ngài còn có thể quy thuần ai đây?
Ở địa vị bầy tôi mà công lao thiên hạ không ai có thể so bì.
Tôi thấy nguy thay cho Ngài.
Hàn Tín cắt lời khoái triệt và nói,
tiên sinh không cần nói thêm nữa để tôi suy nghĩ đã.
Vài ngày trôi qua không thấy Hàn Tín có động tĩnh.
Khoái triệt lại đi thuyết phục một lần nữa,
nói rằng biết lắng nghe ý kiến là điều kiện để thành sự,
có thể đưa ra quyết định chính xác là nhân tố then chốt để thành công.
Thời cơ dễ mất khó được.
Xin Ngài hãy suy xét thật kỹ.
Hàn Tín vẫn luôn không muốn phản Hán.
Khoái triệt tự biết sự tình hệ trọng.
Nếu cuộc trò chuyện giữa họ bị tiết lộ ra bên ngoài,
nhất định sẽ gặp họa diệt môn,
bèn giả điên làm thầy cúng, sống tha hương.
Hàn Tín quyết không tự lập mình làm vương.
Kết cục cuối cùng quả thật đã ứng nghiệm với dự ngôn của Vũ Thiệp rằng,
hạng vương hôm nay vong,
ngày mai át đến lượt túc hạ.
Người đời sau đối với điều này bình phẩm không ít.
Rất nhiều người không thể lý giải được tấm lòng.
Thà để người thiên hạ phụ ta,
ta quyết không phụ người thiên hạ của Hàn Tín.
Và xem việc ông xem thường sinh tường,
trọng lời hứa là hành động ngu mội.
Cũng có người sau nói rằng,
tài hoa cái thế của Hàn Tín chỉ có thể dùng ở mặt quân sự,
còn về mặt chính trị, không phải là đối thủ của Lưu Bang.
Kỳ thật, thắng lợi của Hàn Tín trên chiến trường
vốn không phải chỉ dựa vào binh hùng tướng mạnh,
thường là những lúc thân lâm vào cảnh đường cùng thế yếu,
dùng mưu trí phi phạm dành được thắng lợi.
Loại trí mưu này không chỉ cần có khả năng quan sát
cực kỳ tỉ mỉ tinh tế,
sự phán đoán tình thế vô cùng chuẩn xác,
mà còn cần phải là người quả cảm,
khí phách siêu phạm.
Loại trí huệ này dùng vào đâu thì cũng không ai có thể so sánh được.
Ông đã không làm theo kế của khoái triệt.
Đây chính là Hàn Tín của lịch sử.
Lưu Bang kia cũng đạt tới trình độ hiếm có trong lịch sử xưa nay,
nhưng là về sự cây độc đa nghi, mặt dày vô liêm sỉ,
chứ không phải là có trí lực và gan dạ sáng suốt hơn người.
Trên thực tế, tất cả những thành quả to lớn quan trọng
trong chiến tranh Sở Hán đều do một tay Hàn Tín làm nên.
Còn thành tựu lớn nhất của Lưu Bang
chỉ là cướp công lao của người khác về tay mình mà thôi.
