Cuộc chiến giữa Mỹ và Iran tại Trung Đông hiện đã tạm thời chú trọng về mặt quân sự. Washington chưa quay lại chiến dịch ném bom mô-tô mà chuyển tâm sang phong tỏa, trừng phạt và đấm kinh tế Iran. Thế nhưng tại eo biển Hormuz lại xuất hiện một nghịch lý: tiếng bom vĩnh viễn, nhưng hoạt động quân sự của Mỹ xung quanh tuyến hàng hải này không giảm giảm. Ngày 21/8, CENTCOM công bố hình ảnh một chiếc KC-135 Stratotanker tiếp nhiên liệu trên không cho tiêm kích F-16 và một máy bay tiếp dầu thế hệ mới KC-46 Pegasus trên bầu trời Trung Đông. Những chuyến bay như vậy không đơn thuần là tuần tra. Chúng tôi đang phục vụ một nhiệm vụ rất quan trọng mà Mỹ đã âm thầm tiến hành suốt nhiều tuần qua: đưa dầu qua Hormuz bất chấp Iran vẫn tuyên bố kiểm soát eo biển. 🔥 CẢNH BÁO: Kênh có sử dụng AI trong video để mô tả cho các bài bình luận và phân tích. 🎯 Radar Quân Sự – Góc nhìn chiến lược, cập nhật toàn cầu Radar Quân Sự là kênh YouTube chuyên phân tích sâu về quân sự và địa chính trị 🌍, mang đến góc nhìn rõ ràng, khách quan về các diễn đàn địa chính trị nóng bỏng. 🔥 Nội dung nổi bật • Cập nhật tin tức nóng ⚡ nhanh, chính xác • Phân tích chiến lược & lịch diện thế giới 📊 • Giải mã xung đột, vũ khí và sức mạnh quân sự 🔍 • Góc nhìn đa chiều, dễ hiểu cho mọi đối tượng 🎓 📺 Radar Quân Sự không chỉ là nơi cập nhật tin tức mà là “bản đồ định hướng” giúp bạn bắt đầu di chuyển thế giới một cách rõ ràng và logic hơn. 👉 Theo dõi Radar Quân Sự để không bỏ lỡ những phân tích đáng chú ý mỗi ngày!
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
The video analyzes the strategic intersection of military operations and financial hegemony employed by the US to maintain global influence, specifically focusing on the neutralization of Iranian threats in the Strait of Hormuz and the systemic power of the US dollar as a tool for international sanctions.
Chào mừng quý vị đã quay trở lại chương trình.
Kính thưa quý vị!
Tiếng súng giữa Mỹ và Iran tại Trung Đông hiện đã tạm thời im áng.
Washington không còn duy trì những đợt không kích liên tục như trước
mà chuyển trong tâm sang phong tỏa và siếp chặt nền kinh tế Iran.
Thế nhưng có một nghịch lý rất đáng chú ý.
Giao tranh trực tiếp đã tạm dừng.
Những hoạt động quân sự của Mỹ quanh nhau biển Hormuz lại không hề giảm xuống.
Ngày 21 tháng 8, CENCOM công bố hình ảnh một chiếc KC-135 Stratotanker của không quân Mỹ
tiếp nhân liệu trên không cho các tiêm kích F-16,
đồng thời tiếp nhân liệu cho một chiếc KC-46 Pegasus trên bầu trời Trung Đông.
Việc những máy bay tiếp dầu liên tục xuất hiện
cho thấy các tiêm kích Mỹ vẫn phải duy trì thời gian hoạt động rất dài trên không.
Và nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng trong những ngày qua
chính là bảo vệ một hành lang vận tải mà Washington đã âm thầm mở xuyên qua eo biển Hormuz.
Theo ASEAN, quân đội Mỹ đã bí mật tổ chức các đoàn tàu dầu đi qua luồng phía nam của eo biển
sát bờ biển Oman.
Mỗi đêm có khoảng 15-20 tàu được đưa qua theo cả 2 triệu.
Nhờ hoạt động này, khoảng 10 triệu thùng dầu mỗi ngày
đang được đưa khỏi Vịnh Ba Tư và trở lại thị trường thế giới,
tương đương khoảng một nửa lưu lượng trước khi xung đột bùng phát.
Cách vận hành cũng được tổ chức rất chặt ché.
Lực lượng phụ trách chiến dịch nhận chỉ thị
từ sở chỉ huy quân đội Mỹ tại căn cứ Fort Bragg,
sau đó phối hợp với các đối tác vùng vịnh để lập danh sách từng con tàu.
Những tàu dầu rỗng từ biển Adab được đưa qua Hormuz
vào các cảng của UAE, Bahrain và Kuwait để nhận hàng,
sau đó lại được gom thành đoàn và đưa trở ra.
Các đoàn tàu chủ yếu di chuyển vào ban đêm,
chia thành một khung giờ dành cho tàu đi vào và một khung giờ dành cho tàu đi ra.
Chúng bám theo luồng phía nam gần Oman,
trong khi các tàu điều tắp hệ thống nhân giang tư động AIS
để giam khả năng bị Iran theo dõi.
Và đến đây xuất hiện một câu hỏi rất lớn,
eo biển Hormuz rộng, không đáng kể, nằm ngay trước cửa Iran.
Vậy tại sao Tehran lại khó phát hiện và ngăn chặn những đoàn tàu khổng lồ này?
Câu trả lời thực ra đã được Mỹ chuẩn bị từ nhiều tuần trước.
Trong giai đoạn cao điểm, Mỹ từng tiến hành 13 đêm không kích liên tiếp nhằm vào Iran.
Khi đó có một điều khiến nhiều người khó hiểu,
tại sao Washington không chỉ tập trung đánh sâu vào Tehran
hoặc các cơ quan đầu não của IRGC,
mà CENTCOM hết lần này đến lần khác lại thông báo phá hủy radar ven biển,
tháp giám sát, trận địa UAV,
sở chỉ huy và các trung tâm tác chiến của hải quân IRGC dọc miền nam Iran.
Đến bây giờ, mục đích mới hiện ra rất rõ.
Điều đó cho thấy Mỹ không chỉ tìm cách phá hủy phương tiện chiến đấu của Iran,
mà còn đánh vào chính đôi mắt và đôi tai giúp Tehran quan sát Hormuz.
Một ví dụ rất đáng chú ý là tháp kiểm soát và giám sát hàng hải
tại cản Shahid Khalantari ở Chabahar.
Đây không phải mục tiêu Mỹ chỉ đánh một lần rồi bỏ qua.
Theo truyền thông Iran, cơ sở này đã bị tập kích tới ba lần chỉ trong khoảng một tuần,
và đến đợt cuối cùng, ngày 17 tháng 7, tòa tháp đã sụp đổ hoàn toàn.
Khi khả năng quan sát của Iran đã bị khoét thủng, tàu dầu lại đi vào ban đêm,
tắt hệ thống tín hiệu nhận dạng và bám sát bờ biển Oman.
Việc Tehran theo dõi chính xác từng đoàn tàu trở nên khó khăn hơn rất nhiều.
Ngay cả phương án hải quân IRGC đưa xuồng cao tốc ra biển tuần tra
cũng không còn dễ dàng như trước.
Trong điều kiện Mỹ duy trì ưu thế trên không và phong tỏa trên biển,
những chiếc xuồng chạy ra giữa eo biển có nguy cơ nhanh chóng bị phát hiện,
theo dõi và trở thành mục tiêu của các tiềm kích Mỹ.
Chưa kể trong các đợt không kích trước đó,
Mỹ không chỉ đánh hệ thống giám sát mà còn tập kích các cơ sở UAV,
vị trí quân sự ven biển và năng lực tác chiến có thể đe dọa tàu bè tại Hormuz.
Nói cách khác, Mỹ không cần kiểm soát từng mét vùng mặt nước,
họ chỉ cần làm suy yếu khả năng nhìn thấy, theo dõi và phản ứng của Iran,
sau đó mở hành lang ở phía xa bờ biển Iran và khó bị Tehran giám sát nhất.
Tất nhiên, Iran vẫn còn UAV và tên lửa.
Vì vậy, phát hiện đoàn tàu chỉ là bước đầu.
Vấn đề nguy hiểm hơn là nếu Tehran quyết định phóng Shahed hoặc tên lửa chống hạm vào đoàn tàu,
thì Mỹ lấy gì để bảo vệ những tàu giàu gần như không có khả năng tự bệ.
Đây là lúc chiếc ô phòng thủ nhiều tầng của Mỹ xuất hiện.
Ở vòng ngoài là mạng lưới trinh sát và tác chiến điện tử.
Những nền tảng như RQ-4 Global Hawk
có thể quan sát một vùng biển rất rộng từ độ cao lớn.
Trong khi EA-18G Growler đảm nhiệm tác chiến điện tử,
gây nhiễu và làm suy giảm khả năng sử dụng radar,
thông tin liên lạc cũng như chuối phát hiện mục tiêu của đối phương.
Điều quan trọng là những máy bay này không hoạt động riêng lẻ.
Dữ liệu mà Global Hawk phát hiện có thể được đưa vào mạng lưới tác chiến chung.
F-16 có thể nhận thông tin mục tiêu từ những cảm biến khác.
Trong khi tàu chiến phía dưới cũng đóng góp dữ liệu radar.
Một chiếc F-16 vì thế không nhất thiết phải tự tìm kiếm một UAV giữa vùng biển rộng lớn.
Những con mắt khác có thể tìm mục tiêu trước,
sau đó đưa tiêm kích đến đúng khu vực cần ánh chặn.
Và đây cũng là lý do F-16 xuất hiện rất nhiều quanh Hormuz.
Đối với những UAV tương đối chậm và rẻ như Shahed,
Mỹ đang sử dụng một giải pháp rất thực dụng,
đó là rocket dẫn đường laser APK-WS.
Với cơ bản, đây là rocket Hydra,
cơ 70mm được bổ sung bộ dẫn đường laser,
biến một loài rocket tương đối rẻ thành vũ khí chính xác đủ khả năng tiêu diệt UAV.
Điểm đáng chú ý nhất nằm ở giá tiền.
Một quả APK-WS chỉ khoảng 30.000 USD,
khá tương đồng với mức giá ước tính của nhiều UAV ấn công 1 triệu id.
Trong khi các loại tên lửa không đối không truyền thống,
dùng để đánh chặn mục tiêu trên không lại đắt hơn rất nhiều.
Ví dụ, một quả AIM Sidewinder có giá khoảng 400-500.000 USD,
còn AIM-120 có thể vượt 1 triệu đô mỗi quả.
Dùng một tên lửa cả triệu đô để bán một chiếc UAV vài chục nghìn USD,
rõ ràng là một bài toán tiều hào rất bất lợi cho Mỹ.
Vì vậy, APK-WS giúp Mỹ đưa chi phí đánh chặn UAV rạn về gần mức 1 đổi 1.
Một lời thêm nữa là F-16 có thể mang số lượng lớn rocket APK-WS,
mỗi bên máy bay có thể mang một post chứa tối đa 19 quả.
Như vậy, nếu tính cả hai bên,
một chiếc F-16 có thể mang tới 38 quả APK-WS trong một chuyến xuất kích.
Điều này đặc biệt quan trọng khi Iran không phóng riêng lẻ
mà tung nhiều UAV giá rẻ cùng lúc.
F-16 có thể liên tục đánh chặn nhiều mục tiêu mà không nhanh chóng cạn đạn
hoặc phải quay về căn cứ tái vũ trang.
Nhưng UAV mới chỉ là một nửa bài toán.
Nếu Iran phóng tên lửa chống hạp,
nhiệm vụ sẽ được chuyển xuống những tàu khu trục Aegis-Z đang bảo vệ đoàn tàu.
Có một quan điểm cho rằng tàu chiến Mỹ không dám tiến vào Hormuz
vì ao biển quá hẹp và quá gần Iran.
Điều này chỉ đúng một phần.
Mỹ rõ ràng không có lý do gì đưa một tàu sân bay trị giá hàng chục tỷ đô la
cùng hàng nghìn thủy thủ vào sát bờ biển Iran.
Trong khi máy bay trên tàu hoàn toàn có thể tác chiến từ xa.
Nhưng tàu khu trục lại là câu chuyện khác.
Các tàu khu trục lớp Aliburg nhỏ hơn, cơ động hơn
và bản thân chúng được thiết kế để thực hiện chính những nhiệm vụ
như hộ tống đội hình tàu, phòng không và phòng thủ tên lửa.
Hệ thống chiến đấu Aegis trên tàu có thể kết nối radar
với nhiều tầng vũ khí đánh chặn.
Nếu tên lửa hành trình chống hàm Iran xuất hiện từ xa,
tàu khu trục có thể sử dụng SM-2 hoặc SM-6.
Nếu mục tiêu xuyên qua được lớp ngoài,
phía sau vẫn còn nhiều tên lửa khác như RAM hoặc C-RAM.
Và cuối cùng là Phalanx CIWS ở cửa ly rất gần.
Với một số loại tên lửa đạn đạo,
các tàu Aegis còn có năng lực phòng thủ tên lửa chuyên biệt.
Như vậy, tàu dâu không phải tư bảo về mình.
Chiến đấu cơ và tàu chiến Mỹ dựng một chiếc ô xung quanh nó.
UAV giá rẻ được ưu tiên giao cho F-16 xử lý.
Tên lửa nguy hiểm hơn được chuyển cho hệ thống phòng không trên tàu khu trục.
Còn mạng lứa trình sát cố gắng phát hiện mối đe dọa càng sớm càng tốt.
Ngày 22 tháng 8, CENTCOM đăng tải hình ảnh các thủy thủ quan sát
một chiếc MH-60R Seahawk hạ cánh xuống bong tàu khu trục USS Ross.
CENTCOM đồng thời cho biết USS Ross là một trong hơn 20 tàu chiến
đang hỗ trợ lệnh phong tỏa của Mỹ đối với Iran.
Và đây mới là điều đáng bản.
Iran tuyên bố họ đang phong tỏa eo biển Hormuz,
nhưng dầu của các quốc gia vùng bịch vẫn đang được Mỹ âm thầm đưa ra ngoài,
trong khi chính dầu của Iran lại bị mắc kẹt.
Cũng theo số liệu CENTCOM công bố tính đến ngày 21 tháng 8,
lực lượng Mỹ đã buộc 68 tàu thương mại chuyển hướng,
vô hiệu hóa 3 tàu và lên kiểm tra 2 tàu trong quá trình thực thi phong tỏa đối với Iran.
Trước đó, quân đội Mỹ cũng đã nhiều lần chặn
hoặc vô hiệu hóa những tàu tìm cách đi vào các cảng Iran.
Sức ép đã lớn đến mức chính Tehran cũng phải thừa nhận vấn đề.
Thống độc ngân hàng trung ương Iran Abdol Nazer Hemmati cho biết,
Iran hiện không xuất khẩu được dọt dầu nào.
Trong bối cảnh tướng xuất khẩu bị phong tỏa
và các biện pháp trừng phạt mới của Washington đang chuẩn bị được siết mạnh hơn nữa,
Tehran sẽ mất đi một trong những nguồn ngoại tệ quan trọng nhất của mình.
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng,
truyền thông và báo chí Mỹ đã công khai quá nhiều thông tin
về cách hành lang bí mật này hoạt động.
Từ tuyến đường sắt Oman,
thời gian tàu di chuyển,
cách tổ chức đoàn tàu và cả lực lượng bảo vệ trên không,
giờ đây đều đã xuất hiện trên truyền thông.
Vì vậy, lợi thế bất ngờ ban đầu khó có thể duy trì mãi.
Iran hoàn toàn có thể tăng cường trinh sát,
bổ trí lại radar, qua về
hoặc các phương tiện quan sát dọc bờ biển
để tìm kiếm những khoảng trống mà Mỹ đã khai thát.
Nếu Tehran thích nghi được,
việc tiếp tục đưa hàng chục tàu dầu qua Hormuz
một cách bí mật như những tuần vừa qua
chắc chắn sẽ khó khăn hơn.
Quan trọng hơn, hành lang của Mỹ
chưa đồng nghĩa với việc eo biển Hormuz
đã trở lại bình thường.
Dữ liệu của Kepler ngày 21 tháng 8 cho thấy
chỉ có 7 tàu trở hàng hóa đi qua Hormuz
trong ngày thứ 5,
giảm từ 14 tàu một ngày trước đó.
Đáng chú ý là không có tàu trở dầu thô cỡ lớn
hay tàu LNR nào trong số này.
Tuy nhiên, hãng tin Reuters
cũng lưu ý dữ liệu theo dõi không thể tính được
những tàu đang tắt thiết bị phát tín hiệu,
nên dữ liệu của Kepler
chỉ mang tính chất tham khảo công khai.
Thế nhưng, điều thú vị
là việc Iran tuyên bố đóng Hormuz
không có nghĩa. Tất cả các quốc gia
đều bị đối xử giống nhau.
Tehran đang bắt đầu sử dụng quyền cho tàu đi qua
như một quân bài kinh tế và ngoại giao.
Theo hàng tin Reuters ngày 22 tháng 8,
Iran xác nhận đã cho phép
một số tàu trở dầu Iraq đi qua eo biển Hormuz
đã bứng một trong những yêu cầu quan trọng của Baghdad.
Quyết định được đưa ra
sau chuyến thăm Iraq của Chủ tịch Quốc hội Iran
Mohammad Bakr Khalibaf.
Tổng thống Iraq Nizar Amidi cũng xác nhận
Tehran đã tạo điều kiện cho các tàu
dầu Iraq đi qua trong những ngày gần đây
và hai bên đã thảo luận trực tiếp
về việc xuất khẩu dầu Iraq qua Hormuz.
Đây là vấn đề sống còn đối với Baghdad.
Trước khi chiến tranh bùng phát, Iraq sản xuất
khoảng 4 triệu thùng dầu mỗi ngày
nhưng phần lớn năng lực xuất khẩu phía nam
phù thuộc bao vịnh ba tử và phải đi qua Hormuz.
Việc eo biển bị gián đoạn đã buộc Baghdad
phải tìm thêm những con đường khác
từ Cảng Sean của Thổ Nhĩ Kỳ
tới kế hoạch xây tuyến đường ra Cảng Banias
Tuy nhiên, eo biển Hormuz
vẫn là lựa chọn với chi phí rẻ nhất.
Với Iran,
việc mở một ngoại lệ cho Iraq rõ ràng
không chỉ đơn thuần là giúp một nước láng giềng
xuất khẩu dầu. Tehran đang tìm cách
chứng minh rằng Hormuz chưa hoàn toàn
nằm trong tay Washington.
Tàu nào được đi qua vẫn có thể trở thành một quân bại
để Iran đổi lấy quan hệ kinh tế và chính trị
với các nước xung quanh.
Điều này càng quan trọng khi Washington chuẩn bị
mở một vòng chiến tranh kinh tế mới
đe dọa trừng phạt không chỉ Iran
mà cả những quốc gia và doanh nghiệp
tiếp tục làm ăn với Tehran.
Trong hoàn cảnh đó, Iran buộc phải tìm
những khoảng trống để phá thế cô lập,
duy trì quan hệ với Iraq, giữ dòng thương mại
với Trung Quốc, Nga, đồng thời
mở rộng giao dịch bằng đồng nội tệ
và dựa nhiều hơn vào BRICS.
Iran thực tế đã gia nhập BRICS
từ năm 2024. Ngày 12 tháng 8,
chính Hehmati cho biết
Tehran đang tiến gần hơn
tới việc tham gia ngân hàng phát triển mới,
một định chế tài chính do các nước
BRICS thành lập.
Đến đây có một câu hỏi lớn hơn,
Mỹ thực sự cô lập một nền kinh tế như Iran
bằng cách nào? Washington lấy quyền gì
để phong tỏa hàng chục tỷ đô la của Iran
đang nằm ở nước ngoài, rồi khiến
ngân hàng và doanh nghiệp của những quốc gia khác
cũng không dám đụng tới số tiền đó?
Câu chuyện tương tự từng xảy ra với Nga.
Sau khi chiến sự Ukraine vùng nổ
năm 2022, Mỹ và các đồng minh
đã đóng băng khoảng 300 tỷ đô la
dự trữ của ngân hàng Trung Quốc-Nga.
Nghe qua rất dễ hình dung rằng
Moscow đem 300 tỷ USD tiền mặt
gửi tiết kiệm ở nước ngoài.
Rồi đến lúc chiến tranh xảy ra,
phương Tây đơn giản, khóa tài khoản
và không cho Nga rút tiền.
Tuy nhiên, thực tế lại phức tạp hơn rất nhiều.
Và điều đáng nói hơn là
tại sao gần như cứ nhắc đến trừng phạt kinh tế
một quốc gia, người ta lại nghĩ ngay đến Mỹ?
Trung Quốc là nền kinh tế lớn
thứ hai thế giới.
Nhật Bản, Anh hay Đức đều là những cường quốc
kinh tế, còn châu Âu sở hữu
một thị trường khổng lồ.
Thế nhưng rất hiếm quốc gia nào có thể đơn phương trừng phạt
một nước khác như Mỹ.
Washington vẫn sở hữu sức mạnh mà rất ít quốc gia
có thể sánh được.
Nguồn gốc của sức mạnh đó phải quay trở lại thế chiến thứ hai.
Năm 1944,
với những lợi thế của Mỹ trên chiến trường,
khi chiến tranh còn chưa kết thúc,
đại diện 44 quốc gia đã tập trung
tại Bretton Woods, bang New Hampshire của Mỹ
để xây dựng hệ thống tiền tệ cho thế giới
sau chiến tranh.
Khi ấy, châu Âu và Nhật Bản đã bị chiến tranh tàn phá nặng nề,
còn Mỹ nổi lên với nền công nghiệp
khổng lồ và sở hữu phần lớn dự trữ
vàng tiền tệ của thế giới.
Hệ thống được xây dựng tại Bretton Woods,
đặt đồng USD vào vị trí trung tâm,
các đồng tiền khác duy trì tỷ giá quanh đô la Mỹ,
còn Washington cam kết chuyển đổi USD
thành vàng với mức 35 USD
cho một ounce vàng.
Đồng thời, Quỹ Tiền Tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới
cũng được hình thành từ hội nghị này.
Nói đơn giản, trước đây nếu hai quốc gia
giao dịch mua bán mà không tin tưởng đồng tiền của nhau,
vàng là thứ cuối cùng mà cả hai đều chấp nhận,
thì Bretton Woods tạo ra một hệ thống
trong đó USD đứng giữa các đồng tiền khác
và vàng đứng sau USD.
Đến năm 1971,
Tổng thống Richard Nixon
chấm dứt khả năng đổi USD
trực tiếp sang vàng,
khiến hệ thống Bretton Woods ban đầu dần tan giá.
Thế nhưng, một điều rất đặc biệt xảy ra.
USD mất liên kết với vàng,
nhưng không mất vị trí trung tâm của hệ thống tài chính thế giới.
Và đây chính là nền móng
tạo ra sức mạnh trừng phạt của Mỹ ngày nay.
Hãy lấy một ví dụ rất đơn giản.
Việt Nam muốn mua 100 triệu USD giàu
từ một quốc gia Trung Đông.
Hai bên hoàn toàn có thể bỏ USD
và thỏa thuận thanh toán bằng tiền Việt Nam.
Không có luật quốc tế nào
bắt họ phải sử dụng tiền Mỹ.
Vấn đề là sau khi bán giàu,
quốc gia kia nhận một lượng Việt Nam đồng khổng lồ.
Rồi sẽ làm gì với số tiền đó?
Nếu họ muốn mua hàng Việt Nam thì không có vấn đề.
Nhưng nếu họ muốn lấy tiền vừa bán giàu
để mua máy móc của Đức, máy bay của Pháp
hay hàng hóa từ Brazil,
người bán ở những quốc gia đó
chưa chắc muốn nhận Việt Nam đồng.
Nhưng USD lại giải quyết chính bài toán này.
Người bán giàu có thể nhận USD từ Việt Nam.
Sau đó dùng chính số USD đó
mua hàng của một quốc gia thứ ba
trả nợ, đầu tư,
gửi ngân hàng hoặc mua trái phiếu.
Người nhận tiếp theo lại sẵn sàng
nhận đô la bởi họ biết rằng
người khác cũng chấp nhận nó.
Đây chính là hiệu ứng mạng lưới.
Càng nhiều người sử dụng một đồng tiền,
nó càng thuận tiện, càng thuận tiện
lại càng có nhiều người muốn sử dụng
và mức độ thống trị này vẫn rất lớn.
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế,
đô la Mỹ chiếm khoảng 58%
dự trữ ngoại hối toàn cầu, khoảng 60%
giá trị hóa đơn thương mại quốc tế,
gần 60% trái phiếu quốc tế
và hơn một nửa các khoản phải thu
của ngân hàng quốc tế.
Trong khi đó, đồng nhân dân tệ Trung Quốc
mới chỉ chiếm khoảng 2% dự trữ ngoại hối toàn cầu
và khoảng 5% hóa đơn thương mại quốc tế.
Nhưng sức mạnh của USD
không chỉ nằm ở việc mọi người
thích sử dụng tiền Mỹ,
phía sau nó là thị trường tài chính Mỹ khổng đồ.
Một tập đoàn quốc tế sau khi giao dịch với Việt Nam
không chỉ cần nhận và truyền tiền là xong,
họ cần ngân hàng cho vầy,
đổi ngoại tệ, bảo hiểm, thư tín dụng,
thị trường trái phiếu, công cụ phòng ngừa
rủi ro tỷ giá và quan trọng nhất
là một nơi đủ lớn để cất giữ hàng tỷ USD
mà vẫn có thể mua bán nhanh chóng khi cần.
Mỹ cung cấp gần như toàn bộ hệ sinh thái đó
và đây là lúc Washington
Một ngân hàng tại nước A muốn truyền USD
cho một doanh nghiệp ở nước B.
Ngân hàng đó không nhất thiết phải đặt tại Mỹ,
nhưng để thanh toán USD trên quy mô quốc tế,
họ thường cần quan hệ với các ngân hàng đại lý
có khả năng tiếp cận hệ thống tài chính Mỹ.
Washington, vì thế không cần gòi điện
cho từng ngân hàng trên thế giới
và ra lệnh các anh phải nghe lời Mỹ.
Thông điệp thực tế đáng sợ hơn nhiều.
Anh có thể tiếp tục làm ăn với Iran,
nhưng nếu giao dịch đó vi phạm lệnh trừng phạt của chúng tôi,
anh có thể mất quyền tiếp cận hệ thống tài chính Mỹ.
Đến đây lại xuất hiện một câu hỏi khác.
Nếu Mỹ có thể dùng đồng USD
để gây sức ép như vậy,
tại sao các quốc gia không đơn giản bỏ USD
rồi liên kết với nhau để mua bán trực tiếp?
Thực tế, họ đang tìm cách làm điều đó.
Babrik là một ví dụ.
Giả sử, Trung Quốc mua dầu của Nga
bằng nhân dân tệ.
Nga sau đó có thể dùng số nhân dân tệ này
để mua máy móc và hàng hóa của Ấn Độ.
Sau đó, Ấn Độ lại dùng tiền đó mua dầu của Iran.
Iran lại dùng chính tiền đó
mua vũ khí của Trung Quốc.
Rồi các nước tiếp tục dùng những đồng tiền nhận được
để mua hàng hóa và đầu tư lẫn nhọc.
Như vậy, một phần dòng tiền có thể lưu chuyển
giữa các thành viên BRICS mà không cần đổi
sang USD ở từng giao dịch.
Đó cũng là lý do BRICS đang thúc đẩy
thanh toán bằng đồng nôi tệ,
mở rộng thêm rất nhiều quốc gia
và xây dựng các cơ chế tài chính riêng.
Càng có nhiều quốc gia và hàng hóa tham gia,
số tiền một nước kiếm được càng có nhiều nơi để sử dụng.
Từ đó giảm dân nhu cầu phải quay trở lại đồng USD.
BRICS chính là nhóm đang thúc đẩy
phi USD hóa nhằm giảm sức mạnh
từ các đòn trừng phạt của Mỹ.
Ngoài đồng USD,
Mỹ còn nắm một vũ khí rất mạnh khác
là công nghệ.
Nếu một quốc gia hoặc doanh nghiệp bị Mỹ trừng phạt,
Washington có thể cấm các công ty bán cho họ
những công nghệ quan trọng có muộn gốc từ Mỹ.
Ví dụ, dễ hiểu,
nếu bị app hạn chế phù hợp,
một doanh nghiệp có thể không mua được iPhone
hoặc thiết bị Apple,
không tiếp cận được một số phần mềm
và dịch vụ của Mỹ,
hoặc khó mua chip và máy móc sử dụng công nghệ Mỹ.
Ví dụ, dễ hiểu nhất là Huawei.
Sau khi bị Mỹ đưa vào danh sách hạn chế,
các mẫu điện thoại Huawei mới không còn được
Google cấp phép sử dụng Google Play
và nhiều dịch vụ Google.
Đồng thời, công ty cũng gặp khó khăn lớn
trong việc tiếp cận chip tiền tiến.
Vì vậy, nếu một doanh nghiệp bị phát hiện
giúp Iran lách lệnh trừng phạt,
Mỹ cũng có thể đưa doanh nghiệp đó vào danh sách đen,
khiến các công ty công nghệ khác
không dám bán chip, phần mềm hay thiết bị cho họ.
Nói cách khác,
sức mạnh trừng phạt của Mỹ không chỉ nằm ở đồng USD,
mà còn nằm ở thi trường và công nghệ
mà rất nhiều quốc gia vẫn đang phụ thuộc.