LÀM THẾ NÀO ĐỂ PHÁ HỦY NỀN KINH TẾ CỦA MỘT ĐẤT NƯỚC ?

BEE GÓC NHÌN
2 Người theo dõi
131 Lượt xem video·6 thg 9, 2026
LÀM THẾ NÀO ĐỂ PHÁ HỦY NỀN KINH TẾ CỦA MỘT ĐẤT NƯỚC ?
Phân tích những yếu tố có thể đẩy một nền kinh tế từ tăng trưởng đến khủng hoảng, đồng thời rút ra những bài học quan trọng từ các ví dụ trong lịch sử.
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Đừng quên like, share và đăng ký kênh để ủng hộ kênh của mình nhé!
Họ xua quân đội mang Đại Bắc đến để chiếm đóng Ấn Độ, dùng vũ lực ép thợ rết bản địa phải đập bỏ khung cửi, rồi tăng thuế lên mức kinh hoàng 80%.
Một siêu cường rệt lụa đang ôm trọn 25% sản lượng toàn cầu đã bị biến thành một bãi hoang tàn nghèo đói, buộc họ phải quay sang ngựa tay,
mua lại từng thức vại công nghiệp giá rẻ được trở đến từ các nhà máy ở Manchester.
Vâng, đó là thời kỳ mà người ta có thể công khai dùng bạo lực để bóp chết nền kinh tế của một quốc gia nào đó.
Nhưng mà bước sang thế kỷ 21 rồi, nếu mà vẫn còn giữ cái tư duy như thế thì lội thởi quá và lại còn tốn kém nữa.
Khi các mạng lưới đan sen vào nhau, những mối quan hệ đối đầu, cộng sinh phủ bóng lên hầu hết các kía cạnh của một vùng lãnh thổ,
nền kinh tế quốc gia trở thành một thực thể mong manh và dễ tổn thương hơn bao giờ hết.
Thậm chí là một cường quốc thì cũng không có ngoại lệ đâu.
Đôi khi chẳng cần phải tốn một viên đại hay là một su cấm vận nào cả.
Cách dành tay nhất là cứ ngồi im và nhìn giới tinh hoa của quốc gia đó bấm nút tự hủy.
Trong kinh tế học, người ta gọi đây là thất bại chính sách.
Câu chuyện tự hủy kinh điển nhất của thế kỷ 21 gọi tên nước Đức đầu tàu công nghiệp thiên đường của những cây xúc xích cơ bự.
Mọi chuyện thì bắt đầu vào năm 2011 sau thảm họa do rỉ hạt nhân Fukushima tại Nhật Bản
thì chính phủ Đức dưới thời của thủ tướng Angela Merkel tự nhiên trột dại thế nào?
Lại đưa ra một quyết định lịch sử đó là cam kết đóng cửa hoàn toàn các nhà máy điện hạt nhân hiện có.
Chiến lược đó gọi là Energiewende với mục tiêu là tăng năng lượng tái tạo và giảm phụ thuộc vào hạt nhân.
Quyết định này được đưa ra trong bối cảnh áp lực dư luận chống hạt nhân gia tăng mạnh
và nước Đức thì đang bước vào giai đoạn bầu cử rất quan trọng.
Nhưng mà họ dường như đã quá vội va mà quên mất điều kiện địa lý của nhà mình nằm sâu trong lục địa.
Gần như là không có nguy cơ xảy ra những trận động đất sóng thần có sức tàn phá tương đương như thả họa Fukushima.
Họ quên mất sự khác biệt về mặt địa chất nhưng lại nhớ quá gió cái bài học từ mây phóng xạ Chernobyl của năm xưa.
Thế là tự tay đập bỏ nguồn điện ổn định an toàn và rẻ dúng nhất của mình,
nước Đức bước vào một ván bài đầy rủi ro để duy trì nguồn quay cho các đại lộ công nghiệp khổng lồ
trong lúc chờ năng lượng tái tạo như là điện gió, điện mặt trời lớn mạnh thì họ quay sang nghiện khí đốt giá rẻ của Nga.
Họ xây dựng các đường ống khổng lồ chạy thẳng qua biển Baltic tự đưa cổ mình vào một cái thòng lọng điện chính trị đã dăng sẵn.
Đến năm 2022, khi mà xung đột Nga-Ukraine nổ ra thì chiếc thòng lọng này lập tức siết chặt.
Điện Kremlin quá vàn khí đốt, chỉ trong vòng vài tháng thôi giá điện tại Đức đã tăng vọt lên 10 lần trong giai đoạn cao điểm.
Người Đức thì rất chi là thích phàn nàn về giá điện nhưng lại rất lười tìm nguồn cung rẻ hơn đấy.
Đến cả Thủ tướng Olaf Scholz thì cũng thừa nhận rằng nước Đức đã phụ thuộc quá lâu và quá một triệu vào nguồn cung năng lượng từ Nga.
Mà giá điện tăng thế là các ngành hóa chất luyện kim, chế tạo máy, những cổ trụ chống đỡ toàn bộ nền kinh tế đã bị đánh sập vì tải không nổi chi phí đầu vào.
Thậm chí là tập đoàn hóa chất khổng lồ BASF, biểu tượng công nghiệp và là niềm tự hào của nước Đức suốt hơn một thế kỷ,
đã phải đóng cửa hàng loạt các dây chuyền sản xuất để tháo chạy sang Mỹ, Trung Quốc, những nơi có giá năng lượng êm ái hơn.
Nước Đức rơi vào suy thoái, lạng phát để cứu van lưới điện quốc gia khỏi sự sụp đổ thì Berlin đã phải quay xe.
Một mặt họ lén lút cào than đá, thứ năng lượng ô nhiễm mà họ đã từng bài xích.
Mặt khác thì họ phải bấm bụng bỏ ra hàng tỷ đô la để nhập khẩu điện hạt nhân từ Pháp.
Và ai cũng biết rằng, điện hạt nhân ngay cả khi phải xử lý và lưu trữ chất thải phóng sạng vẫn thân thiện với môi trường hơn rất nhiều so với khí đốt và than đá đấy.
Cuối cùng thì cái danh hiệu quốc gia xanh phải đổi bằng máu của cả một nền công nghiệp hoàn toàn không đáng một chút nào.
Sang một câu chuyện khác, giới tinh hoa lại tiếp tục chứng minh rằng chính sách kinh tế có thể trở thành vũ khí tự sát theo một cách hoàn toàn khác biệt.
Hãy cùng tôi quay lại Ai Cập giai đoạn 2014, khi mà cựu tướng Abdel Fattah el-Sisi chính thức lên nắm quyền Tổng thống,
mang theo tư duy phòng ngữ của súng đạn vào quản trị kinh tế vi mô.
Lúc bấy giờ thì Ai Cập vừa bước ra khỏi cuộc lật đổ mùa xuân Ả Rập năm 2011.
Nền kinh tế kiệt quệ, xã hội chia rẽ sông sắc, lên ngồi với tư cách là người hùng lập lại trật tự sau một cuộc đảo chính quân sự.
Ông là người duy nhất không có phe phái đối lập.
Chính điều này đã định hình nên một lối quản trị độc tài.
Ông tin rằng mọi bài toán đều có thể giải quyết bằng những mệnh lệnh hành chính tối cảo và kỷ luật sắc của quân đội.
Và sau đây thì câu chuyện về hành trình tự hủy của ông ấy.
Đầu tiên thì cần khẳng định rằng nếu có một cuộc xếp hạng những nhà lãnh đạo nghiện làm màu nhất thì vị tân Tổng thống Ai Cập chắc chắn sẽ nằm trong tố bà.
Không biết thời trẻ của Sisi có nghèo hay không nhưng tầm trung tuổi, ông ấy lại tỏ ra yêu thích sự xa hoa cuồng nhật.
Canh bạc khét tiếng nhất của vị tân Tổng thống khi ấy chính là quyết định đổ hơn 58 tỷ đồ để xây dựng một thủ đô hành chính mới tích ngay giữa sà mạc,
chỉ để phục vụ mục đích làm màu cho bộ máy chính quyển.
Vấn đề là ngân khố quốc gia lúc này thì gần như rỗng tách nên là ông phải điên cuồng như vậy.
Ai Cập liên tục go cửa những tổ chức quốc tế, phát hành trái phiếu vô tội vạ khiến cho khoản nợ nước ngoài phình to một cách chóng mặt,
vượt mốc 160 tỷ đô la và biến Ai Cập thành con nợ lớn thứ hai của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF.
Chính vì cái sở thích xây cầu, xây nhà, xây 7749 siêu dự án, cuối cùng ông này còn bị báo chí quốc tế cười vào mặt là vị lãnh đạo có đam mê với các cây cầu.
Nhưng đòn trí mạng lại nằm ở sự tập trung quyền lực vào tay quân đội Ai Cập.
Những anh lính với chuyên môn đó là xách súng lại dần thâu tóm và độc quyền hầu hết những ngành kinh tế trọng điệp,
từ sản xuất xi măng, sắt thép, xây dựng cầu đường cho đến vận tả trạm xăng và thậm chí là cả chuỗi phân phối thực phẩm nữa.
Doanh nghiệp thuộc sở hữu của quân đội được hưởng những đặc quyền tối thượng mà không một doanh nghiệp tư nhân nào mơ tới được,
miễn các loại thuế, miễn thủ tục cấp phép phức tạp và tận dụng luôn nguồn lính nghia vụ để làm lao động không công.
Thậm chí là ai muốn làm gì thì cũng cần phải xin phép họ một cầu.
Ở Ai Cập nhiều người không dám nói thẳng về chính trị đâu, và điều đó tự nó đã là một vấn đề đáng phải suy ngẫm rồi.
Có vẻ như Xi Xi chưa từng quên nơi mình thuộc về và quyết tâm xây dựng đế chế quân đội thành một tấm khiên quyền lực chắc chắn nhất.
Quân đội làm gì thì không ai dám chất vấn đâu, nhưng ai làm gì thì quân đội cũng phải gọi lên họ, quân thích thì cho làm, không thích thì dẹp.
Khối doanh nghiệp tư nhân bị bóp cho tắc thở không thể nào cạnh tranh nổi với cái thế lực vừa đá bóng vừa thổi còi.
Khi các nhà đầu tư nước ngoài đánh hơi thấy sự bất ổn và bắt đầu tháo chạy, thì đồng tiền Ai Cập bắt đầu sụp đổ, mất giá tới 3 lần chỉ trong vòng vài năm.
Đến năm 2024 và kéo dài cho đến nay, đất nước từng là vựa lúa của cả địa Trung Hải đã rơi vào thảm cảnh lãm phát phì mã,
giá thực phẩm tăng điên cuộc, đẩy hàng triệu người dân vào cảnh nghèo đói,
đến mức mà chính phủ phải lên truyền thông khuyến khích người dân ăn chân gà qua bữa để tiết kiệm.
Đây là điều xảy ra khi sự bất tài lấn át năng lực đấy.
Để xoay sở với khối nợ nước ngoài thì chính quyền xì xì buộc phải mở bán những tài sản giá trị nhất trong quốc gia,
cổ phân trong các ngân hàng, công ty phân bón, doanh nghiệp hóa chất, cảng biển và hàng loạt những tài sản nhà nước được đưa lên để đàm phán.
Ngay cả những khách sạn lịch sử nằm bên bờ sông Ninh thì cũng phải đổi chủ khi một liên doanh do quỹ đầu tư của UAE hậu thuân xuống tiện.
Nhưng lúc này các tập đoàn quân đội đã làm được gì đây? Câu trả lời đó là con số 0 tròn chính.
Trên thực tế thì họ cũng trả khá khẩu hợp hơn khi mà liên tục hồ lỗ, ngốn sạch tiền ngân sách
và không tạo ra nổi bất kỳ một giá trị thẳng dư hay là công nghệ cốt lõi nào cho đất nước cả.
Xì xì và Ai Cập là một ví dụ điển hình cho thấy vì sao không nên để quân đội điều hành đất nước dưới bất kỳ hình thức nào.
Thật ra thì đừng nói là quân đội nếu quyền lực tối cao tập trung quá vào một bộ nào đó thì về cơ bản nền kinh tế cũng sẽ ngắc ngoải thôi,
theo tôi nghĩ là như vậy.
Nên là để mà nói thì có hàng nghìn cách để có thể đập gãy được nền kinh tế từ bên trong
thế nhưng nếu lật lại vấn đề từ phía bên ngoài thì nó sẽ như thế nào nhở?
Có lẽ là đến đây chắc chắn nhiều anh em sẽ bật ra ngay một cái tên trong đầu, Cuba.
Wow, Washington thì không cần phải thả quả bom nào xuống Havana cả,
vũ khí của họ chính là đạo luật Helms-Burton và cơ chế cấm vận thứ cấp.
Nhưng trước khi nói về nó, hãy quay lại quá khứ một chút nhé.
Trong nhiều thập kỷ thì nhiều người đã lầm tưởng những đòn trừng phạt kinh tế nặng nể
Mỹ trút xuống đầu của đất nước nhỏ bé này là sự khắc nghiệt thù địch đối với chủ nghĩa cộng sản.
Luận điểm đó thì không sai, nhưng người Mỹ thì luôn có lý do cho những hành vi cực đoan của mình.
Sau khi lên nắm chính quyền vào năm 1959 thì chính quyền của Fidel Castro đã tiến hành
quốc hư hóa hàng loạt doanh nghiệp, nhà máy lọc dầu, đồn điền mía đường
và tài sản thuộc sở hữu của các công ty Mỹ trên đảo quốc này.
Dĩ nhiên, Washington không thể chấp nhận hành vi đó.
Căng thẳng leo thang đến đỉnh điểm vào năm 1962, máy bay trinh sát của Mỹ được cho là phát hiện
Liên Xô đang bí mật triển khai một bệ phóng tên lửa hạt nhân tại Cuba
chỉ cách bờ biển Florida khoảng 150 km.
Sự kiện này đã nhanh chóng châm ngòi cho sự kiện khủng hoảng tên lửa Cuba.
Cuộc đối đầu được nhiều sử ra xem là thời khắc thế giới tiến gần nhất tới cuộc chiến tranh hạt nhân.
Chính từ sự kết hợp của hai ô tô đó, kể cả sau sự sụp đổ của Liên Xô
thì lệnh cấm vẫn cũng không bị xóa bỏ mà kéo dài hàng thập kỷ.
Nói một cách khác, đây là cách ông lớn như là Mỹ thể hiện quyền lực của mình để giàn mặt đối phương.
Mỹ thì không chỉ cấm các công ty của Mỹ làm ăn với Cuba
mà bất kỳ công ty quốc tế nào trên thế giới, dù ở châu Âu hay là châu Á
nếu mà dám bén mảng sang giao thương hoặc là đầu tư vào Cuba
sẽ lập tức bị Mỹ đấm cho vài phát.
Đối mặt với cái lưỡi hái tàn khốc này thì nền kinh tế của Cuba
đã bị cô lập triệt để suốt hơn nửa thế kỷ.
Một quốc gia giàu tiềm năng du lịch và nông nghiệp bị biến thành một bảo tàng sống dịu dã
năng lực sản xuất bị băm nát, hệ thống điện quốc gia liên tục sụp đổ vì thiếu dầu
và người dân thì phải xếp hàng dòng giá cả ngày trời
chỉ để mua những nhu yếu phẩm cơ bản nhất
khiến cho cộng đồng quốc tế nhìn vào thì cũng phải đau lòng.
Người ta cứ nói về nhân quyền ở Cuba
nhưng lại im lặng trước những gì mà chính quyền Mỹ đã gây ra với Cuba đấy.
Nhưng mà cấm vẫn như kiểu Cuba, vẫn còn bạo lực và thô giáp,
ai cũng nhìn thấy được.
Còn khi những người có tiền mà muốn dí nhau lắt léo hơn
thì chúng ta lại có câu chuyện về Mỹ và Nhật Bản.
Chuyện xưa kể lại rằng, trong thập niên 1.180,
Nhật Bản vất lên như diều gặp gió.
Xe hơi điện tử, thép, chất bán dẫn, made in Japan,
tràn ngập thị trường Mỹ, thâm hụt thương mại giữa Mỹ với Nhật tăng vọt,
tạo ra áp lực chính trị rất lớn tại Hoa Kỳ.
Không chỉ có ở Mỹ đâu, nếu bạn đủ già thì hẳn sẽ vẫn còn nhớ
những món hàng điện tử của Nhật thời đó hot đẹp.
Ban đầu thì Washington không hề muốn phá hủy nền kinh tế Nhật Bản đâu.
Điều họ muốn đó là giảm thâm hụt thương mại lại.
Vì thế mà năm 1985, Mỹ triệu tập Nhật Bản, Tây Đức, Pháp và Anh
đến khách sạn Plaza ở New York để ký kết một thỏa thuận lịch sử
mang tên là Hiệp định Plaza.
Vào thời điểm đó thì hàng hóa Mỹ đã trở nên đắt đỏ trên thị trường quốc tế,
trong khi hàng xuất khẩu của Nhật Bản lại có lợi thế vượt trộn.
Kết quả là người Mỹ mua ngày càng nhiều xe hơi, TV, hàng điện tử Nhật Bản,
còn hàng hóa của Mỹ ngắc ngoải trước bài toán cạnh tranh ngay trên sân nhà.
Các nước tham gia thống nhật phối hợp, can thiệp vào thị trường tiền tệ,
Mỹ sẽ chủ động làm suy yếu đồng đô la,
trong khi Nhật Bản và các đối tác phải chấp nhận để đồng tiền của mình tăng giá.
Washington muốn khiến hàng Nhật trở nên đắt đỏ
và hàng Mỹ trở nên rẻ hơn trong mắt của người tiêu dùng toàn cầu.
Đối với Nhật Bản, đây là một bài toán rất khó.
Là một đồng minh an ninh quan trọng của Mỹ
và phụ thuộc sâu sắc vào chiếc ô quân sự của Washington.
Thế là hàng xuất khẩu của Nhật Bản bỗng chốc trở nên đắt đỏ
và mất sạch lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Để cứu ván các tập đoàn trong nước,
Ngân hàng Trung ương Nhật Bản bắt buộc phải hạ lãi xuất xuống mức thấp kỷ lục,
bơm tiền rẻ ra thị trường để kích thích kinh tế nội địa.
Dòng tiền rẻ này lại không chạy vào sản xuất mà lại chạy thẳng vào đầu cơ,
tạo ra những quả bong bóng bất động sản và trứng khoán khổng lồ nhất lịch sử nhân loại.
Khi quả bong bóng này nổ tung vào đầu thập niên 1990,
thì nước Nhật chính thức bước vào thấp kỷ mất mát, dịu dã, kéo dài cho đến tận ngày hôm nay.
Cơ nác mộng bùng nổ khi giá đất tại Tokyo,
thời điểm đó bị đẩy lên cao đến mức vô lý.
Giá nhà đất vượt quá tầm tay,
khiến cho một thế hệ thanh niên Nhật Bản hoàn toàn mất đi hy vọng tương lai.
Họ chọn cách buông xuổi, không kết hồn, không sinh con,
chui rút trong những căn phòng chỉ rộng vài mét vườn,
đẩy nước Nhật vào cuộc khủng hoảng gia hóa dân số và thuộc giảm tỷ lệ sinh nghiêm trọng nhất trong lịch sử.
Đồng thời, khi dòng vốn bị trôn chặt trong những đống nợ xấu, bất động sản,
thì các tập đoàn công nghệ Nhật Bản từng thống trị thế giới
cũng mất luôn dòng máu tài chính để tái đầu tư, nghiên cứu phát triển.
Họ nhìn các đối thủ Hàn Quốc, Trung Quốc vượt mặt ở những mảng bán dẫn,
smartphone và xe điện, chính thức là tự tức bỏ năng lực cạnh tranh cốt lói của mình.
Nhật Bản có công nghệ cốt lói, có năng lực sản xuất và từng ở trên đỉnh cao,
nhưng cuối cùng vẫn phải trào thua trước cái bài toán này.
Nhưng có bao giờ bạn thắc mắc là,
cùng là những quốc gia xã hội chủ nghĩa,
tại sao Việt Nam và Cuba lại đi đến những kết quả khác nhau không?
Vâng, bước ngoặt xuất hiện vào năm 1986,
khi Việt Nam khởi động công cuộc đổi mới và từng bước mở cửa nền kinh tế.
Thay vì duy trì một trạng thái đối đầu kéo dài với hệ thống kinh tế toàn cầu do phương Tây dẫn dắt,
Việt Nam chúng ta lựa chọn hội nhập có chọn lọc như thu hút vốn đầu tư nước ngoài,
phát triển khu vực sản xuất xuất khẩu và tham gia ngày càng sâu hơn vào những định chế thương mại quốc tế.
Song song về đó, Việt Nam còn tận dụng những vấn đề nhân đạo như hợp tác tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích
để từng bước xây dựng lòng tin với Washington,
mở đường cho việc dỡ bỏ cấm vận vào năm 1994 và bình thường hóa quan hệ vào năm 1995.
Trong 3 thập niên tiếp theo, Việt Nam đã trở thành một mắt xích quan trọng
trong chuỗi cung ứng toàn cầu của các tập đoàn như Samsung, Intel và các đối tác sản xuất của Apple.
Đến năm 2026, Việt Nam nằm trong nhóm các nền kinh tế có độ mở thương mại cao nhất thế giới,
cho thấy một chiến lược hội nhập linh hoạt đã giúp đất nước tránh được tình trạng cô lập kéo dài
mà nhiều quốc gia khác đã từng phải đối mặt.
Việt Nam đã từng trải qua những 5 tháng khó khăn vì cấm vận nhưng chúng ta đã khôn khéo.
Nếu như Việt Nam lách qua lưỡi hái của các siêu cực thì người láng giềng Trung Quốc của chúng ta
lại chọn một lối chơi sặc mùi thực dụng hơn rất nhiều.
Chiến lược sinh tồn của Bắc Kinh có thể được mô tả như là một nghệ thuật tận dụng toàn cầu hóa
khi gia nhập WTO vào năm 2001.
Trung Quốc mời gọi các nhà đầu tư đến để họ sao chép cuối cùng biến mình thành công xưởng thế giới.
Cách này thì hơi dơ nhưng mà tuyệt đối hiệu quả.
Không chỉ đơn thuần là bán lao động giá rẻ thông qua các yêu cầu liên doanh,
chính sách công nghiệp và quy mô thị trường khổng lồ.
Bắc Kinh từng bước buộc nhiều tập đoàn nước ngoài phải chia sẻ chuỗi cung ứng
nếu muốn tiếp cận sâu hơn vào một tỷ người tiêu dùng ở Trung Quốc.
Cùng có lợi thế là lấy thịt đè người.
Rõ ràng Bắc Kinh đã dùng con bài tẩy này cao tay hơn so với Ấn Độ nhiều.
Đặc biệt là trong lĩnh vực chế biến đất hiếm,
dù không sở hữu toàn bộ chứa lượng của thế giới,
họ kiểm soát phần lớn năng lực tinh luyện các nguyên liệu thiết yếu cho xe điện tua pin gió,
thiết bị quốc phòng và nhiều ngành công nghệ cao.
Đến năm 2026, khi cạnh tranh Mỹ và Trung bước vào giai đoạn căng thẳng,
lợi thế này trở thành một công cụ địa chính trị cực kỳ quan trọng.
Mỗi khi Bắc Kinh siết chặt xuất khẩu một số khoáng sản chiến lược,
các tập đoàn công nghệ và nhà sản xuất phương Tây lại phải đối mặt với nguy cơ đứt gây cung ứng.
Ờ thì như đầu video, các bạn thấy rồi đó,
chính nước Đức giờ đây cũng đang phải cắn răng xếp hàng để mua linh kiện chip công nghệ
và thậm chí là cả điện năng từ các thiết bị hạ tầng do Trung Quốc cầm trịch đấy.
Từ vị thế từng lo sợ bị cô lập,
giờ đây Trung Quốc đã tự biến mình thành một mắt xích quá là quan trọng
để có thể là không bao giờ bị loại bỏ khỏi nền kinh tế toàn cầu.
Dù chả bao giờ yêu quý đất nước này đâu,
nhưng phải công nhận họ quá là giỏi và đi trước chúng ta quá là nhiều.
Trong cuộc chơi này thì không có kẻ thù vĩnh viễn,
cũng chẳng có đối tác vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là trường tồn thôi.
Còn theo các bạn, giữa một thế giới đầy biến động như hiện nay,
đâu là tử huyệt để có thể bóp vụ nền kinh tế của một quốc gia đây.
