KÝ SỰ HOÀNG HÀ – PHẦN 2: NHỮNG VÙNG ĐẤT TRUNG DU)

Hiện Tượng Thiên Nhiên
47 người theo dõi
52 Lượt xem video·22 thg 9, 2026
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Xin chào các bạn, chào mừng các bạn đã quay trở lại với kênh Trung Quốc Open.
Ở phần trước, chúng ta đã đứng ở nơi Hoàng Hà bắt đầu, trên cao nguyên Thanh Hải, giữa đồng cỏ và tuyết trắng, nơi dòng nước trong đến từng viên sỏi dưới đáy.
Chúng ta đã theo con sông qua những hẹn núi và con đập qua Lan Châu, Ninh Hạ và Hạt Sáo, để rồi dừng chân ở Hà Khẩu, nơi thượng nguồn kết thúc.
Và chúng ta đã để lại một lời hẹn đi tiếp vào vùng đất, nơi con sông thật sự trở thành sông vàng.
Hôm nay, lời hẹn đấy được giữ.
Trung Du Hoàng Hà kéo dài từ Hà Khẩu ở Nội Mông đến Đào Hoa Dục ở Hà Nam, dài khoảng 1206km, chưa bằng một phần tư chiều dài của cả con sông.
Nhưng đây là đoạn làm nên tính cách của Hoàng Hà.
Những hẻm núi sâu, những thác nước màu vàng, những khúc quanh như vẽ và một lượng bùn cắt khổng lồ khiến cái tên sông vàng trở nên xứng đáng.
Nếu thượng nguồn là nơi dòng sông sinh ra, thì Trung Du là nơi nó lớn lên giữa những vùng đất đã sinh ra cả một nền văn hóa.
Vì vậy, lần này chúng ta sẽ đi chậm hơn và nhìn kỹ hơn.
Không chỉ nhìn cảnh mà còn lắng nghe những bài hát, những nhịp trống, những huyền thoại và nhìn những ngôi nhà đào và lồng đất mà con người nơi đây đã dựng lên bên bờ sông suốt hàng nghìn năm.
Xin mời các bạn cùng lên đường.
Hà Khẩu với Lão Nguyên Loan
Hà Khẩu chỉ là một thị trấn nhỏ ở Nội Mông nhưng từ lâu nó đã là một cửa ngõ.
Ngày xưa, đây là biến sông nhộm nhịp bậc nhất phía Bắc, thuyên trở lương thực, muối, len và da dê từ thảo nguyên xuôi xuống rồi trở vải vóc, trà và đồ gốm nược lên.
Thương nhân từ Sơn Tây và Thiểm Tây dựng kho hàng, mở cửa tiệm, nối hai thế giới vốn rất khác nhau, thế giới du mục ở phía Bắc và thế giới nông nghiệp ở phía Nam.
Nhưng Hà Khẩu cũng gắn với một câu chuyện buồn, Tổ Tây Khẩu, nghĩa là đi ra cửa Tây.
Từ thời Minh Thanh, mỗi khi mất mùa hay đói kém, hàng loạt nông dân Sơn Tây và Thiểm Tây rời quê, vượt qua những cửa ải của trường thành để lên Nội Mông khai hoang, buôn bán, làm thuê.
Cuộc di cư kéo dài nhiều thế kỷ ấy còn lại trong một bài dân ca cùng tên, nổi tiếng khắp vùng, chất chứa nỗi lưu luyến của người ra đi và nỗi mong ngóng của người ở lại.
Trong câu chuyện ấy, Hoàng Hà là danh giới cuối cùng, bên này là quê nhà, bên kia là số phận chưa biết.
Từ Hà Khẩu, dòng sông dễ hẳn xuống phía Nam, xuôi một quãng, ở nơi Nội Mông giáp với Sơn Tây, có một khúc sông mang cái tên rất dân dã, Lão Ngư Loan, khúc quanh con trâu giả.
Nhìn từ trên cao, dòng sông uốn thành một vòng cung lớn, ôm lấy những vách đá đỏ, giống hệt một con trâu giả đang nằm nghỉ bên bờ nước.
Và ngay trên những vách đá ấy, những đoạn trường thành thời minh chạy từ đồi cao xuống tận bờ sông, rồi dừng lại như cúi xuống uống nước.
Người ta gọi đây là nơi trường thành và Hoàng Hà bắt tay nhau, hai biểu tượng lớn nhất của Trung Hoa gặp nhau trong cùng một khung hình.
Và buổi chiều, khi nắng xiên qua thùng lũng, những tháp canh bằng đất đỏ rực lên trên đền trời, con mặt sông ánh lên màu bạc và cả khung cảnh yên lặng đến mức người ta khó tin nơi này từng là biên ải.
Điều thú vị là bức tường vốn được dựng lên để ngăn cách lại chính là nơi hai thế giới gặp nhau.
Ở những cửa ải dọc trường thành, thương nhân phía Nam đổi tràn, vải và muối lấy ngựa, len và ra từ Thảo Nguyên.
Có những cửa ải mà buổi sáng là chợ, buổi tối là đôn đính.
Hoàng Hà chảy qua giữa hai thế giới ấy như một người chứng kiến im lặng và cũng là con đường mà cả hai phía đều dựa vào.
Nhưng có một điều mà bức ảnh đẹp nhất cũng không cho thấy, màu nước, ở thượng nguồn nước còn trong.
Đến đây, nó đã bắt đầu nặng hơn, đục hơn vì hai bên bờ là hoàng thổ, thứ đất vàng mịn dễ tan trong nước.
Cứ mỗi cơn mưa, những dòng bùn nhỏ chảy từ trườn đồi xuống, đổ vào sông như những vệt sân vàng nhỏ vào một chỗ nước.
Đây cũng là lúc nên nói đến vài con số để hiểu vì sao đoạn sông này đặc biệt.
Trung du Hoàng Hà dài khoảng 1206km với lưu vực rộng chừng 344.000km2.
Trong quãng đường ấy, mặt sông hạ xuống khoảng 890m, tức là trung bình cứ mỗi km, nước tụt xuống gần 3,4m,
một độ dốc đủ lớn để dòng nước có sự xói mòn. Và đây là con số quan trọng nhất của cả hành trình.
Đoạn sông này chỉ đóng góp khoảng 40% lượng nước nhưng lại mang về gần 9,10 lượng bùn cát của cả con sông.
Bùn cát ấy đến từ đâu? Chúng ta sẽ gặp câu trả lời ở phần 4.
Còn bây giờ, hãy để con sông dẫn đường. Sau Lão Ngư Loan, nó đâm thẳng xuống phía nam, kẹp giữa hai bờ đất vàng
và bước vào một trong những hẻm núi dài nhất, dư dội nhất của cả hành trình.
Đại Hẻm Núi Tấn Thiệp
Từ Lão Ngư Loan trở xuống, Hoàng Hà không còn thuộc về riêng tỉnh nào.
Nó trở thành danh giới, bên bờ đông là Sơn Tây, bên bờ Tây là Thiểm Tây.
Suốt hơn 700km, con sông chảy trong một hẻm núi liên tục, gọi là Đại Hẻm Núi Tấn Thiệp,
đoạn hẻm núi dài nhất trên toàn dòng chính. Hai bên là những vách đất vàng, sườn dốc,
có nơi dựng đứng xen lẫn những mảng đá xám. Sông bị ép vào giữa, chảy nhanh xoáy và âm mị.
Không có đồng bằng, chỉ có vài khoảng đất vòng bên bờ, nơi làng mạc nét mình như những chức tổ nhỏ trên sườn núi.
Giữa hẻm núi ấy có một thị trấn cổ đặc biệt, Kỳ Khẩu, bên bờ Sơn Tây.
Ngày xưa, thuyền trở hàng từ Thượng Nguồn xuôi xuống thường phải dừng ở đây,
bởi phía dưới là đoạn nước siết đầy đá ngầm và thuyền lớn khó vượt qua.
Hàng hóa được bóc lên bờ, chất lên lưng ngựa, lừa đi sâu vào đất liền.
Ngược lại, hàng từ nội địa được chuyển xuống thuyền.
Nhờ thế, Kỳ Khẩu từng là một bến thương mại sầm ốt vào thời mình,
thanh với những con phố lát đá dốc, những kho hàng, cửa hiệu, quán trọ sán sát nhau.
Ngày nay, thị trấn không còn nội nhịp, nhưng những dãy nhà đá xám,
Cuộc sống của người treo thuyền trên đoạn sông này là một trong những nghề nguy hiểm nhất.
Họ phải đọc dòng nước, đọc đá ngầm, đọc cả sắc mặt của bầu trời.
Khi thuyền đi ngược, những người kéo thuyền phải khom lưng, quàng dây thừng lên vai,
bước từng bước dọc theo bờ đá, vừa đi vừa hò để giữ nhịp.
Tiếng hò ấy không chỉ để phối hợp sức lực,
nó còn là cách để người ta không cảm thấy cô đơn trước một dòng sông quá lớn.
Và chính tiếng hò ấy đã đi vào âm nhạc.
Năm 1939, nhà soạn nhạc Tiền Tinh Hải phổ nhạc bài thơ của thi sĩ Quang Vị Nhiên
tạo nên Hoàng Hà Đại Hợp Sướng, một trong những tác phẩm âm nhạc nổi tiếng nhất của Trung Quốc thế kỷ 20.
Trước mở đầu là bài ca của người treo thuyền, nhịp điệu rôn rập như từng nhát trèo trống loại sóng dự.
Người ta kể rằng, cảm hứng của bài thơ đến từ những chuyến vượt sông qua vùng hẹn núi này,
nơi tác giả tận mắt nhìn thấy những người thuyền phu vật lộ với dòng nước.
Dù câu chuyện ấy đúng đến đâu, có một điều chắc chắn,
khi nghe bản Hợp Sướng, người ta hình dung ngay ra tiếng sóng và tiếng người hòa vào nhau giữa hai bờ đất vàng.
Xuôi xuống, ở huyện Diên Xuyên, Thiểm Tây, dòng sông là một điều đẹp đến khó tin.
Nó ốn thành những khúc quanh hình chữ S liên tiếp, ôm lấy những gò đất tròn giữa lòng sông.
Nhìn từ trên cao, những khúc quanh ấy giống hệt đồ hình thái cực, âm dương ôm lấy nhau,
nên được đặt tên là Cán Khôn Loan, khúc quanh trời đất.
Vào lúc hoàng hôn, khi ánh nắng dượm vàng cả mặt nước lẫn vách đất,
cảnh vật như một bức tranh thủy mặc không cần bàn tay người vẽ.
Hai bên bờ, những dặng táo đỏ mọc bám sơn đất là một trong những đặc sản nổi tiếng của vùng.
Mùa thu cả sơn đồi phủ đỏ, người ta chảy táo phơi trên mái nhà hang,
trên sơn đất thành những mảng đỏ rực giữa nền vàng của hoàng thổ.
Đó là màu sắc hiếm hoi trong một vùng đất mà gần như mọi thứ đều vàng đất vàng,
nước vàng, ánh chiều vàng và cả những bức tường vàng của những ngôi nhà.
Vùng đất thiểm bắc quanh đây cũng nuôi dưỡng những nét văn hóa đặc biệt.
Ở đây có tín thiên du, một điệu dân ca cao vút, kéo dài,
được cất lên từ sườn núi này sang sườn núi kia.
Người hát không cần nhạc cụ, chỉ cần rộng và một khoảng không rộng lớn.
Nghe nó, người ta hiểu vì sao.
Trong một vùng đất mà nhìn thấy nhau cũng cách nhau cả một thung lũng,
tiếng hát là cây cầu duy nhất.
Và cũng ở vùng này có trống eo ăn tắc, hàng trăm người đeo trống ngang hông,
thắt lưng đỏ, khăn trắng cuốn đầu.
Cùng đánh trên những sườn đồi, tiếng trống vang lên như sấm dội qua thung lũng.
Đó là cách người dân miền Hoàng Thổ nói với trời đất, chúng tôi vẫn còn ở đây.
Dòng sông tiếp tục chảy trong hẻm núi,
mỗi lúc một nhanh hơn như thể đang gom sức cho một khoảnh khắc
mà cả hẻm núi đã chuẩn bị từ đầu, hồ khẩu và lãng môn.
Nghe trước rồi mới thấy, tiếng gầm vang lên từ xa,
trầm và đều rung cả mặt đất dưới chân,
rồi một màn sương nước bốc lên giữa hẻm núi,
và bạn hiểu mình đã đến hồ khẩu.
Ở hồ khẩu, nơi giáp danh giữa Thiểm Tây và Sân Tây,
hoàng hà vốn rộng hơn 300 mét, vẫn bị ép giữa hai vách đá,
thu hẹp lại chỉ còn chừng 30 mét, rồi đổ thẳng xuống một khe sâu gần 30 mét.
Tên gọi hồ khẩu nghĩa là miệng ấm,
dòng sông như đổ vào miệng một chiếc ấm khổng lồ
và hơi nước bốc lên như khói từ chiếc ấm đang sôi.
Người ta xem đây là thác nước lớn thứ 2 của Trung Quốc
và là thác nước màu vàng lớn nhất thế giới.
Đứng bên mét thác, bạn thấy cả một dòng sông màu vàng
đục cuộn xuống khe sâu, sóng đổ dồn dập,
mọt trắng tung lên rồi tan trong gió.
Ở giữa khe, dòng nước xấy thành một rãnh sâu hẹp
mà người ta gọi là long tảo, mang rồng,
như thể có con rồng vàng nằm ẩn dưới đấy.
Và những ngày nắng, ánh sáng xuyên qua màn sượng nước
dựng lên một chiếc cầu vòng bắc ngang khe núi
và bạn có cảm giác mình đang đứng trước một điều gì đó
vừa dữ dội vừa thiêng liêng.
Mùa đông, hồ khẩu mang một dáng vẻ khác.
Mặt sông kết băng, thác nước đóng cứng từng phần,
những tảng băng khổng lồ trồng chất lên nhau
và tiếng gầm biến thành một âm thanh chầm dề
như hơi thở nặng nhọc của một sinh vật đang ngủ.
Có người nói đây là cách đẹp nhất để nhìn Hoàng Hà
không phải lúc nó gào thét mà lúc nó đang nín thở.
Bản hợp sướng mà chúng ta vừa nhắc đến
cũng nhớ đến những khoảnh khắc này.
Trương thứ ba của tác phẩm mượn nguyên một câu thơ
của Lý Bạch làm tên Nước Hoàng Hà từ trời cao đổ xuống.
Câu thơ chúng ta từng gặp ở nơi con sông bắt đầu
nay lại vang lên ở nơi con sông đổ xuống.
Như thế cả hành trình được khép lại trong một hơi thở.
Rời hồ khẩu, dòng sông tiếp tục xuôi về phía nam
và chưa đầy 100km sau đó
nó gặp một cánh cổng khác, Long Môn.
Long Môn, còn gọi là Vũ Môn Khẩu
là nơi hai ngọn núi đối diện nhau như hai cánh cổng đá.
Ở giữa chỉ còn một khe hẹp cho dòng nước chảy qua
rộng chừng 100m.
Chuyên thuyết kể rằng vào thời Hồng Thủy
Đại Vũ đã đục thông ngọn núi này để nước lũ thoát đi.
Ông chị Thủy suốt 13 năm ba lần đi ngang qua cửa nhà
mà không dám bước vào.
Và người ta nhớ ông như một biểu tượng
của sự hy sinh cho việc chế ngựa dòng sông.
Cũng ở nơi này, mỗi mùa xuân
đàn cá chép từ khắp nơi tụ về dưới chân Long Môn
tìm cách nhảy lên dòng nước siết.
Chuyên thuyết nói rằng con nào vượt qua được sẽ hóa thành dòng.
Hình ảnh cá chép vượt Vũ Môn từ đó
Ở Việt Nam, hình ảnh ấy cũng rất quen thuộc
xuất hiện trong tranh dân gian, trong câu chúc
trong lời khuyên của cha mẹ dành cho con gái.
Bên bờ thiểm Tây, ở Hàn Thành, cách Long Môn không xa
là nơi nhà sử học Tư Mã Thiên trào đời hơn 2000 năm trước.
Ông là tác giả của sử ký.
Bộ sử lớn đầu tiên ghi lại lịch sử Trung Hoa
từ thời Hoàng Đế đến thời Hán Vũ Đế
Ông từng tự nói mình sinh ra ở Long Môn.
Ông cũng là người đã chịu nhục hình để hoàn thành bộ sử
vì tin rằng có những điều phải được ghi lại dù phải trả giá đến đâu.
Ngôi mộ và đền thờ ông nằm trên sườn đồi
nhìn xuống dòng sông và ông đã sinh ra bên cạnh.
Thật khó nói vì sao con sông
và người kể chuyện của một dân tộc lại được sinh ra cạnh nhau như vậy.
Nhưng đứng trước Long Môn, nghe tiếng nước chảy xiết qua khe đá
người ta có cảm giác rằng nơi này vốn dĩ là nơi những câu chuyện lớn bắt đầu.
Các Nguyên Hoàng Thổ
Đến đây, câu hỏi chúng ta đặt ra từ đầu đã có thể được trả lời một cách trọn vẹn.
Tất cả những vách đất vàng dọc hai bờ
những sườn dốc thoai thoải, những con mương sâu
đều thuộc về một vùng đất khổng lồ, Cao Nguyên Hoàng Thổ.
Cao Nguyên này rộng khoảng 640.000 cây số vuông
gần gấp đôi diện tích Việt Nam.
Lớp đất vàng ở đây dây từ vài chục đến hàng trăm mét
và điều kỳ lạ nhất, thứ đất ấy không do sông bồi đắp mà do gió.
Suốt hơn 2 triệu năm, những cơn gió mùa đông từ sa mạng
và Cao Nguyên Trung Á Thổi bụi mịn về phía Đông Nam
rơi xuống, trồng lớp qua lớp, thành cả một Cao Nguyên.
Cái mà chúng ta nhìn thấy khi đứng trên vách đất vàng
thực ra là bụi của những thời đại xa xưa.
Người địa phương phân biệt địa hình ở đây bằng 3 chữ
Nguyên-Lương, Mão-Nguyên là những mặt bằng rộng và phẳng như bàn
đứng giữa các mương sâu.
Lương là những sống đồi dài, uốn lượn như lưng con thú.
Mão là những gò tròn nhỏ, dày rác như những chiếc bánh út.
Nhìn từ trên cao, Cao Nguyên như một biển vàng đông cứng giữa lúc sóng cuộn
mỗi ngọn sóng là một gò đất.
Đất Hoàng Thổ có một đặc điểm, mịn, sốc, đủ vững để đứng thành vách
nhưng gặp nước thì tan.
Mỗi cơn mưa giàu mùa hè có thể cuốn đi cả một lớp đất mặt
tạo thành những khe rãnh, rồi khe rãnh nối nhau thành mương sâu.
Có những nơi, trước đây, mỗi năm mỗi cây số vô mất đi
từ hàng nghìn đến hàng chục nghìn tấn đất.
Toàn bộ số đất ấy chảy vào sông.
Trong nửa đầu thế kỷ 20, Hoàng Hà mang mình quân khoảng
1,6 tỷ tấn mùn cát mỗi năm.
Theo cách tính thường dẫn, trường ấy mùn cát đủ để dựng một bức tường
cao 1m, dày 1m, dài quấn quanh cháy đất hơn 20 lần.
Đó là lý do vì sao người trưa nói
một bát nước Hoàng Hà, nửa bát là cát.
Đó cũng là lý do vì sao con trông này mang tên là sông vàng.
Nó không tự nhiên vàng.
Nó vàng vì chảy qua một cao nguyên bụi vàng
và vì những cơn mưa rửa trôi cao nguyên ấy xuống lòng sông.
Nhưng Hoàng Thổ không chỉ là đất, nó còn là nhà.
Trên những sườn đất ấy, người ta không xây nhà mà đào nhà.
Nhà Hăng, tiếng Hán gọi là Diêu Động,
được đục vào vách đất thành những vòng cuốn,
cửa sổ dán giấy, cánh cửa gỗ sơn xanh hoặc đỏ.
Nhờ lớp đất dày cách nhiệt,
mùa đông trong nhà ấm, mùa hè mát.
Bên trong có chức kháng, tức giường đất sởi ấm bằng bếp,
có bức tường trang trí bằng những tầm giấy cắt hoa màu đỏ.
Hàng triệu người đã và đang sống như thế.
Nhiều thế hệ lớn lên trong lòng đất và với họ,
đất không phải thứ để sợ hay để tránh,
mà là thứ đã ôm đấy họ.
Trông eo, tín thiên du, những bức giấy cắt,
tất cả đều là những cách để con người đối thoại
với một vùng đất vừa khắc nghiệt vừa hào phóng.
Cang nguyên Hoàng Thổ cũng là nơi người Trung Hoa tìm về cội nguồn.
Ở huyện Hoàng Lăng, có lăng của Hoàng Đế,
vị vua huyền thoại được xem là Thủy Tổ Trung.
Trong sân lăng có những rạng bách cổ thụ
mà người ta tin là hàng nghìn năm tuổi.
Người Trung Hoa gọi mình là con cháu viên Hoàng,
nhắc đến viên Đế và Hoàng Đế.
Và mỗi dịp thanh minh,
hàng vạn người đến đây cuối đầu tưởng nhớ.
Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà người xưa gắn màu vàng của đất
với trung tâm, với tổ tiên, với nguồn cộng.
Những câu chuyện của Cang nguyên Hoàng Thổ không dừng lại ở quá khứ.
Người Trung Quốc từng gọi bùn cát là căn bệnh kinh niên của Hoàng Hà.
Từ giữa thế kỷ 20 và đặc biệt từ năm 1999,
họ mở những chương trình lớn để chữa căn bệnh ấy,
áp dụng bậc thang, trồng cây, cấm chân thả trên sườn dốc,
xây hàng loạt độc chấn bùn trong các khe núi
và trả những sườn đất canh tác lại cho rừng và cỏ.
Độ che phủ thực vật trên cao nguyên tăng từ khoảng 30% cuối,
thập niên 90 lên gần 60% những năm gần đây.
Lượng bùn cát đổ vào sông giảm mạnh chỉ còn vài trăm triệu tấn mỗi năm.
Nhưng câu chuyện này cũng có mặt trái.
Nhiều nông dân phải đổi nghề, đổi chỗ ở
và các nhà khoa học cũng lo ngại bùn cát quá ít lại là một vấn đề khác
vì đồng bằng cờ sông cần bùn để không bị biển lẫn.
Con sông từng chở quá nhiều đất, nay lại chở ít đi
và cả hai tình huống đều đặt ra những câu hỏi mới.
Ở Hoàng Hà, không có lời giải nào là trọn vẹn.
Tam ôn hiệp và tiểu lãng để.
Rời Long Môn, Hoàng Hà thoát khỏi chuỗi hẻm núi dài.
Bờ sông mở rộng, dòng nước chậm lại
chảy ra thành những bãi cát và cồn đất giữa lòng sông.
Ở vùng đất Vận Thành thuộc Sân Tây,
người ta nói rằng mỗi thước đất đều chưa dấu vết của lịch sử.
Ở Vĩnh Tế có một khúc sông từng là Bến Bồ Tân,
một trong những bến vượt sông quan trọng nhất thời cổ đại
Rồi năm tháng trôi qua,
con sông dịch chuyển, bùn cát phủ dần lên những con trâu ấy.
Đến cuối thập niên 80 thế kỷ 20,
chúng được khai quật, đứng dậy từ dưới lớp bùn
như những nhân chứng của một thời đại.
Khó tìm được hình ảnh nào minh họa rõ hơn cho câu chuyện của Hoàng Hà.
Bùn cát không chỉ bồi đắp đông băng,
mà còn trôn cả lịch sử.
Cũng ở Vĩnh Tế,
bên bờ sông có quán Tức Lâu,
tòa lò nổi tiếng như một bài thơ của Vương Tri Hoán thời đường.
Bài thơ chỉ có 20 chữ
nói về mặt trời khuất sau núi, Hoàng Hà chảy ra biển
và một lời khuyên giản dị
muốn nhìn sang ngàn dặm, hãy bước lên thêm một tầng lầu.
Tòa lầu gốc đã bị hủy từ nhiều thế kỷ trước
và được dựng lại vài thập niên gần đây.
Nhưng người ta vẫn lên đó để làm điều
Vương Tri Hoán đã làm, nhìn ra dòng sông.
Rồi đến Đồng Quan,
sau khi nhận nước từ sông Vị,
nhánh lớn nhất của Hoàng Hà,
con sông đâm thẳng vào chân dẫy Tần Lịnh
và ngoặt gấp sang phía đông.
Ở khúc ngoặt ấy, dưới chân dẫy hòa sơn dựng đứng,
Đồng Quan nằm như một cái thên cải của Quang Trung
vùng đất có Tây An, gố đô Trường An
của nhà Hán và nhà Đường.
Người xưa nói ai giữ được Đồng Quan thì giữ được cửa ngõ Kinh Đô
sông Vị nuôi dưỡng Kinh Thành ấy
còn Hoàng Hà đứng bên ngoài như một người bảo vệ khổng lồ
chỉ tay về phía đông.
Xui thêm Hoàng Hà lại gặp một khe núi,
Ta Môn Hiệp, tên gọi xuất phát từ ba dòng chảy
do những hòn đảo đã chia cắt
Chuyên thuyết cũng kể rằng
đây là nơi đại vũ đục núi dẫn nước lũ đi.
Người xưa nói rằng thuyền đi qua Quỷ Môn hiếm khi sống sót.
Năm 1957,
người ta bắt đầu xây con đập đầu tiên
trên dòng chính Hoàng Hà ở đây
với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô.
Đập hoàn thành năm 1960
nhưng chỉ sau một thời gian ngắn,
bùn cát đổ về nhiều hơn dự tính,
lấp đầy hồ chướn nhanh chóng và đẩy đáy sông ở thực lưu cao lên.
Các kỹ sư phải sửa lại công trình,
mở thêm cửa sả, thay đổi cách vận hành.
Đó là một bài học đắt giá ở Hoàng Hà.
Xây đập không chỉ là chuyện giữ nước
mà còn là chuyện giữ và xả bùn.
Ngày nay, Tam Môn Hiệp mang một hình ảnh dịu dàng hơn.
Mỗi mùa đông,
hàng nghìn con thiên Nga từ phương Bắc bay đến các bãi bồi
của hồ chứa để trú đông,
khiến thành phố được gọi là thành phố thiên Nga.
Cảnh những cánh trắng lướt trên mặt nước,
vàng là một trong những khung hình hiếm hoi
mà hai màu sắc ấy hòa vào nhau.
Cách đó không xa,
ở Hạ Lưu, là Tiểu Lãng Để,
con đập hoàn thành năm 2001,
cao khoảng 154 mét,
với hồ chứa hơn 12 tỷ mét khối nước.
Công việc của nó không chỉ là phát điện hay chống lũ,
mà còn là điều tiết cả nước lẫn bùn cát.
Từ năm 2002,
mỗi mùa hè, người ta mở các cửa sả,
cho nước từ hồ ào ra với lưu lượng lớn,
cuốn theo bùn cát tích tụ dưới đáy hồ và lòng sông,
đẩy chúng ra biển.
Cảnh tựa khi ấy thật ngoạn mục từ chân đập,
những con nước vàng đục phun ra cuộn cuộn như những con rồng vàng,
tiếng gầm vang cả thúng lộn.
Nhiều năm sau, theo các báo cáo được công bố,
lòng sông ở Hạ Lưu đã sâu thêm,
khả năng thoát lũ tăng lên rõ rệt,
có thể nói con người đang dạy cho Hoàng Hà
cách tự làm sạch mình.
Nhưng cũng có thể nói rằng,
con sông đang dạy cho con người một bài học kiên nhẫn,
muốn sống chung với nó, phải học cả cách chảy cùng nó.
Sau Tiểu Lãng Để, con sông chảy ra khỏi hẻm núi cuối cùng,
phía trước không còn núi nào để chặn,
chỉ còn một cánh đồng bằng vô tận, đảo Hoa Dục.
Trước khi đến cửa ngõ cuối cùng,
chúng ta dừng lại ở Mạnh Tân thuộc Hà Nam,
nơi gắn với một truyền thuyết cổ xưa
bậc nhất về Hoàng Hà.
Người xưa kể rằng, vào thời Phục Hy,
có một con lòng mã bước ra từ dòng sông,
trên lưng mang những chấm đen trắng xếp thành hình.
Phục Hy nhìn những chấm ấy,
và lấy đó làm nền tả để vẽ ra bát quái.
Người ta gọi truyền thuyết ấy là Hà xuất đồ,
xong Hoàng Hà hiện ra bức đồ,
và cùng với Lạc xuất thư,
sông Lạc hiện ra cuốn sách.
Chúng trở thành hai cội nguồn huyền thoại của kinh dịch.
Dù là truyền thuyết, câu chuyện ấy nói lên một điều.
Với người xưa, con sông không chỉ bán nước,
mà còn bàn cả trí thức.
Rồi đến đảo Hoa Dục, thung lũng Hoa Đảo.
Cái tên nghe như trong tử thuyết,
nhưng đây là một địa danh có thật,
thuộc Trịnh Châu, Hà Nam,
nơi đánh dấu điểm kết thúc của Trung Du.
Từ đây, Hoàng Hà rời núi để bước vào Đông Bằng.
Ngay gần đó, trên ngọn mang sơn nhìn xuống dòng sông,
là hai pho tự khổng lồ của Viêm Đế và Hoàng Đế,
cao khoảng 106 mét,
hoàn thành vào năm 2007.
Hai vị vua huyền thoại,
được người Trung Hoa xem như thủy tổ,
cùng nhìn ra dòng sông mà theo truyền thuyết,
đã nuôi dưỡng dân tộc họ.
Đứng dưới chân pho tự,
người ta nhìn lên cũng thấy khuôn mặt
hai vị vua nhỏ lại giữa trời rộng,
và bên dưới là dòng sông vàng chảy chậm,
lạng lẽ, như thể đã quen
Nhưng chính ở nơi mà con sông dịu lại này,
một câu chuyện khác bắt đầu.
Sau đảo Hoa Dục, dòng sông bung ra giữa đồng bằng
tốc độ chậm hẳn, buồn cát không còn được cuốn đi
mà lắng xuống đáy, năm này qua năm khác.
Đấy sông cao dần,
người dân phải đắp đê cao hơn, rồi lại cao hơn nữa,
và cuối cùng ở nhiều đoạn,
mặt nước sông nằm cao hơn cả mặt đất hai bên.
Người ta gọi đó là sông treo.
Ở Khái Phong, đáy sông cao hơn mặt đất
trong thành phố chừng 3 đến 5 mét.
Đó cũng là lý do vì sao Hạ Du Hoàng Hà,
theo sử sách, đã vỡ đê hơn 1.500 lần
và đổi dòng hàng chục lần.
Nhưng theo các báo cáo chính thức,
từ năm 1949 đến nay,
đoạn đê Hạ Du chưa xảy ra một lần vỡ đê lớn nào.
Nó là kết quả của những con đập ở Thượng
và Trung Du, của những cánh đồng bậc thang
ở Cao Nguyên, của những đợt sả bùn
ở Tiểu Lãng Để, và của cả cuộc đấu tranh
không nghỉ giữa người và sông.
Đảo Hoa Dục là nơi con sông rời hẻm núi,
và cũng là nơi hành trình của chúng ta dừng lại.
Phía sau là 1.206km
của những hẻm núi, thác nước, Cao Nguyên,
những nhà hàng, trống trận và những huyền thoại.
Phía trước là Đồng Bằng,
nơi con sông chảy cao hơn cả mảnh đất mà nó nuôi.
Vậy là chúng ta đã đi hết chặng đường
Trung Du của Hoàng Hà, từ Hà Khẩu
ở Nội Mông đến Đảo Hoa Dục ở Hà Nam.
Trên hơn 1.200km ấy,
chúng ta đã gặp Lão Nhu Loan, nơi trường thành
và dòng sông bắt tay nhau.
Chúng ta đã đi qua đại hẻm núi Tấn, Thiệp,
nghe tiếng hò của người trèo thuyền
và tiếng trống vang qua thùng lộn.
Chúng ta đã đứng trước hồ khẩu, nơi cả dòng sông đổ xuống 1 khe đá
và trước long môn, nơi cá chép hóa rồng.
Chúng ta đã nhìn vào Cao Nguyên Hoàng Thổ
để hiểu vì sao con sông mang màu vàng.
Và chúng ta đã thấy con người dùng đập, dùng ruộng bậc thang,
dùng cả kiên nhẫn để sống chung
với 1 dòng sông không bao giờ hiền lành.
Nếu phải nói 1 điều đọng lại nhất,
có lẽ đó là Hoàng Hà không chỉ là 1 con sông.
Nó là những bài hát, những truyền thuyết,
những mái nhà đào và lồng đất
là bản hợp sướng vang lên giữa thời chiến tranh,
là bức tường bắt tay với dòng nước ở Lão Luan.
Con sông vàng ấy đã được người ta gọi là mẹ
vì lẽ đó nó nuôi họ, nhưng cũng dạy họ
và đôi khi thử thách họ.
Cảm ơn các bạn đã đồng hành cùng kênh Trung Quốc Open
đến hết video này.
Nếu thấy video bổ ích, hãy để lại 1 lượt thích,
đăng ký kênh và chia sẻ cảm nhận của bạn ở phần bình luận
để chúng mình biết bạn muốn khám phá tiếp vùng đất nào.
Ở phần sau,
Xin chào và hẹn gặp lại các bạn!
