#thông_điệp_cuộc_sống#thiên_chúa#điều_kỳ_diệu_của_cuộc_sống CHO BẠN NÀO CẦN MUA SÁCH TINH HOA CẦN THIẾT CHO THỜI ĐẠI MỚI, VỪA ĐỌC VỪA SUY NGẪM : 3 trong 9 cuốn sách ĐỐI THOẠI VỚI THƯỢNG ĐẾ trong link đính kèm, với nhiều chủ đề đã được phát hành, và đã đã trở thành người hướng đạo tinh thần giải tỏa sức ép cho hàng triệu triệu độc giả trong đời sống hậu công nghiệp, được dịch ra trên 40 thứ tiếng và đưa tên tuổi nhà văn trở thành vị sứ giả tinh thần của thời hiện đại. ******************* Đối thoại với Thượng Đế chứa hầu hết tri thức tuyệt vời của nhân loại: Cách vận hành của vũ trụ và cuộc sống Cách giúp đạt được điều mình mong ước. Cách giáo dục con cái trong thời đại mới Cách thức tỉnh bản thân và nhân loại hướng tới thời đại hoàng kim. .... Mình đã đọc bộ sách này hơn 50 lần rồi, kéo dài liên tục cũng trên 3 năm rồi , và vẫn đọc đi đọc lại mỗi ngày, nhưng vẫn chưa khám phá hết kho tàng tri thức hơn cả tuyệt vời trong bộ sách này. Lúc bận nấu ăn hay tập thể dục hay gì đó có thể mở audio của mình nghe, còn nếu có điều kiện bạn có thể mua về gối đầu giường lúc rảnh rỗi vừa đọc vừa ngẫm , RẤT TUYỆT VỜI!!!
Tàu Noe là con tàu được nhắc đến ở chương 6 đến chương 9 của sách Sáng Thế trong Kinh Thánh.
Trong đó nó mô tả việc ông Noe đóng con tàu này theo ý Chúa,
là để cứu ông và gia đình cùng các loài động vật thoát khỏi diệt vong bởi trận đại hồng thủy.
Đó là một con tàu khổng lồ.
Nó cao 14 thước, chiều dài 137 thước, chiều rộng 23 thước.
Nó không có bánh lái và trông như một chiếc hộp,
bởi vì mục đích của nó không phải là để lái đi đến đâu cả,
chỉ là nổi và sống sót.
Trong suốt một thời gian dài,
con tàu này vẫn được xem là hư cấu,
cho đến khi nó được tìm thấy tại núi Ararat thuộc Thổ Nhĩ Kỳ.
Hôm nay chúng ta sẽ cùng ngược dòng thời gian để tìm hiểu về câu chuyện này,
cùng với những bài học đáng suy ngẫm cho loài người chúng ta hiện nay.
Thời cổ đại đã từng tồn tại nhiều nền văn minh không được ghi chép trong lịch sử giới hạn của con người,
trong đó có những nền văn minh mà tuổi thọ con người kéo dài hàng trăm năm tuổi,
cũng như mọi nền văn minh khác.
Sau những thời kỳ dài nhân loại trải qua những tham sân si trong cuộc sống,
con người dần lạc lối,
và họ dường như chỉ sùng bái những người có địa vị và lắm tiền nhiều của.
Trong các thánh đường tráng lệ của đô thành Simara thời bấy giờ,
là các thầy tu sống xa hoa,
ngày ngày giao giảng đạo đức,
đêm đêm vui vầy yên ấm và mưu toan những trò chơi chính trị.
Họ thao thao bất tuyệt về việc sẽ xây dựng thành công cõi thiên đường tại nhân gian một ngày không xa.
Tất nhiên là trong những thiên đường ấy vắng bóng Thiên Chúa,
vì Ngài không dạy con người sống như vậy.
Thay vì tin và làm theo lời Thiên Chúa,
hầu như dân chúng dưới sự dẫn dắt của giới tăng lữ,
đang bái lại những thần quái lạ có thể đem lại cho họ quyền lực,
của cải vật chất và những đam mê trần gian.
Họ trở nên quá vô tâm vô trí,
đến mức họ không còn biết cái gì là chính đáng,
mà họ cũng chẳng còn thời gian và tâm trí để tìm hiểu về điều đó.
Nội e và gia đình là một trong số ít những người thiện lành còn tin và làm theo lời Chúa dạy.
Ông muốn chia sẻ đức tin với mọi người,
nhưng thật khó, vì dân chúng chỉ hâm mộ những thành tựu của nền văn minh hiện đại
đã tạo nên những công trình kỳ vĩ,
những tiện nghi vật chất xưa nay chưa từng có.
Họ chả tin vào điều gì cả.
Theo họ, đời ai cũng chỉ sống một lần,
nên cứ phải tranh thủ hưởng thụ khi còn có thể.
Chứ họ không biết rằng,
đời người chỉ là một ngày nhỏ trong kiếp sống kéo dài vĩnh viễn thiên thu.
Đức hạnh của nội e đã giúp ông nhiều lần được gặp và trò chuyện với Thiên Chúa.
Ông vẫn còn nhớ cái lác đầu thở dài và giọng nói oai nghiêm của Thiên Chúa
ngày hôm ấy trong vườn ô lưu.
Thần khí của ta sẽ không lưu tổn mãi mãi nơi loài người.
Nếu loài người không vượt qua được sự sa đoạ và độc giữ này,
thì tuổi đời của chúng sẽ không dài hơn 120 năm.
Và Thiên Chúa nói,
ta sẽ xóa sạch khỏi mặt đất con người mà ta tạo dựng,
không chỉ loài người mà còn hết thải thú vật,
côn trùng, chim trời và toàn bộ thế giới,
vì ta hối tiếc rằng đã tạo ra chúng.
Nhưng người nội, người phải đóng một con tàu bằng gỗ bô phơ,
người sẽ ngăn tàu ấy thành từng buồng,
rồi lấy dầu hắt chám cả trong lẫn ngoài để nước không thể dị vào.
Tàu đó cao 3 tầng và nó phải cao 14 thước,
chiều dài 137 thước,
chiều rộng 23 thước.
Ta sẽ cho người 50 năm để hoàn thành con tàu.
Đó cũng là thời gian để loài người hối cải
trước khi ta thực thi quyết định của mình.
Nội trăm chú lắng nghe lời Thiên Chúa một cách kinh ngạc.
Ông chưa từng đóng tàu,
lại là một con tàu to lớn như vậy.
Ông biết phải làm sao?
Mặc dù Thiên Chúa đã chỉ vẽ cặn kẽ cho ông rằng
con tàu phải được đóng chắc chắn với khung sườn bằng gỗ cứng cáp,
có một cái mũi chết lên cao để nước không tràn vào bon tàu,
và một bên mạng tàu có một cửa sổ
và một cửa lớn độc nhất để ra vào.
Nhưng nhà ông lại cách rất xa bờ biển.
Vậy đóng con tàu này để làm gì?
Thiên Chúa hiểu tất cả những gì nội đang băn khoăn.
Ngài nói sẽ có một trận đại hồng thủy khắp cõi đất
và hết thải sinh linh dưới gầm trời sẽ bị hủy diệt.
Nhưng nội ạ, với ngươi ta lập lời hứa,
khi nào đóng xong con tàu đó thì ngươi, vợ ngươi,
và ba người con trai của ngươi cùng gia đình của chúng sẽ đi vào trong tàu.
Ta thấy ngươi là người ngay lành và ta sẽ cứu ngươi.
Còn về tất cả các sinh vật đang sống,
trừ loài người ra, ngươi hãy mang vào trong tàu mỗi loài một cặp
để giữ cho chúng sống sót cùng ngươi.
Mỗi cặp gồm một con đực và một con cái.
Và ngươi hãy gom đủ loại lương thực,
cất chúng trên tàu để cung cấp cho các ngươi,
cho hết thải các loài thú vật ở chung với ngươi trên con tàu đó.
Cả gia đình nội bàn bạc về những việc cần phải làm.
Sẽ phải vào núi đốn cây dồi vận chuyển về,
có gỗ và các nguyên vật liệu khác thì mới đóng được tàu.
Phải đi tìm và lùa bắt các loài chim thú như yêu cầu của Thiên Chúa.
Phải chuẩn bị lương thực cho đại gia đình và cho lũ thú vật.
Trong khi đó vẫn phải lo mùa màng để có cái ăn hàng ngày.
Nhưng có một việc cần làm trước nhất,
đó là đi cảnh tỉnh hết thải mọi người về tai họa này.
Họ cần biết rằng nếu họ không thay đổi lối sống,
trở nên tốt đẹp hơn,
thì 50 năm nữa họ sẽ bị quét sạch khỏi thế gian này.
Thiên Chúa Tử Bi đã ban cho họ cơ hội không nhỏ,
và họ phải biết nắm lấy.
Nhưng khi Nô E gặp từng người và Tử Tốn chia sẻ sự thật đáng sửng sốt đó,
điều mà ông nhận lại chỉ là những cái nhìn nghi ngờ,
kẻ lạnh, cùng những lời chế diễu.
Người lớn thì cười rộ lên nhạo báng,
còn lũ trẻ con thì lấy cà chua trứng thối ném vào ông.
Nô E vẫn điềm nhiên đứng thẳng chịu đựng mà không tỏ ra tức giận.
Mặc cho những sự nhạo báng đó,
ngày ngày ông vẫn đi vào Simara để giao truyền lời Thiên Chúa.
Ông chấp nhận mọi khổ nhục,
cốt sao cho người dân hiểu ra chân tướng sự việc,
để thay đổi và có lối sống tốt đẹp hơn.
Dù có hay không có Đại Hồng Thủy,
đó vẫn là một điều nên làm.
Nhưng chẳng có ai tin vào điều ấy.
Ngược lại, ai cũng tin rằng,
Simara dù có xa đoạ đến đâu thì trong đó cũng không có mình.
Do vậy, lời Thiên Chúa hay bất cứ ai đó không phải đang nói về họ.
Sau một năm vất vả lên rừng chặt cây làm tàu,
tìm động vật hoang dã để giữ chúng khi có Đại Hồng Thủy,
kết quả dường như không có gì tiến triển.
Trong lúc bi quan ấy, chính Nô E cũng cảm thấy phân vân.
Ông không nghi ngờ Thiên Chúa của mình,
nhưng ông cảm thấy khó hiểu với công việc mà Thiên Chúa giao cho ông.
Ý nghĩa của toàn bộ công trình này là gì?
Tại sao ông phải tự tay làm nó?
Và trong vườn ô lưu,
Nô E cầu nguyện và Thiên Chúa đã hiện ra trước mặt ông,
cao lớn, sừng sững và uy nghi sáng trói.
Nô E hỏi Thiên Chúa,
lại Thiên Chúa toàn năng,
chúng con chỉ là những người trần mắt thịt.
Làm sao chúng con có thể làm hết những công việc khó khăn này?
Sao Ngài không làm điều ấy?
Vì đối với Ngài việc ấy thật quá đơn giản.
Giọng Thiên Chúa đáp lại rằng,
đúng, ta có thể tái tạo mọi thứ từ đầu Nô E ạ,
kể cả con và gia đình con,
nhưng như thế thì đã là người khác rồi,
không còn là các con nữa.
Còn tại sao ta không tạo ra con tàu,
cùng với tất cả thú vật trên đó ư?
Vì từ thở sáng thế,
thú vật được ta tạo ra để phục vụ con người,
làm giàu có thêm thế giới của con người.
Như vậy các con phải có trách nhiệm với chúng,
như ông Tổ Adam của con đã làm vậy.
Và lại, nếu các con không phải làm gì nữa,
thì còn đâu cơ hội để các con tự hoàn thiện mình.
Chừng nào tâm các con chưa được luyện qua
hết thảy những khó nhọc của thân xác
và những nỗi thống khổ của tinh thần
để trở nên toàn vẹn,
thì các con vẫn chưa chứng tỏ mình
xứng đáng có mặt ở tương lai.
Chỉ cần trong tâm các con không có điều gì trở ngại,
lúc ấy thần tích của ta mới có thể triển hiện
để giúp các con được.
Đầu óc Nô E bỗng nhiên bừng sáng,
toàn thân chấn động và ấm nóng.
Ông về chuyển lửa và tiếp sức niềm tin cho cả gia đình.
Những người con trai đam đam nhìn cha,
và họ cảm nhận như được chuyển thêm
một luồng sinh lực vô biên
từ niềm tin không thể lay chuyển của cha mình.
Họ thầm nhắc mình phải kiên định hơn.
Từ đó mọi việc dần dần đi vào quỹ đảo.
Cả gia đình Nô E đã có thể sống bình thản
giữa những lời trêu chọc khiêu khích
của những người xung quanh.
Bốn cha con họ cũng thuần thục
trong việc điều khiển đàn voi.
Họ đã khai thác được những cây gỗ đầu tiên.
Họ dành thời gian làm một chiếc xe
đặt trên đó gỗ khai thác được
rồi dùng voi kéo để vận chuyển
về tận xưởng đóng tàu ở gần nhà.
Rồi với sự trợ giúp của lũ voi
họ ghép những thành gỗ
đã được cưa cắt lại với nhau.
Cứ thế con tàu lớn đã dần dần thành hình.
Sau gần 50 năm dưới sự dẫn dắt của Nô E
con tàu cũng đã được hoàn thiện.
Thật là một khoảng thời gian không nhỏ.
Bao nhiêu mồ hôi, nước mắt
và cả máu nữa đã đổ vào đây.
Lương thực đã được chuẩn bị đầy đủ
sau chừng ấy năm.
Giờ chỉ còn việc đi lùa thú vào đó là xong.
Nghĩ đến việc đi lùa thú hoang
Nô E cũng cảm thấy kỳ lạ.
Khi chiếc tàu dần hoàn thành
thì không biết cơ man nào mà thú hoang
đủ hết các loại ở đâu kéo về núi Zagos.
Nhưng nghĩ kỹ hơn
Nô E hiểu đó chính là thần tích
mà Thiên Chúa đã triển hiện để giúp
gia đình ông khi niềm tin của họ đã đủ đầy.
Công việc sắp xong nhưng
Nô E lại cảm thấy ngày càng sốt ruột.
Sau chừng ấy năm,
con người không tốt đẹp hơn
mà ngày càng ham tranh đấu,
càng lún sâu trong giả dối và độc ác.
Trong lúc sốt ruột đầy lo lắng
thì Nô E nằm ngủ bao giờ không hay
và ông đã mơ thấy một cơn ác mộng kinh hoàng.
Ông mơ thấy xung quanh ông
toàn xác người và xúc vật chết nổi lềnh bềnh,
tái ngát, lạnh cứng
với những đôi mắt mở chừng chừng.
Ông hét to lên một tiếng rồi
choàng tỉnh dậy, người ướt đẫm mồ hôi lạnh.
Cùng lúc đó thì bọn người xấu
đã cho lính tới đốt tàu.
Lửa cháy bừng bừng từ đám giản giáo
và sắp bén vào thân tàu.
Trong lúc cha con Nô E ôm nhau khóc bất lực
thì trời bỗng nổi một cơn
sấm xét kinh thiên động địa
rồi một trận mưa rào cực lớn
dội xuống đám cháy.
Trong phút chốc lửa tắt ngấm,
lửa tắt thì mưa cũng vừa tạnh.
Nô E chạy ngay tới đống giản giáo ngấm nước
đang bốc khói nghi ngút.
Giản giáo đã hóa than dụng lả tả
nhưng thân tàu thì gần như không hề hấn.
Đám hắc thủ đờ người ra khi nhìn thấy
thần tích triển hiện
rồi chúng hè nhau chạy trốn.
Sau sự việc ấy, cha con Nô E cảm thấy
việc đã đến lúc cấp bách.
Họ nhanh chóng lùa động vật lên tàu
bao gồm cả lũ voi,
những trợ thủ đắc lực và thân thiết.
Mây đen bắt đầu kéo đến,
dần dần dày đặc, có tiếng sấm xét
đi đùng, bầu trời như thấp trĩu xuống
và mưa bắt đầu rơi.
Trời bắt đầu mưa từ sáng hôm qua
kết thúc một thời kỳ khô hạn
của Simara, dân cư
trong thành sung sướng đón mưa.
Họ cho rằng máy đo thời tiết đã dự báo đúng.
Sẽ có một cơn mưa rào kéo dài
từ sáng đến tối,
và họ sẽ có đủ nước sinh hoạt và sản xuất.
Nhưng mưa đã rơi suốt
từ sáng hôm qua đến tận trưa nay
mà không có dấu hiệu dừng lại.
Những hạt mưa lớn, dày đặc rơi ảo ảo
xuống vườn cây. Mưa vẫn tiếp tục
rơi qua đêm, đến sáng hôm sau
thì nước đã chản vào từng nhà.
Từ các ngôi nhà trong thành Simara,
dân cư túa ra đường,
rời khỏi chốn nương não của mình như
những đàn chuột rời chiếc tàu đắm.
Bỗng một tiếng sấm nổ kinh thiên động địa
trên bầu trời dày đặc mây đen,
sau đó là liên hoàn những tiếng nổ
đinh tai nhức óc, những tia xét
dài loàng hoàng như muốn xé cả bầu trời ra
thành từng mảnh. Rồi trong
sự kinh hoàng của loài người, những
dòng thác nước cuồn cuộn từ trên cao chạy
khắp nơi, cảnh tượng như các
cửa sổ nhà trời mở toang ra cho nước
trong vũ trụ rồn hết xuống nhân gian.
Trong lúc bất lực chẳng biết đi đâu
thì họ nhớ tới con tàu của Nô E.
Thế là cả đám người đông nghịch
hỗn độn ấy, vừa la hết
kinh hoàng, vừa chạy thục mạng về phía
con tàu nhà Nô E ở phía xa kia.
Nhưng bỗng nhiên mặt đất chuyển động,
rồi đột nhiên nước toác ra nhiều chỗ,
rồi từ dưới lòng đất bật tung
lên những mạch nước ngầm,
các lối đi như bị ngăn cách họ đến con tàu
của Nô E. Đám đông tan tác,
mạnh ai nấy chạy, tản
về những chỗ đất cao gần đó.
Họ chạy lên đồi, rồi lên
những ngọn núi ở ngoại thành Simara.
Gia đình Nô E và các
con vật đã yên vị trên con tàu khổng lồ.
Nhưng trong thâm tâm ông cảm thấy
xót thương cho dân chúng, vì ông biết
rằng thức tỉnh thế nhân đang
trong cơn mê quả là một việc muôn vàn
khó khăn. Công việc ấy từ 50
năm nay chưa từng có kết quả.
Giờ nhìn họ tận diệt ông quá đau lòng.
Lúc này Nô E đành quỷ xuống cầu nguyện.
Từ trong xoáy nước vĩ đại đó,
con tàu nổi lên trên
mặt nước, trao đảo rồi vững vàng
trên sóng dữ. Con tàu
như trôi đi vào nơi vô định, phó
thác hoàn toàn vào sự an bài của Thiên Chúa.
Nhưng bỗng những âm thanh
bên ngoài khiến họ sờn gai ốc.
Nô E mở cửa chính ở mạng tàu.
Trước mắt ông là một cảnh tượng kinh hoàng.
Tàu đang trôi ngang qua
một ngọn núi đầy áp những người.
Phải có đến mấy vạn người đang chen chúc
nhau ở đó. Nhìn từ xa như
đàn kiến cuống quyết chạy qua chạy lại
trên cái ụ đất khi nước lụt tràn đến.
Nước đã ngập đến quá lưng
trừng núi và vẫn tiếp tục dâng cao.
Người ta chen chúc tranh giành để
giành lấy vị trí cao hơn trên đỉnh núi.
Cố gắng bám vào một hy vọng
sống mong manh. Khắp nơi trên núi
là xác người chết, là những lời
riêng siết than vãn, khóc lóc vật vã
kêu gào thống hận. Những người ấy
đã nhìn thấy con tàu của Nô E
nhưng con tàu vẫn cứ trôi.
Vì đấy là mục đích nó được làm ra.
Trôi nổi chứ không phải để lái đi
đến đâu cả. Thế là thay vì
cầu xin, người ta cam giận ném
theo Nô E những lời nguyện rùa.
Mưa vẫn rơi trong suốt 40 ngày
kể từ hôm đầu tiên họ lên tàu.
Buổi sáng hôm ấy, Nô E
chậm chạp đi ra ngoài cửa tàu và mở
cửa lên nhìn. Mưa vừa tạnh,
bầu trời vẫn u ám.
Bên ngoài không còn bất cứ một dấu hiệu gì
của sự sống. Cả không gian rộng
lớn chẳng còn lại gì ngoài mặt nước
mênh mông xa thẳm. Trên đó bập bệnh
duy nhất một con tàu gỗ.
Sau vài lần thả chim bồ câu để hy vọng
tìm thấy đất liền thì Nô E cũng đã
thành công. Vào ngày đầu tiên
sau sinh nhật lần thứ 600 của cuộc đời
Nô E, ông đã rời khỏi con tàu,
chạm chân xuống mặt đất của
đỉnh núi Ararat, một thế giới
mới đầy lạ lùng trải ra trước mắt ông.
Gia đình Nô E và toàn bộ thú vật
bắt đầu một cuộc sống mới.
Chắc hẳn sẽ không còn Đại Hồng Thủy
nào nữa, nhưng Nô E biết một điều
rằng nền văn minh của nhân loại
gắn liền với tình trạng đạo đức của họ.
Đại Hồng Thủy đã để lại
bài học sâu sắc của trời đất cho muôn đời.
Trừng nào con người còn giữ được
đạo đức của mình thì trừng ấy nền văn
minh của họ vẫn tồn tại và phát triển,
còn không thì hậu quả sẽ ngược lại.
Qua câu chuyện này, chúng ta cũng
liên tưởng đến thế giới hiện nay.
Bên cạnh những dân tộc, những con
người ít nhiều đã thức tỉnh, họ chọn
giá trị mà họ đóng góp cho cộng đồng
làm mục đích sống, thay vì của cái vật
chất danh vọng họ có được, thì nhiều
người vẫn còn chìm đắm trong tham lam,
tàn bạo, phóng túng đạo đức bản thân.
Liệu những người này có thoát khỏi
thảm cảnh nếu họ không thức tỉnh?
Cảm ơn các bạn đã xem video.
Nếu thấy hay, các bạn có thể
nhấn đăng ký kênh để theo dõi
các video tiếp theo.