25 Ngôi Làng Đẹp Nhất Tây Ban Nha – Từ Làng Dưới Đá Đến Thành Cổ Bên Biển

Hiện Tượng Thiên Nhiên
41 Người theo dõi
110 Lượt xem video·6 thg 10, 2026
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Có nơi người ta không cần xây mái nhà, bởi một khối đá khổng lồ đã nằm sẵn ngay trên đầu.
Có thị trấn bị xé làm đôi bởi vực sâu, nhưng hai bên vẫn tồn tại suốt hàng thế kỷ, như thế chẳng hề sợ độ cao.
Và trên một hòn đảo giữa đải dương, có ngôi làng từng biệt lập đến mức muốn ra ngoài, người dân gần như chỉ có thể đi bộ hoặc cửi lửa.
Nếu bạn nghĩ Tây Ban Nha chỉ có Madrid hay Barcelona, hành trình này sẽ cho thấy một thế giới hoàn toàn khác.
Ronda, thị trấn bị vực thảm chia đôi
Ronda hiện ra như một kiệt tác hùng vĩ được nhào nặng bởi sự kết hợp hoàn hảo giữa thiên nhiên khốc liệt và bàn tay tải hoa của con người qua hàng thế kỷ.
Thị trấn cổ kính này nằm trọn trên một khối đá vôi khổng lồ ở độ cao hàng trăm mét, bị chia cắt làm hai nửa riêng biệt bởi hẻm núi Entaho sâu hung hút.
Nối liền hai bờ vực thảm thảm ấy là mảng kiến trúc kiêu hãnh của cây cầu Puente Nuevo, một công trình bằng đá sửng sững được hoàn thành từ thế kỷ 18.
Cây cầu đứng đó như một dải lụa đá kiên cố chứng kiến biết bao thang trầm của lịch sử Andalusia.
Bước đi trên những con phố nhỏ lát đá cuội của Ronda, người ta dễ dàng cảm nhận được bầu không khí trầm mặc và cổ kính.
Những ngôi nhà tường trắng nằm sát sản ngay mép vực thẩm tạo nên một không cảnh vừa ngoạn mục vừa khiến người xem không khỏi thoát tim.
Cảm giác đứng từ bờ tường đá vững chãi nhìn xuống khoảng không thăm thẳm bên dưới luôn mang lại sự choáng ngợp khó tả.
Khi hoàng hôn bắt đầu buông xuống, ánh nắng cuối ngày nhuộm vàng những vách đá vôi xám xịt tỏa ra thứ ánh sáng ấm áp lung linh.
Khung cảnh ấy khiến cả thành phố Ronda trông giống như một ban công khổng lồ tuyệt đẹp được treo lơ lửng giữa vùng không gian bao la của Andalusia.
Setenin de las Bodegas, nơi tảng đá trở thành mái nhà.
Rời khỏi những vách đá tranh vanh của Ronda, điểm dừng tiếp theo đưa ta vào một không gian hoàn toàn đối lập.
Ở Setenin de las Bodegas, người ta không đứng trên đỉnh vực để ngắm nhìn đất trời mà lại trú ẩn ngay dưới lòng những mái đá khổng lồ.
Thị trấn độc đáo này được xây dựng dọc theo hẻm núi hẹp do dòng sông Trejo, kiên trì bào mòn qua hàng ngàn năm lịch sử.
Thay vì xây dựng mái nhà truyền thống bằng gạch tai ổ, cư dân nơi đây đã thông minh tận dụng chính những vách đá vôi nhô ra tự nhiên để làm chăn và tường hậu cho căn nhà của mình.
Đi dọc theo những con phố hẹp ngon nguèo, bạn sẽ chứng kiến một cảnh tượng vô cùng kỳ vĩ khi những khối đá nặng hàng ngàn tấn nằm ngay trên đầu.
Tựa như toàn bộ thị trấn đang gánh trên vai trọng lượng khổng lồ của mặt đất.
Những căn nhà trắng nằm lọt thòm dưới bóng dâm vĩnh cửu của đá cổ.
Cảm giác vừa mắt lạnh vừa có chút tò mò khi bước đi dưới những mái đá tự nhiên ấy là một trải nghiệm độc nhất vô nhị.
Sự hòa hợp kỳ diệu giữa cuộc sống con người và địa hình thiên nhiên ban sơ đã biến Setenil thành một trong những điểm đến ấn tượng và khác biệt nhất trên bản đồ du lịch Tây Ban Nha.
Castellfollich de la Roca, ngôi làng sống trên mép đá.
Có những nơi phải bước vào bên trong mới thấy điều đặc biệt.
Castellfollich de la Roca thì không.
Chỉ cần nhìn từ phía đối diện, bạn đã hiểu tại sao ngôi làng nhỏ này khó bị nhầm với bất kỳ nơi nào khác.
Một dài nhà đá kéo dài trên đỉnh vách bà gian cao, sát nhau đến tận mép vực.
Phía dưới là thông lũng và những dòng sông, còn toàn bộ khu dân cư phía trên trông giống như được đặt lên một bức tường tự nhiên khổng lồ.
Điều khiến cảnh tượng ấy ấn tượng hơn là vách đá không hề có hình dáng mềm mại.
Những lớp bà gian tối màu dựng lên gần như thẳng đứng khiến các căn nhà phía trên càng có cảm giác mong manh.
Nhưng nền đá ấy không xuất hiện ngẫu nhiên.
Cảnh quan quanh Castellfollich de la Roca được hình thành bởi hoạt động núi lửa cổ xưa để lại khối bà gian mà con người sau này tận dụng làm nơi xây dựng.
Qua thời gian, nhà cửa, đường phố và cả nhà thờ dần xuất hiện trên dài đất hẹp phía trên tạo nên một ngôi làng mà kiến trúc gần như trở thành phần nối dài của địa chất.
Đi sâu vào bên trong, cảm giác nguy hiểm ban đầu lại dịu xuống.
Những con phố hẹp, nhà đá và nhịp sống bình thường khiến người ta đôi lúc quên rằng chỉ cách đó không xa là một vách đứng rất sâu.
Chỉ khi bước ra điểm nhìn cuối làng và thấy thông lũng mở rộng phía dưới, cảm giác ấy mới quay trở lại.
Thế nhưng, sống trên một vách đá vẫn chưa phải cách duy nhất con người từng tự cô lập mình khỏi thế giới.
Xa khỏi đất liền Tây Ban Nha, có một ngôi làng mà trong một thời gian rất dài, chuyện đi vào hay đi ra đã là cả một hành trình.
Masca, ngôi làng từng gần như biệt lập với thế giới.
Có thời điểm, muốn đến Masca, một con đường dành cho ô tô như chúng ta hình dung ngày nay đơn giản lại chưa tồn tại.
Người dân phải đi bộ hoặc sử dụng lừa để vượt qua địa hình núi non hiểm trở.
Và mãi đến khoảng những năm 1960, con đường kết nối ngôi làng với phần còn lại của Tenerife mới xuất hiện.
Có lẽ chính sự cô lập ấy khiến Masca ngày nay vẫn tạo cảm giác như một nơi được giấu kín giữa núi.
Ngôi làng nằm trong khối núi Teno, ở độ cao khoảng 600 mét, với những ngôi nhà nhỏ dài rác giữa các sườn núi dốc.
Từ trên cao nhìn xuống, các đỉnh đá dựng lên xung quanh giống như một bức tường tự nhiên,
còn con đường hiện tại phải uốn qua hàng loạt khúc cua gắt mới có thể tiếp cận khu dân cư.
Nhưng Masca còn có một lớp câu chuyện khác khiến nơi này càng bí ẩn.
Từ lâu, người ta vẫn chuyển nhau câu chuyện về những tên cướp biển từng sử dụng khu vực hẻm núi gần đây để cất dấu kho báu sau những cuộc tấn công ngoài khơi Tenerife.
Đó là truyền thuyết địa phương, chứ không phải một câu chuyện lịch sử đã được xác nhận.
Nhưng giữa địa hình kín đáo của Masca, không khó hiểu vì sao những câu chuyện như vậy có thể tồn tại qua nhiều thế hệ.
Ngày nay, Masca không còn bị tách biệt như trước.
Con đường đã đưa thế giới bên ngoài đến gần hơn, còn những tuyến đi bộ xuyên qua vùng núi đưa du khách vào một cảnh quan hoàn toàn khác với những bãi biển thường gắn với hình ảnh Tenerife.
Thế nhưng, khi đứng giữa các vách đá, nhìn mây trôi qua những đỉnh núi và thấy đại dương ở rất xa phía dưới, Masca vẫn giữ được một cảm giác khó giải thích.
Không hẳn là bị cô lập, mà giống như nơi này đã cố tình lùi lại một bước khỏi thế giới bên ngoài rồi ở yên đó suốt một thời gian rất dài.
Albaracín, mê cung màu đất giữa những ngọn đồi.
Rời xa sắc trắng đặc trưng của miền Nam nắng gió, hành trình ngược lên vùng núi cao Teruel lạnh giá để khám phá Albaracín.
Đây là một thị trấn mang vẻ đẹp hoàn toàn khác biệt với tông màu đất nung và gạch hồng ấm áp tách biệt hẳn với phần còn lại của đất nước.
Albaracín nằm uốn lượn mềm mại theo một đường cong hiểm trở của dòng sông Guadalajara.
Được bao bọc kiên cố bởi những bức tường thành cổ kính chạy dọc theo sống núi đá trong chênh.
Những ngôi nhà cổ ở Albaracín được xây dựng hoàn toàn bằng gỗ và đất xét đỏ địa phương, tạo nên sắc hồng cam đặc trưng có khả năng biến đổi sắc độ kỳ diệu theo từng việt nắng trong ngày.
Các con đường trong thị trấn dốc đứng và hẹp đến mức mái nhà của hai bên đường tưởng chừng như sắp chạm vào nhau ở phía trên cao.
Đi giữa lòng Albaracín, tiếng bước chân khẽ vang trên đá cổ khiến ta có cảm giác như đang bước lùi thời gian về lại thời Trung Cổ xa xăm.
Nơi đây, từng phiến đá, từng đà gỗ và bờ tường xám màu đều còn in đậm dấu ấn lịch sử phong kín kiên cường, biến Albaracín thành một pháo đài trầm mặc giữa đại ngàn.
Besalú, bước qua cây cầu là bước vào Trung Cổ.
Có những cây cầu chỉ đưa người ta từ bờ này sang bờ kia, cây cầu đá dẫn vào Besalú lại tạo cảm giác như đưa người ta sang một thời đại khác.
Nó bắt qua dòng sông Fluvia.
Với những nhịp đá không hoàn toàn thẳng hàng, ở giữa nổi lên một tháp phòng thủ khiến lối vào thị trấn càng giống cánh cổng của một pháo đài cổ.
Khi còn đứng phía ngoài, bạn vẫn có thể nhìn toàn cảnh Besalú.
Nhưng một khi đã bước qua cầu, góc nhìn dần thu hẹp lại thay bằng những bức tường đá, mái vòm và lối đi nhỏ lên giữa các ngôi nhà.
Chính cây cầu này là lối dẫn vào không gian phố cổ, nơi còn lưu giữ kiến trúc Dolman và dấu tích của cộng đồng Do Thái từng sinh sống tại Besalú.
Những lớp lịch sử ấy không nằm tách biệt trong một bảo tàng mà sen ngay vào cấu trúc của thị trấn.
Một quảng trường nhỏ có thể xuất hiện sau góc phố, rồi vài bước nữa lại là một mái vòm hay bức tường đã đứng đó từ rất lâu.
Besalú vì thế không cần cố tạo ra cảm giác trung cổ.
Đá cũ, những lối đi hẹp và cây cầu phía sau lưng đã làm điều đó một cách tự nhiên.
Nhưng vẫn còn một nơi khác ở Catalunya, nơi quá khứ không tập trung quanh một cây cầu.
Gần như cả ngôi làng đã trở thành một mảnh ghép trung cổ còn xót lại.
Panso, mảnh Catalunya trung cổ gần như còn nguyên.
Panso không gây chóng ngay từ xa, nó cần người ta đi chậm một chút.
Bước sâu vào khu phố cổ, những dấu hiệu của cuộc sống hiện đại dần lùi lại sau các bức tường đá vàng.
Đường phố thu hẹp, những mái vòm nối qua lối đi, bàn công nhô ra trên các mặt nhà cũ,
và những quảng trường nhỏ bất ngờ xuất hiện sau một khúc rẽ.
Không có một chi tiết nào quá phô trương, nhưng khi tất cả đứng cạnh nhau,
Panso tạo ra một không gian liền mạnh đến mức đôi lúc rất khó đoán
mình đang nhìn một ngôi làng của hiện tại hay một bối cảnh được giữ lại từ thời trung cổ.
Phía trên những mái nhà là Torre de les Horex, tháp cổ nổi bật trong đường chân trời của Panso.
Từ khu vực cao của làng, không cảnh đột nhiên mở rộng,
những bức tường đá vừa khiến không gian phía dưới có phần khép kín,
giờ nhường chỗ cho đồng bằng trải ra xa,
và vào những ngày quang đẳng, tầm nhìn có thể hướng về cả dãy Pyrenees, lẫn phía địa trung hải.
Chính sự tương phản giữa không gian cổ kính bên trong và tầm nhìn rộng lớn bên ngoài
đã tạo nên nét riêng độc đáo của Panso.
Có lẽ vì vậy, Panso đẹp nhất không phải khi chỉ nhìn một ngôi nhà hay một tòa tháp,
mà khi đứng đủ cao để thấy toàn bộ ngôi làng nằm gọn dưới chân mình.
Còn ở Pedraça, cảm giác bước vào quá khứ bắt đầu sớm hơn,
ngay tại nơi người ta đặt chân qua cổng thành.
Pedraça, thị trấn sau một cánh cổng
Muốn vào khu phố cổ Pedraça, người ta phải đi qua một cánh cổng đá đã tồn tại từ rất lâu.
Chỉ một chi tiết ấy cũng đủ làm nhịp của chuyến đi chậm xuống.
Phía sau cổng không phải một nơi đầy những công trình đổ sộ chanh nhau gây chú ý.
Pedraça kín đáo hơn thế, những con đường lát đá chạy giữa các ngôi nhà cổ có mặt tiền khá giản dị.
Nhiều căn vẫn còn huy hiệu của những gia đình quý tộc từng sống ở đây.
Càng đi sâu, phố xá mở ra thành Plaza Mayor.
Quảng trường trung tâm được bao quanh bởi những dãy nhà cũ và những ban công nhìn xuống khoảng sân rộng.
Không gian ở Pedraça có một sự tĩnh lặng khá đặc biệt.
Người ta có thể nghe rõ tiếng bước chân trên mặt đá,
tiếng trò chuyện vọng từ một góc quảng trường rồi lại trở về với những con ngõ yên ắng.
Ở phía cao hơn là lâu đài, tiếp tục hoàn thiện dáng vẻ của một thị trấn từng được bảo vệ sau tường thành và cổng kiên cố.
Pedraça được biết đến như một trong những thị trấn có tường bao được bảo tồn tốt nhất của Tây Ban Nha.
Việc đi bước qua cánh cổng đá ấy mang lại một cảm giác rất rõ rệt về sự dịch chuyển thời gian,
như thế bạn vừa để lại thế giới hiện đại ở phía bên ngoài.
Có lẽ Pedraça không phải nơi khiến người ta liên tục phải thốt lên vì cảnh quan.
Nó hấp dẫn theo cách chậm hơn,
càng ở lâu càng dễ nhận ra điều hiếm hoi mà nơi này còn giữ được chính là cảm giác chẳng cần vội đi đâu cả.
Nhìn Trujillo hôm nay rất khó tưởng tượng một thị trấn yên bình trên đồi
lại từng nối với những biến động xảy ra cách đó cả một đại dương.
Ở trung tâm Plaza Mayor, một quảng trường rộng được bao quanh bởi nhà thờ,
những mặt tiền cổ và các dinh thự bằng đá.
Trên cao, lâu đài có nguồn gốc từ thời Hồi giáo nhìn xuống vùng đông bằng Esa Madura.
Còn những con đường nhỏ dẫn qua các ngôi nhà mang huy hiệu quý tộc.
Chỉ riêng kiến trúc cũng đủ khiến Trujillo trở thành một điểm dừng đáng nhớ.
Nhưng câu chuyện phía sau những bức tượng ấy mới khiến nơi này khác hẳn các thị trấn Trung Cổ vừa đi qua.
Trujillo gắn với một số nhân vật tham gia các cuộc chinh phục và thuộc địa hóa của Tây Ban Nha tại châu Mỹ.
Khi cuộc cải từ Tân Thế Giới chảy trở lại quê nhà,
dấu vết của thời kỳ đó cũng xuất hiện trong những dinh thự và công trình của thị trấn.
Trujillo vì vậy giống như nơi lưu giữ sống động những ký ức về một thời hoàng kim và tham vọng đế quốc của Tây Ban Nha.
Điều đó khiến việc bước qua Trujillo có cảm giác khác.
Những phiến đá trước mắt không chỉ kể chuyện về một thị trấn nhỏ mà chạm vào một giai đoạn lịch sử có ảnh hưởng vượt xa biên giới Tây Ban Nha.
Khép lại những trang lịch sử trầm mặt và xám xịt của đá cổ,
không khí chuyến đi bất ngờ chuyển mình càng tiến về phía nam Andalusia,
sắc xám cũ kỹ dần nhường chỗ cho những màng màu trói mắt dưới cái nắng địa trung hải.
Ban đầu, Santillana Denmark rất dễ khiến người ta nghĩ mình lại bước vào một thị trấn trung cổ khác,
đường lát đá chạy giữa những căn nhà mỏng mật ong,
trên mặt tiền còn thấy huy hiệu của các gia đình quý tộc,
những mái ngói cũ nghiêng xuống các con phố nhỏ.
Ở trung tâm Collegiate Church of Santa Juliana với kiến trúc đôman càng làm cảm giác ấy rõ hơn.
Nếu câu chuyện chỉ dừng ở đó, Santillana Denmark đã đủ đẹp,
nhưng điều bất ngờ lại nằm ở gần thị trấn đó là Antamira.
Trong những hàng đồng ở khu vực này,
người tiền sử đã để lại những bức hòa động vật trên đá từ hàng chục nghìn năm trước.
Antamira chính là cỗ máy thời gian đưa cảm nhận về lịch sử chuyển hướng hoàn toàn khác,
từ không gian kiến trúc trung cổ sầm út sang một quá khứ tiền sử lâu đời hơn rất nhiều.
Những ngôi nhà cổ vài trăm năm tuổi vừa khiến người ta cảm thấy xa xưa,
giờ lại trở nên gần như mới mẻ khi đặt cạnh dấu vết con người từ hàng vạn năm trước.
Đó có lẽ là điều thú vị nhất ở nơi này.
Người ta đến vì những con phố cổ,
nhưng rồi nhận ra lịch sử ở đây không bắt đầu từ lâu đài, nhà thờ hay những gia đình quý tộc.
Nó đã hiện diện từ rất lâu trước khi những viên đá đầu tiên của thị trấn được xếp lên nhau.
Và sau quá nhiều bức tường sám, mái ngói cũ,
cùng những câu chuyện đã kéo chúng ta hàng nghìn năm về quá khứ,
hành trình sắp đổi màu,
phía nam Tây Ban Nha là những ngôi làng trắng đến trói mắt dưới nắng Andalusia.
Tạm biệt những mái đá kỷ vĩ và ưu tối của Setenin,
hành trình tiếp tục đưa ta tiến dần về phía bờ biển Costa del Sol rực rỡ để đến với Frijiliana.
Đây là nơi thường xuyên được vinh danh là một trong những ngôi làng trắng đẹp nhất
và được bảo tồn tốt nhất tại miền nam Tây Ban Nha.
Cả thị trấn hiện ra tựa như một giải mây trắng tinh khôi đậu xuống dốc núi,
bừng sáng lung ninh dưới ánh nắng rực rỡ của vùng địa Trung Hải.
Những con đường lát đá nhỏ hẹp và dốc ngoằn nguèo
dẫn dắt bước chân du khách đi qua các khu phố cổ đượm màu thời gian.
Nơi đây, từng ngôi nhà đều được người dân chăm chút vô cùng tỉ mỉ với tường vôi trắng xốp,
những cánh cửa gỗ sơn màu xanh lam hoặc xanh lục bào
cùng hàng trăm trậu hoa rực rỡ trao dọc các bờ tường.
Mối duyên dịu dàng giữa nét kiến trúc Moritz cổ xưa
và tinh thần phóng khoáng của miền biển đã tạo nên một không gian
vừa thanh bình vừa tràn đầy sức sống.
Mỗi góc phố, mỗi lối đi nhỏ ở Frihiliana
đều giống như một bức tranh phác họa sự giản dị
nhưng đặt đến độ tinh tế hoàn hảo,
khiến ai một lần bước chân đến cũng phải lòng nét yên ả nơi đây.
Saradella, Sierra ngồi làng trắng dưới tòa tháp cổ.
Saradella, Sierra lại nên được nhìn từ xa trước.
Giữa những sườn núi màu nâu xanh,
một cụm nhà trắng bỗng hiện ra trên triển dốc
dày đặc đến mức giống một vẹt sơn sáng được kéo ngang qua cảnh vật.
Cao hơn tất cả là phần còn lại của pháo đài cổ
với ngọn tháp đứng riêng trên đỉnh đá.
Chỉ cần vị trí ấy thôi cũng đủ gợi ra lý do
người xưa từng chọn nơi này để quan sát vùng đất phía dưới.
Rồi khi vào trong làng, bức tranh lớn ấy vỡ thành hàng trăm chi tiết nhỏ.
Phố dốc buộc người ta lúc đi lên, lúc đổ xuống.
Những căn nhà quét vôi nằm sát nhau, bàn công có hoa
và ở các khoảng trống giữa nhà cửa
màu xanh của hồ chứa phía dưới bất ngờ lọt vào tầm mắt.
Chính mặt nước làm Sara khác với nhiều ngôi làng trắng khác của Andalusia.
Từ trên cao, hồ xanh nằm giữa địa hình gồ ghề
tạo ra một màng màu gần như đối lập hoàn toàn với những mái nhà và vách đá.
Ở một số điểm nhìn, ngôi làng có cảm giác như đang đứng trên một bàn công rất lớn.
Phía trước không phải đường phố mà là cả thung lũng mở rộng đến tận chân núi.
Vejedela Frontera, mê cung của ánh sáng và bóng tối.
Buổi trưa ở Vejedela Frontera,
nắng có thể rất gắt ngoài khoảng trống.
Thế nhưng chỉ cần lách vào một con ngõ, ánh sáng lập tức bị cắt thành những màng nhỏ trên tường.
Vài bước trước còn trói mắt, vài bước sau đã đứng trong bóng dâm.
Có lẽ vì vậy mà màu trắng ở Veje mang một cảm giác khác.
Phần thú vị không nằm ở việc những căn nhà được quyết vôi đẹp đến đâu,
mà ở cách đường phố được tổ chức.
Dấu ấn từ quá khứ Hồi giáo vẫn có thể nhận ra trong mạng lưới ngõ hẹp
những lối đi ngoặt bất ngờ và các khoảng sân kín đáo nằm phía sau tường.
Bạn tường mình đang đi về phía quảng trường, con đường lại đổi hướng.
Tường đã ra khỏi khu phố cũ, phía trước lại hiện lên một cổng đá khác.
Đi thêm một đoạn, những bức tường thành cũ bắt đầu xuất hiện
và không gian đang khép kín, bỗng mở ra.
Từ vị trí cao của Veje, tầm nhìn có thể hướng về vùng đất kéo dài ra phía Đại Tây Dương.
Veje vì thế giống một trò chơi với tầm nhìn.
Nó liên tục che cạnh vật đi, dẫn người ta qua những khoảng túi
rồi bất ngờ trả lại cả một khoảng trời rộng phía trước.
Mihas, nơi ngôi làng cũ, gặp thế giới hiện đại.
Mihas thì chẳng có vẻ muốn đứng yên trong quá khứ.
Trên những con phố từng gắn với lừa và nhịp sống của một cộng đồng miền núi,
giờ đây có thể nghe đủ thứ ngôn ngữ của khách từ nhiều quốc gia.
Quán ăn đông hơn, cửa hàng nhiều hơn, những góc phố đẹp cũng hiếm khi hoàn toàn vắng người.
Nếu vừa đi qua những thị trấn trung cổ yên tĩnh trước đó,
sự náo nhiệt này có thể khiến Mihas tưởng như đã đánh mất chất cũ của mình.
Nhìn kỹ hơn lại không hẳn vậy.
Sau dòng người vẫn là những bức tường quét vôi trắng, mái ngói, hàng trậu cây treo kín trên mặt nhà.
Trong các xưởng nhỏ, những nghề thủ công như làm đồ gúm hay đan lát vẫn xuất hiện bên cạnh hoạt động du lịch hiện đại.
Ngay cả hình ảnh những chú lừa vốn gắn với việc đi lại trong quá khứ
cũng trở thành một phần rất dễ nhận ra khi nhắc đến Mihas.
Có một chi tiết khác khá lạ là đấu trường bò ở Mihas không mang hình tròn quen thuộc như nhiều nơi mà có hình dáng khác biệt.
Cùng với các xưởng thủ công và khu phố trắng, nó nhắc rằng bên dưới lớp vỏ du lịch vẫn còn nhiều mảnh của đời sống địa phương.
Mihas không đóng cửa để bảo vệ quá khứ, nó để thế giới bước vào rồi tìm cách sống cùng sự thay đổi ấy.
Mohaka, ảo ảnh trắng trên đỉnh đồi.
Từ xa, Mohaka trông không giống một nơi được xây từng căn nhà một.
Những khối trắng trồng lên nhau từ chân dốc đến gần đỉnh, đến mức danh dưới giữa mái nhà, bức tường và con đường gần như tan vào nhau.
Dưới bầu trời xanh và ánh nắng miền nam Tây Ban Nha, cả ngọn đồi có lúc trông như một thứ gì đó không thật.
Đến gần, ảo ảnh ấy bắt đầu có đường nét.
Những lối đi nhỏ trên giữa các căn nhà hình khối, cầu thang nối tầng phố thấp với tầng phố cao
rồi bất chợt một khoảng trống mở ra và biển xuất hiện phía xa.
Dấu ấn Ả Rập vẫn còn trong cách bố trí khu phố cũ và những đường nét kiến trúc,
điều không quá khó hiểu khi nhìn lại lịch sử lâu dài của vùng này.
Nhưng Mohaka ngày nay không bị giữ nguyên trong một thời kỳ.
Quán xá, đời sống hiện đại và những căn nhà cổ cùng chen vào một cấu trúc đã thay đổi qua nhiều thế hệ.
Điều đáng nhớ nhất có lẽ vẫn là vị trí của nó.
Đứng trên khu vực cao, phía sau là vùng đồi khô và phía trước là địa trung hải.
Màu trắng của làng nằm chính giữa hai thế giới ấy.
Có những nơi càng ít giải thích thì vẻ đẹp nguyên sơ lại càng láng động.
Sau năm ngôi làng trắng đã đến lúc rời những sườn đồi Adalusia.
Từ đây nước biển sẽ xuất hiện ngày một nhiều hơn cho đến khi có những thị trấn
mà chỉ cần bước hết một con phố trước mặt đã là địa trung hải.
Nếu những ngôi làng trắng của Adalusia rực lên dưới cái nắng miền nam,
Cadaqués lại dịu hơn.
Nhà vẫn trắng, cửa vẫn điểm những mảng xanh,
nhưng phía trước đã là một vịnh biển với những chiếc thuyền nhỏ đung đưa trên mặt nước.
Không có cảm giác mọi thứ đang cố gây ấn tượng,
Cadaqués đẹp theo kiểu càng ngồi lâu người ta càng không muốn rời đi.
Muốn đến đây phải đi qua vùng Cap de Creus,
nơi những con đường lên giữa địa hình đá gần bờ biển.
Có lẽ sự tách biệt ấy đã góp phần tạo nên tính cách riêng của ngôi làng.
Phố nhỏ, nhà thấp, bờ biển và ánh sáng địa trung hải
kết hợp với nhau theo một cách từng hấp dẫn không ít nghệ sĩ.
Nổi tiếng nhất trong số đó là Salvador Dalí.
Ông gắn bó đặc biệt với khu vực này
Với Dalí, cảnh quan quanh đây không đơn giản là phong nền.
Những khối đá, mặt biển, thứ ánh sáng sắc nét của vùng Catalonia
đã đi vào thế giới sáng tạo của ông.
Biết điều đó rồi, Cadaqués bỗng đáng nhìn theo một cách khác.
Một vách đá méo mó hay mặt nước đổi màu lúc chiều xuống
không còn chỉ là cảnh đẹp.
Ta bắt đầu hiểu vì sao một người có trí tưởng tượng kỳ lạ như Dalí
lại muốn ở thật lâu tại nơi tượng như rất bình thường này.
Penitcola có một đường chân trời rất khó nhầm.
Từ bãi biển nhìn ra, một khối đá lớn nhô thẳng vào địa trung hải.
Trên đó là những bức tường thành và lâu đài.
Phần phố cổ nằm trên giữa tất cả
khiến cả bán đảo trông giống một pháo đài bằng đá đang neo ngoài biển.
Nhưng đứng từ xa mới chỉ thấy được một nửa câu chuyện.
Muốn lên khu vực cao nhất phải theo những con đường nhỏ chạy vòng qua phố cổ.
Nhà cửa ép sát hai bên, những đoạn dốc liên tục đổi hướng.
Thì thoảng một khoảng trống giữa các bức tường lại để lộ màu xanh của biển.
Càng lên, bãi cát và khu phố hiện đại phía dưới càng nhỏ lại.
Trên đỉnh là lâu đài gắn với giá hoàng Benedict XIII.
Thường được biết đến với tên Papalona.
Những bức tường dày và vị trí nhìn ra biển cho thấy
nơi này từng có giá trị phòng thủ lớn đến mức nào.
Điều thú vị là Penicola không buộc người ta lựa chọn giữa biển và lịch sử.
Buổi sáng có thể đứng dưới bãi cát nhìn pháo đài phía trên,
rồi chưa lâu sau đã ở trên tường thành nhìn ngược xuống chính bãi biển ấy.
Cùng một nơi, nhưng chỉ cần thay đổi độ cao,
cảnh vật gần như trở thành một bức tranh khác.
Tosadema không giấu thành cổ của mình trên một đỉnh núi xa xôi.
Nó đặt những bức tường và tháp đá ngay cạnh bãi biển,
nơi chỉ cách đó một đoạn ngắn là cát, thuyền và những người đang tận hưởng kỳ nghỉ.
Sự đối lập ấy khiến nơi này có nét rất riêng.
Từ bãi biển nhìn lên, khu thành cổ Villavella hiện ra trên mỏm đất sát biển
với những tháp tròn nối nhau bằng tường đá.
Đằng sau chúng là mạng lưới phố cổ nhỏ leo dần lên cao.
Càng đi sâu, âm thanh từ bãi biển càng lùi lại,
thay bằng mặt đường lát đá, những bức tường cũ và các căn nhà nép trong khu thành.
Rồi đến một độ cao nhất định, biển quay trở lại.
Từ các điểm nhìn phía trên, Costa Brava trải ra với những vách đá, vịnh nhỏ và mặn nước địa trung hài.
Lúc này mới thấy, điều làm Tosadema đáng nhớ không phải riêng thành cổ hay riêng bờ biển,
mà là việc hai thứ tưởng chẳng liên quan lại nằm sát cạnh nhau.
Buổi sáng có thể nghe tiếng sóng ngay dưới chân tường thành.
Đến chiều, chỉ cần leo lên cao một chút, chính bờ biển vừa đi qua đã nằm gọn phía dưới.
Tosa không cần phải chọn mình là thị trấn biển hay thị trấn cổ, nó giữ cả hai.
Cudillero, ngôi làng xếp thành khán đài nhìn ra biển.
Cudillero có một cách bố trí khá vui mắt.
Càng nằm phía dưới, con nhà cửa cứ thế leo dần lên sườn đồi phía sau, tầng nọ cao hơn tầng kia.
Đứng từ khu vực bến càng nhìn vào, có cảm giác cả ngôi làng là một khán đài khổng lồ.
Chỉ khác là những hàng ghế đã được thay bằng hàng trăm căn nhà đủ màu.
Sau một chuỗi dài tường trắng, sự xuất hiện của xanh, vàng, đỏ và cam khiến Cudillero gần như đổi hành không khí của hành trình.
Đây là Asturias, vùng đất mà biển đã gắn với đời sống địa phương từ lâu.
Quanh càng, câu chuyện ấy vẫn hiện diện trong thuyền đánh cá, hải sản và những con đường nhỏ dẫn từ mép nước lên khu dân cư.
Thử đi theo một trong những con hẻm ấy, Cudillero bắt đầu trở nên hơi dối.
Cầu thang nối với lối dốc, lối dốc lại vòng sau những căn nhà.
Có lúc biển biến mất hoàn toàn sau mái ngói, nhưng chỉ cần lên thêm vài đoạn, bến càng lại bất ngờ xuất hiện phía dưới.
Và đây mới là lúc bố cục kỳ lạ của Cudillero hiện ra rõ nhất.
Những căn nhà từng được xây khá ngẫu nhiên khi nhìn ở cửa ly gần.
Từ trên cao lại ghép thành từng lớp ôm lấy càng.
Ở Cudillero, muốn nhìn thấy ngôi làng, đôi khi phải đi ra khỏi chính những con phố của nó một chút.
Laches, những mái nhà đổ xuống Đại Tây Dương.
Không xa đó, Asturias, còn một ngôi làng trải khác.
Nhưng Laches không chơi với màu sắc như Cudillero.
Thứ quyết định diện mạo của nơi này là độ dốc.
Nhà cửa bám vào sơn đồi rồi hạ dần về phía càng.
Mái nọ nối tiếp mái kia, nhìn từ một số vị trí giống một dòng thác kiến trúc đang đổ xuống Đại Tây Dương.
Những con đường vì thế cũng hiếm khi bằng phẳng.
Đi xuống khá dễ, nhưng lúc quay lại mới hiểu địa hình đã âm thầm đưa mình thấp xuống bao nhiêu.
Ở dưới càng, Laches trở về đúng chất của một làng biển.
Thuyền nằm trên mặt nước, những ngôi nhà tren trên sườn dốc phía sau và đời sống địa phương vẫn mang dấu ấn của nghề đi biển.
Thế nhưng, góc nhìn đáng nhớ hơn lại ở phía trên.
Khi đủ cao, toàn bộ mái nhà của Laches dần tụ lại thành một khối.
Càng nằm nhỏ phía dưới, xa hơn nữa là mặt biển rộng.
Quay sang hướng khác, núi lại xuất hiện.
Chỉ trong một khung cảnh đã có làng, sườn dốc, Đại Tây Dương và những dãy núi phía xa.
Có lẽ đó là nét riêng của Laches.
Nó không cần một lâu đài hay cây cầu nổi tiếng để làm điểm nhấn.
Chính địa hình đã sắp xếp cả ngôi làng thành cảnh quan.
Tarifa, nơi hai vùng biển gặp nhau.
Ở Tarifa, có một thứ gần như chẳng bao giờ chịu đứng yên, đó là gió.
Gió chạy dọc những bãi cát, căng những cánh rìều của người chơi kitesurf,
rồi tiếp tục lao về phía eo biển Gibraltar.
Nhờ điều kiện ấy, Tarifa trở thành cái tên quen thuộc với những người yêu các môn thể thao dùng sức gió.
Nhưng nếu chỉ nhìn nơi này như một thiên đường lướt sóng, chúng ta sẽ bỏ qua điều hấp dẫn hơn nhiều.
Tarifa nằm rất gần điểm chuyển tiếp giữa Đại Tây Dương và địa Trung Hải.
Phía bên kia eo biển Gibraltar là châu Phi,
và vào những ngày trời đủ trong, bờ biển Morocco có thể hiện lên phía xa.
Chỉ riêng vị trí đó đã khiến cảm giác đứng ở Tarifa khác hẳn những thị trấn biển trước.
Sau những bãi cát rộng và không khí phóng khoáng, lại là một khu phố cổ nằm sau tường thành.
Đi vào bên trong, gió phần nào bị chặn lại bởi những con đường hẹp, nhà cửa và các bức tường đã chứng kiến nhiều lớp lịch sử đi qua.
Thành phố hiện đại, di sản cũ và văn hóa biển cứ thế tồn tại cạnh nhau.
Có những lúc đứng ở Tarifa, phương hướng bỗng trở thành một trò chơi thú vị.
Sau lưng lại châu Âu, phía trước qua một dải nước không quá rộng đã là châu Phi.
Một phía gắn với Đại Tây Dương, phía còn lại mở sang địa Trung Hải.
Tarifa vì thế giống một nơi nằm giữa nhiều danh giới hơn là ở hẳn với một phía nào.
Và từ điểm giao nhau đầy gió ấy, hành trình sẽ rời những bức tường thành bên biển để đi vào một Tây Ban Nha mềm hơn,
nơi âm nhạc, nghệ sĩ, những vườn cây và các ngôi làng trên núi bắt đầu dẫn câu chuyện sang một nhịp hoàn toàn khác.
Vaidehmosa, ngôi làng từng giữa chân Sopan.
Vaidehmosa không cần đến những vách đá dựng đứng hay một pháo đài khổng lồ để khiến người ta nhớ.
Nơi này dịu hơn nhiều, những căn nhà bằng đá màu mật ong nằm dọc các con phố nhỏ.
Cửa chớp xanh mở ra bên những chậu hoa,
còn phía ngoài khu dân cư là những sườn đồi với ô lưu và thạm thực vật của Mallorca.
Buổi sáng, khi đường phố chưa đông, Vaidehmosa có một vẻ yên tĩnh rất dễ khiến người ta hiểu
tại sao có người từng tìm đến đây để rời xa phần còn lại của thế giới.
Mùa đông năm 1838, nhà soạn nhạc Frédéric Sopan cùng nhà văn Giorgio Sang đã lưu lại tại Vaidehmosa.
Họ sống một thời gian trong khu tu viện Các Tu Hà
và chính mối liên hệ với hai tên tuổi lớn này đã tạo thêm một lớp trầm tích văn hóa đầy lôi cuốn
phía sau vẻ đẹp bình dị của những con phố đá nơi đây.
Có lẽ Vaidehmosa hấp dẫn nhất ở chính sự đối lập đó,
một nơi rất nhỏ, rất yên nhưng lại được nối với những cái tên đã đi rất xa trong lịch sử âm nhạc và ban chương châu Âu.
Và quanh dãy núi này, Vaidehmosa không phải nơi duy nhất từng khiến những người làm nghệ thuật muốn ở lại.
Deya, ngôi làng của những người đi tìm cảm hứng.
Deya không trắng rực như những ngôi làng Andalusia.
Những ngôi nhà ở đây mang màu đất, mái ngói trầm, cửa chớp xanh chen giữa cây cối trên sườn núi Chamuntana.
Xa hơn, địa trung hải xuất hiện như một dài xanh nằm phía dưới.
Khung cảnh ấy không quá kịch tính nhưng có lẽ chính vì không cố gây choáng ngợp
nên Deya đã hấp dẫn một kiểu người rất khác.
Qua nhiều năm, nơi đây nổi tiếng với bầu không khí nghệ thuật mang chút tự do, phóng khoáng
nơi sự yên tĩnh tuyệt đối giữa núi và biển đã thu hút biết bao nghệ sĩ, nhạc sĩ và nhà văn tìm đến để sáng tạo
hoặc đơn giản là sống chậm lại.
Ở đây, đôi khi chẳng cần làm gì đặc biệt.
Một con đường nhỏ men theo sườn dốc, một căn nhà gần như bị cây xanh che khuất
vài chiếc bàn ngoài trời và mặt biển thấp thoáng qua khoảng trống giữa những mái ngói đã đủ tạo nên nhịp riêng.
Nếu Vadimosa gắn với một chương cụ thể của Chopin, Deya lại giống một câu chuyện chưa viết xong.
Người ta đến đây không nhất thiết vì một công trình nổi tiếng mà đôi khi chỉ vì muốn tìm một nơi đủ yên để ý tưởng của mình có chỗ xuất hiện.
Soye, thung lũng cam và chuyến xe điện đi qua thời gian.
Một chiếc xe điện bằng gỗ chậm rãi chạy qua phố, gần đến mức người ngồi bên quán cà phê có thể nhìn thấy hành khách phía trong.
Nó không bị giấu trong bảo tàng. Nó vẫn chạy, vẫn nen keng giữa Soye, rồi tiếp tục hành trình về phía biển.
Sau nhiều ngôi làng mà chúng ta khám phá bằng những con dốc và cầu thang, chút chuyển động này khiến Soye có cảm giác sống động hẳn lên.
Thị trấn nằm trong một thung lũng của Mayoka, nơi từ lâu nổi tiếng với những vườn cam và chanh.
Màu xanh của cây trái bào quanh khu dân cư, còn ở trung tâm, quảng trường mở ra trước nhà thờ và những công trình mang dấu ấn kiến trúc đầu thế kỷ 20,
đậm nét ảnh hưởng từ người học trò tài ba của Anthony Gaudi.
Nhưng hình ảnh dễ ở lại trong trí nhớ nhất vẫn là tuyến xe điện cổ nối Soye với Poc de Soye.
Từ phố xá, nó chạy về phía cảng, nơi những con thuyền nằm trong vịnh được núi bao quanh.
Một bên là thung lũng cam chanh rực rỡ, một bên là mảng xanh tham thảm của biển, và ở giữa là tiếng len keng ngân vang của chiếc xe điện gỗ.
Tây Ban Nha không chỉ có những đô thị náo nhiệt như Madrid hay Barcelona.
Đằng sau những con đường lớn là 24 mảnh ghép diệu kỳ, nơi con người đã học cách sống hòa quyện cùng thiên nhiên, lưu giữ quá khứ qua hàng thế kỷ.
Tuyến xe điện chậm rãi ở Soye khép lại hành trình hôm nay, nhưng những mái đá vực sâu và sắc trắng rực rỡ dưới nắng địa trung hải sẽ còn động lại rất lâu trong tâm trí những ai yêu mến vùng đất này.
