George Washington đã nói một điều mà có thể nhiều người Hoa Kỳ hiện đại sẽ cảm thấy vô lý, và ông đã phát biểu ý kiến đó không phải trong một số tài liệu riêng tư, mà trong tuyên bố có lẽ là công khai nhất trong sự nghiệp chính trị của mình. Ông đã nói điều đó lúc đọc diễn văn chia tay ngay trước khi kết thúc nhiệm kỳ Tổng thống. Ông nói:
“Trong tất cả những khuynh hướng và thói quen dẫn đến sự thịnh vượng về chính trị thì tôn giáo và đạo đức là những cột trụ không thể thiếu. Việc một người tuyên dương lòng yêu nước sẽ là vô nghĩa nếu bản thân anh ta đang cố gắng thay thế những trụ cột đó, những trụ cột trọng yếu của hạnh phúc con người, những trụ cột mà một người hay một công dân có nghĩa vụ phải bảo vệ… Những trụ cột tạo nên hạnh phúc cho cá nhân và công chúng mà cả một cuốn sách cũng không thể nào phân tích hết được...”
George Washington đã nói một điều mà có thể nhiều người Hoa Kỳ hiện đại sẽ cảm thấy vô lý,
và ông đã phát biểu ý kiến đó không phải trong một số tài liệu siêng từ,
mà trong tuyên bố có lẽ là công khải nhất trong sự nghiệp chính trị của mình.
Ông đã nói điều đó lúc đọc diễn văn chia tay ngay trước khi kết thúc nhiệm kỳ Tổng thống.
Ông nói,
trong tất cả những huynh hướng và thói quen dẫn đến sự thịnh vượng về chính trị
thì tôn giáo và đạo đức là những cổ chủ không thể thiếu.
Việc một người tuyên dương lòng yêu nước sẽ là vô nghĩa
nếu bản thân anh ta đang cố gắng thay thế những trụ cột đó,
những trụ cột trọng yếu của hạnh phúc con người,
những trụ cột mà một người hay một công dân có nghĩa vụ phải bảo vệ,
những trụ cột tạo nên hạnh phúc cho cá nhân và công chúng mà cả một cuốn sách cũng không thể nào phân tích hết được.
Theo ngài George Washington,
một người Hoa Kỳ không thể tuyên bố mình là một người yêu nước
nếu họ đang cố gắng thay thế những trụ cột trọng yếu của hạnh phúc con người,
tôn giáo và đạo đức.
George Washington đưa ra hai lý do cho nhận định của mình.
Trong đó, lý do đầu tiên là
nếu người ta không cảm nhận được tính khí ước thiên liêng bên trong lời tuyên thệ tại các tòa án,
thì làm sao tài sản, danh dự hay sinh mạng có thể được bảo vệ thông qua cổng lý đây.
Tuyên thệ không phải chỉ là thủ tục khi một công dân tham gia vào tòa án
hay khi họ đảm nhận vị trí mới tại các cơ quan công quyền khác nhau.
Những lời tuyên thệ cầu xin Chúa Trời chứng giám cho tính trung thực của tuyên bố mà cá nhân đó đưa ra.
Tuyên bố này có thể là bằng chứng, lời khai hay ý định của một người khi đảm nhận chức phụ công.
Không một lời khai nào được chấp nhận chức tòa án Hoa Kỳ nếu không đi kèm với lời thề,
bởi nếu nhân trực nói dối thì đồng nghĩa với việc họ đã phản bội lại Chúa Trời.
Vì vậy, sau khi qua đời, những nhân chứng đó sẽ bị nguyên ruộng,
một hậu quả khủng khiếp đối với những người thật sự có tiếng ngữ và đức tin.
Luật sư người Pháp Alexis de Tocqueville từng nghiên cứu Hoa Kỳ trong nhiều năm
đã mong muốn tìm kiếm lý do đằng sau sự phôn vinh của Hoa Kỳ.
Ông từng kể lại một sự kiện như thế này.
Khi tôi còn ở Hoa Kỳ, tôi đã thấy một nhân chứng tham dự một phiên tòa tại quận Chester, New York,
tuyên bố không tin vào sự tồn tại của Chúa cũng như sự bất diệt của linh hồn.
Thẩm phán đã từ chối chấp nhận lời tuyên thệ của anh ta
vì cho rằng nhân chứng ấy đã tự hủy hoại sự đáng tin trong lời khai của chính mình.
Báo chí đã đưa tin về sự việc mà không cần bình luận thêm.
Tại sao một thẩm phán Hoa Kỳ lại coi niềm tin vào Chúa quan trọng và cần thiết đến vậy cho một lời tuyên thệ?
William Blackstone, thẩm phán người Anh nổi tiếng,
người ảnh hưởng lớn đến các vị trà lập quốc Hoa Kỳ đã giải thích như sau.
Niềm tin về một trạng thái thử phạt trong tương lai,
những ý tưởng về các thuộc tính đạo đức của đấng tối cao,
và sự thuyết phục rằng mỗi người đều phải chịu trách nhiệm
và cuối cùng phải bồi tường hết thẩy cho những hành động của mình,
những điều được tiết lộ rõ ràng trong các giáo lý,
hay nghiêm khắc hơn là các giới luật của đấng cứu thế của chúng ta.
Đó là nền tảng lớn nhất của các lời thề trong phiên sách sự.
Chúa được tìm cầu để chứng kiến sự thật,
sự thật mà có lẽ là chỉ ngài và bên chứng thực mới biết.
Do vậy, tất cả bằng chứng sự trên đạo đức,
tất cả niềm tin vào sự thành thật của con người chắc chắn sẽ bị suy yếu
nếu cá nhân đó không thật sự ngoan đạo,
và chắc chắn sẽ sụp đổ nếu cá nhân đó vô đạo.
Điều này liên quan chặt chẽ đến lý do thứ hai
mà George Washington đưa ra trong diễn văn chia tay
Nếu thừa giả định một cách thật chẳng rằng
đạo đức có thể được duy trì mà không cần tuân giáo,
với giả định đó, hãy xem xét những hiểu biết của chúng ta
về sức ảnh hưởng của nền giáo dục tinh tế đối với đông trí con người,
và bạn sẽ thấy cả lý trí và kinh nghiệm đều không cho phép chúng ta kỳ vọng rằng
đạo đức của quốc gia có thể chiến thắng những điều thế tục
mà không cần sự hỗ trợ của tuân giáo.
Các vị trại lập quốc Hoa Kỳ thuộc về thế hệ hàm đọc sách nhất trong lịch sử đất nước,
một trong số các chủ đề mà họ quen thuộc nhất là lịch sử,
đặc biệt là lịch sử Hy Lạp và La Mã.
Các nhà sử học Hy Lạp như Polybius coi nguyên nhân trỗi dậy của nhà nước La Mã
nằm ở việc họ coi những lời thề, tư pháp và các nghĩa vụ khác như nghĩa vụ thiên liêng.
Các chính khách La Mã như Cicero đã có những kết luật tương tự nhiều thế kỷ sau đó.
Niềm tin như thế đã kiến tạo nên nhà nước La Mã và đồng thời củng cố lòng tin giữa người với người trong dân chúng La Mã.
Tương tư như vậy, các nhà sử học và chính khách cổ đại cho rằng
sự rụng đổ của Cộng hòa La Mã là do niềm tin tuân giáo bị suy giảm,
đi kèm với suy thoái đạo đức.
Ngay cả trong thời kỳ tiền kỳ tuân giáo,
người ta cũng coi tuân giáo và đạo đức là có mối liên hệ mật thiết không thể tách rời
bởi sự tồn tại của một thế giới bên kia với những phần thưởng và hình phạt tương xứng với những hành động trong đời sống hiện tại.
Bạn có thể trốn tránh công lý của con người, nhưng không bao giờ có thể trốn tránh công lý của đức Chúa Trời.
Điều này đóng vai trò như một xây cường mạnh mẽ kiềm chế những dục vọng hàm muốn tội lỗi nhất của con người.
Niềm tin vào Chúa và điều mà các vị cha lập quốc Hoa Kỳ thường gọi là trạng thái tương lai,
mà trong đó hành vi của mỗi cá nhân trong cuộc sống đều đi kèm với phần thưởng và hình phạt là niềm tin về vai trò thiết yếu của tuân giáo đối với một xã hội tự do.
Trong các vị cha lập quốc của Hoa Kỳ, cho dù là người sùng đạo như Benjamin Rutte hay ít sùng đạo hơn như Thomas Jefferson,
tất cả đều nhất trí với quan điểm trên.
Các vị cha lập quốc sẽ nói giống như John Adams, Tổng thống thứ hai của Hoa Kỳ, những điều như
Tôi coi tuân giáo là nền tảng vô cùng trọng yếu của đạo đức.
Bất kỳ một ai không có tiếng ngữ trong lịch sử Hỳ Lạp hoặc là Mã cũng như trong bất kỳ cuốn sử nào khác mà tôi đọc
hay bất kỳ một ai không có tiếng ngữ mà tôi gặp trong cuộc sống đều là những kẻ vô lại.
Tôi chưa biết ai không có tiếng ngữ mà vẫn có đạo đức.
Hãy kể tin một ai đó nếu bạn có thể, dù người đó còn sống hay đã chết.
Sau đó, George Washington đã không ngại ngừng khẳng định rằng việc lật đổ những chân lý phí đại về tuân giáo và đạo đức
sẽ không bao giờ có thể là một hành động yêu nước.