4 Loại Vũ Khí Chống Tăng HIỆU QUẢ HƠN CẢ TÊN LỬA, Quốc Gia Nào Cũng Thèm Khát
Ra đời cách đây một thế kỷ, xe tăng đã thay đổi gần như mọi học thuyết về chiến tranh và gần như mọi quân đội hiện đại đều có binh chủng tăng thiết giáp của riêng mình. Nhưng cũng vì lẽ đó, việc phát triển ra các vũ khí chống tăng anti-tank (viết tắt là AT) là yêu cầu tiên quyết vì không phải lúc nào các đơn vị hay lực lượng vũ trang cũng có xe tăng để đối kháng với quân địch, hoặc số lượng tăng quá ít ỏi hoặc bất cân xứng với đối phương. Nếu không có trong tay một lực lượng để bẻ gãy gọng kìm thép của địch thì kết cục cuộc chiến có thể đã được định sẵn từ trước khi nó bắt đầu. Sự phát triển của vũ khí chống tăng cùng với xe tăng luôn đi song hành với nhau, vốn là câu chuyện "cây mâu và cái thuẫn". Giáp của tăng càng dày hơn thì vũ khí chống tăng càng mạnh mẽ hơn. Và hãy cùng KTQS khám phá 4 trong số những loại vũ khí chống tăng đỉnh nhất thế giới trong suốt Thế chiến I và II trong video ngày hôm nay! ------------------------ ▶ ‘Kiến Thức Quân Sự’ là Kênh cung cấp cho các bạn những tri thức, hiểu biết chung về tình hình quân sự, chính trị trên thế giới. Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về địa chỉ email: [email protected]
Ra đời cách đây một thế kỷ, xe tăng đã thay đổi gần như mọi học thuyết về chiến tranh
và gần như mọi quân đội hiện đại đều có binh chủng tăng thiết giáp của riêng Mỹ.
Nhưng cũng vì lẽ đó, việc phát triển ra các vũ khí chống tăng, anti-tank, viết tắt là AT
lại yêu cầu tiên quyết vì không phải lúc nào các lươn vị hay lực lượng vũ trang
cũng có xe tăng để đối kháng với quân địch
hoặc số lượng tăng quá ít ỏi hoặc bất cân xứng với đối phương.
Nếu không có trong tay một lực lượng để bẻ gãy gọng kim thép của địch
thì kết cục của cuộc chiến có thể đã được định sẵn từ trước khi nó bắt đầu.
Sự phát triển của vũ khí chống tăng cùng với xe tăng luôn đi song hành với nhau
vốn là câu chuyện cây mâu và cái thuẫn.
Giáp của tăng càng dày hơn thì vũ khí chống tăng càng mạnh mẽ hơn.
Quý vị hãy cùng với kiến thức quân sự khám phá 4 trong số những loại vũ khí chống tăng
đỉnh nhất trên thế giới trong suốt cuộc chiến thứ nhất và thứ 2 trong video ngày hôm nay.
Đầu tiên chúng ta sẽ đến với súng trường chống tăng.
Nghe thì có vẻ lạ lùng nhưng súng trường chính là loại vũ khí đầu tiên được sử dụng để chống tăng.
Quý vị chắc hẳn sẽ tự hỏi làm sao những viên đạn nhỏ bé
có thể đâm thủng được lớp rác dày của xe tăng đúng không?
Đa bán ở chỗ, lúc xe tăng mới ra đời, giáp của chúng cũng không dày lắm.
Ngoài ra, chưa thể có khái niệm vũ khí chống tăng chuẩn nếu các quân đội chưa có ý niệm gì về xe tăng.
Xuất hiện lần đầu trong lịch sử chiến tranh thế giới thứ nhất,
xe tăng của linh quân Anh, Pháp là sự bất ngờ lớn đối với lính Đức.
Tuy vậy, những chiếc tăng đầu tiên của đồng minh tỏ ra khá chậm chạp và số lượng cũng không nhiều.
Người Đức đã kiếp thời có thời gian để ứng phó với loại hình vũ khí mới mẻ này.
Cách thức chống tăng đầu tiên được đề ra là đạn ngược.
Theo đó, viên đạn được đặt ngược hướng lại so với thông thường.
Đầu tu của viên đạn sẽ đâm vào rác của xe tăng thay cho đầu nhỏ.
Bằng cách này, lực đục sẽ mạnh hơn và bao mòn dần lớp rác ngoài.
Trong vài trường hợp, viên đạn thậm chí đục thủng cả lớp rác này và gây sát thương cho tổ lái bên trong.
Xong nhìn chung thì đạn ngược cũng không phải là cách tốt để đối phó với tăng.
Chúng còn làm hư hỏng cây súng và đôi khi làm bị thương cả chính người bắn.
Quân đội Đức nhanh chóng chế tạo ra một loại đạn khác có tên là K-Bullard 7,92 x 57 ly
với lõi thép bên trong cho khả năng đâm xuyên mạnh hơn.
Đạn K cộng 30% khả năng xuyên thủng lớp rác dày 12-13 ly ở cưa ly 100m.
Về bản chất thì đạn này là một dạng đạn xuyên rác AP và nó còn có thể dùng để phá hoại các cấu trúc khác.
Súng trường AT và đạn AP vẫn được tiếp tục sử dụng sau đó trong các cuộc chiến như Thế chiến thứ 2 hay Chiến tranh Triều Tiên
với cơ đạn ngày 1 lớn hơn từ 12-7 ly trở lên.
Tuy vậy, khi rác tăng ngày 1 dày hơn và bắt đầu được trang bị thêm các loại rác phản ứng nổ
thì vai trò của súng trường AT ngày càng bị thu hẹp.
Tiếp theo trong danh sách là súng trường AT.
Quay trở lại Thế chiến thứ nhất.
Không khó để quân đồng minh nhận ra cần trang bị rác dày hơn cho tăng
để chống lại đạn K hay lưu đạn cải tiến của Đức.
Ngoài ra, các loại đạn AP nói chung không gây nổ mà chỉ đâm xuyên rác là chính
để làm hỏng động cơ hoặc gây sát thương cho tổ lái bên trong.
Nếu chiếc tăng có cấu trúc phức tạp với nhiều vách ngăn
thì đạn AP cũng không hiệu quả cho lắm.
Do đó, người Đức cần tới một vũ khí hiệu quả hơn.
Những con súng AT đúng nghĩa đã được ra đời.
Điển hình là súng 3,7cm TAK sử dụng đạn pháo 3-7 ly ra mắt vào năm 1918.
Nhưng do chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc ngay sau đó
nên vai trò của TAK không mới nổi bật.
Chỉ đến cuộc đại chiến thế giới lần thứ hai
khi mà xe tăng trở thành nòng cốt của các cuộc tấn công
thì những loại súng trên mới thể hiện được vai trò của mình.
Có thể kể đến là PAK 36 của Đức,
Gun M3 của Mỹ,
QF Hi-Powder của Anh
hay M1937 của Liên Xô.
Những loại súng AT có cỡ nòng dưới 50 ly
được dùng chính trong giai đoạn đầu thế chiến thứ 2 trên
tỏ ra khá hiệu quả với các thế hệ tăng đầu tiên.
Nhưng đây là cuộc chiến mà cả xe tăng lên vũ khí AT cùng lột xác
nên khi các phe cùng triển khai những loại tăng hạng chung
thì các pháo cỡ nòng dưới 50 ly bắt đầu thua kém
và chỉ đủ cãi ngứa.
Yêu cầu về những súng AT có sức công phá mạnh hơn lại tiếp tục.
Phía Đức lần lượt tung ra PAK 40-75 ly
rồi FLAK 18-36-88 ly.
Phía Liên Xô thì có M1943-57 ly
rồi M1944-100 ly.
Người Anh thì mang theo QF 17-Powder-76.2 ly
trong cuộc đổ bộ lên bờ biển Normandy vào năm 1944.
Người Mỹ thì có một pháo, cọc cỡ nòng tương tự là GUN M5-76.2 ly.
Thứ 3 trong danh sách không thể không nhắc đến là xe diệt tăng.
Quý vị có thể xem xe diệt tăng là phiên bản mạnh mẽ hơn của súng AT
nhưng theo hướng ngược lại thì cũng có thể xem chúng là những chiếc tăng giảc hóa.
Bởi vì trong giai đoạn đỉnh cao của Thế chiến thứ 2
nhìn bên ngoài những chiếc xe diệt tăng rất giống với xe tăng
mà không ít người đã tưởng những cỗ máy bọc thép này là xe tăng.
Vậy thì chúng đã được khai sinh như thế nào?
Trước hết, xe diệt tăng được ra đời trên cơ sở bộ binh các quốc gia
cần có những súng AT mạnh mẽ hơn trên chiến trường,
tức cỡ nòng phải lớn hơn và khối lượng quả đạn phải nhiều hơn.
Điều này khiến cho việc làm ra và sử dụng những súng AT dạng xe kéo hoặc di chuyển
bằng tay, giò, người đẩy sẽ trở nên khó khăn hơn.
Để tiêu diệt những chiếc tăng có rác này càng dày hơn
một quả đạn bình thường là không đủ
và không phải lúc nào pháo thủ súng AT cũng có thể bắn trúng ngay từ quả đạn đầu tiên.
Nhưng một khi đã nổ súng, thường thì đối phương có thể đoán biết vị trí ẩn nấp của đội diệt tăng
từ đó có thể tiến hành tấn công ngược trở lại.
Điều này khiến cho việc diệt tăng bằng súng AT trở nên rất nguy hiểm
vì rất khó để thay đổi vị trí sau khi bắn nếu khẩu súng quá to và nặng.
Do vậy, các quân đội đã nghi ra ý tưởng
đặt những khẩu pháo AT có kích thức ngày càng lớn lên trên những cốt xe bọc thép
giúp cho các đội diệt tăng có khả năng cử động cao hơn so với việc cố thủ tại một vị trí rủ nhất
và bị bánh xích cho phép đạt trọng tài cao hơn trên cùng một diện tích tiếp xúc so với bánh hơi
nên những chiếc xe diệt tăng này thường dùng chung thân với những chiếc xe tăng
khiến chúng hoạt trồng khá giống với xe tăng.
Khi mà thị truyền thứ 2 bước vào giai đoạn thèm thẳng
các phe đều chạy hết công suất để sản xuất vũ khí phục vụ chiến đấu
việc đồng nhất và tận dụng lại các khí tài sẵn có
là một cách đảm bảo nguồn cung cho tiền tuyến.
Vì vậy, triết lý thiết kế xe diệt tăng ngày càng giống với thiết kế của tăng.
Gần như mọi chiếc xe tăng đều có phiên bản dạng hóa thành xe diệt tăng
với chi phí và nguyên vật liệu tối nít hơn.
Những chiếc tăng cũ bị hư hỏng khi giao chiến đều được tận dụng lại
để hoặc có thể sửa chữa làm tăng hoàn chỉnh
hoặc làm xe diệt tăng tùy theo điều kiện sẵn có.
Thậm chí có lúc khi số lượng tăng trinh thống trở nên quá ít ỏi để phục vụ chiến đấu
Và cuối cùng trong danh sách và kiến thức quân sự gửi đến quý vị
đó là lựu đạn chống tăng.
Trong khi đạn thường có hiệu quả tiêu giật sinh lực định
tính trên từng người một, thì lựu đạn hoặc các loại thuốc nổ nói chung
có thể gây thương vong cho số lượng lớn hơn.
Và điều quan trọng hơn là sự công khóa có thể dễ dàng thay đổi
chứ không cố định như kích thước các viện đảng.
Người Đức nhanh chóng nhận ra có thể kết hợp nhiều trái lựu đạn dạng que của họ
lại thành một trái lớn hơn
và quăng chúng lên những chiếc xe tăng mắc chậm chạp của anh.
Phương pháp nhồi này tiếp tục được sử dụng trong Thế chiến thứ 2
bằng cách bỏ nhiều thuốc nổ vào trong các túi cát
rồi châm ngòi trái chậm trước khi người lính ném chúng về phía những chiếc xe tăng.
Đáng chú ý hơn là các trường hợp cảm tử quân mang trên mình hàng chục trái lựu đạn
rồi lao thẳng về tăng đối phương để kích nổ
thường được thấy trong cuộc chiến giữa Trung Quốc và Nhật Bản.
Trước đó vài năm, thì quân đội Anh đã yêu cầu
cần có một loại vũ khí chống tăng cự ly gần
nhưng lại phải đơn giản, dễ sử dụng và dễ chế tạo.
Sau đó, những trái lựu đạn No.74 ra đời
nhưng thường được gọi là bom dính.
Bên cạnh bom dính, người Anh còn sử dụng một loại lựu đạn ái tiệt khác
có tên là No.68
nhưng thay vì dùng tay để quăng
thì No.68 được phóng bằng cách gắn nó vào đầu một cây súng trường rồi bắn ra
tương tự các loại lựu đạn súng trường khác.
Đầu nổ cho phép nó xuyên qua lớp giáp dày 52 ly
nhưng những loại lựu đạn AT nguy hiểm thực sự
lại bắt nguồn từ người Đức.
Khi bắt đầu đánh vào Nga hồi năm 1941
binh lính Đức đã mang theo bên mình những trái
PMW với đầu nổ dạng lõ
nhằm tạo ra hiệu ứng Munro
không chỉ tiết kiệm khối lương thuốc nổ
mà còn cho sức công quá mạnh hơn.
Chúng có hai phiên bản ngắn và dài.
PMW có đầu nổ 0.5kg
và có khả năng xuyên qua lớp giáp dày 150 ly
ở hướng trực diện.
Do vậy nó có thể phá hủy cả những chiếc xe tăng
có giáp dày nhất lúc bấy giờ.
Nhưng không quá lâu để người Nga có thể copy lại
PMW từ các tù binh Đức.
RPG-40 ra đời vào năm 1940
có khối lượng nổ tới 0.76kg
nhưng chỉ đục được lớp giáp dày 20 ly.
Bái tới năm 1943
và RPG-43 mới có đặc tính giống với PMW
thì có đầu nổ lõm nặng 0.61kg
nhưng lại đục được giáp dày 75 ly.
Đến cuối năm đó
người Nga tung ra tiếp phiên bản hương cấp RPG-6
có đầu nổ chỉ nặng 0.57kg
và đục được giáp 100 ly.
Đó là mặt trận chầu Âu.
Còn ở Thái Bình Dương
Nhật và Mỹ không phát triển mạnh xe tăng
nên nhu cầu chạy đua lưu đạn AT-0 lớn.
Người Nhật với phong cách tự xác
đã làm ra loại mìn cây
mà tại Việt Nam chúng ta gọi là bom 3 càng.
Cây mìn này có chiều dài khoảng 1,5 mét
và một đầu nổ hít rất lớn
và được người dùng đâm trực tiếp vào chiếc xe tăng cường diện.
Hết quả là cả người, cả mục tiêu đều bánh sát.
Với sức đục tới 150 ly
thì quý vị có thể tưởng tượng ra rồi đấy
bom 3 càng được xem là một trong những loại
lưu đạn AT nguy hiểm nhất trong khi chiến thứ 2.
Khi mà đại chiến thế giới lần thứ 2 kết thúc
việc phát triển các loại lưu đạn AT không còn nữa
một số quốc gia đông ngâu đã thiết kế lại RPG-6 của Nga
và đặt lại các tên khác
ví dụ như là AZ-58K100 của Hungary.
Có thể xem, RKG-3 của Nga ra mắt vào năm 1950
là thế hệ lưu đạn AT cuối cùng được nghiên cứu và sản xuất.
Sau khi được ném, một chiếc dù sẽ bung ra ở đuôi
nhằm giúp nó rơi ổn định lên mục tiêu ở góc 90 độ.
Đầu nổ dạng lõm 0,57 kg của RKG-3
có thể đục thủng lớp thép dày 170 ly
hoặc đồng dày 220 ly.
Dường như trong cuộc chiến Iraq gần đây nhất từ 2003 đến 2011
thì RKG-3 nó được quân nổi dậy Iraq sử dụng
để chống lại các phương tiện chiến đấu mặt đất
nhưng không có rắp dày như xe tăng.
Bộ quân đội Mỹ phải bổ sung thêm lớp ráp chuồng Slat Armor
để cách ly đầu nổ ra khỏi chân xe.
Ngoài ra, còn có xe chiến đấu bộ binh, tên lửa chống tăng,
rocket chống tăng cầm tay, v.v.
Nhưng mà do thời lượng có hạn
nên video của chúng ta sẽ tạm dừng ở đây.
Nếu quý vị muốn tiếp tục khám phá series
về những loại vũ khí chống tăng nổi tiếng trên thế giới
thì hãy bình luận phía bên dưới
kèm theo dòng chữ phần 2
Và đừng quên like, chia sẻ
và ấn nút theo dõi kênh
để đón xem những video mới nhất từ kiến thức quân sự.
Còn bây giờ, xin chào và hẹn gặp lại!