Lục Quân Mỹ Đang Thay Đổi: Pháo 155 mm Không Đua Mỗi Tầm Bắn - Ai Rời Trận Địa Nhanh Hơn Sẽ Sống!
2 Lượt xem video·5 thg 9, 2026
Lục Quân Mỹ Đang Thay Đổi: Pháo 155 mm Không Đua Mỗi Tầm Bắn - Ai Rời Trận Địa Nhanh Hơn Sẽ Sống!
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Trong hơn hai thập niên, pháo binh Mỹ đã đi qua một vòng chuyển đổi rất đáng chú ý.
Có thời điểm, bài toán quan trọng nhất là làm thế nào biến một khẩu pháo 155mm
thành hệ thống đủ nhẹ để theo chân những đơn vị viễn trinh tới các chiến trường xa xôi.
Giờ đây, sức ép của chiến tranh hiện đại lại buộc lục quân Mỹ phải nhìn theo hướng gần như ngược lại.
Pháo không chỉ cần bắn mạnh mà còn phải tự cơ động, giảm thời gian phơi mình tại trận địa
và có khả năng sống sót trước một chiến trường ngày càng dày đặc cảm biến.
Chính sự thay đổi đó đã mở cánh cửa cho Hanwha Defense USA cùng K9MH tiến vào chương trình
pháo chiến thuật cơ động MTC của lục quân Mỹ. Điều đáng chú ý không nằm ở một câu chuyện đơn giản
rằng pháo Hàn Quốc đánh bại pháo Mỹ, K9MH mới bước vào giai đoạn nguyên mẫu và thử nghiệm.
Điều thực sự đáng quan tâm là vì sao một cường quốc sở hữu nền công nghiệp quân sự khổng lồ như Mỹ
lại tìm kiếm một kiến trúc pháo binh khác với thứ họ từng theo đuổi rất quyết liệt.
Muốn hiểu sự chuyển hướng ấy, phải quay lại với M777. Khẩu lựu pháo kéo 155mm này từng giải quyết
một vấn đề cực kỳ thực tế, đưa hỏa lực pháo binh hạng nặng tới những nơi mà một hệ thống tự hành
bọc thép nặng hàng chục tấn, khó triển khai nhanh chóng. Với trọng lượng chỉ vào khoảng hơn 4 tấn,
M777 có thể được vận chuyển bằng C-130 và không vận bằng trực thăng CH-47. Điều này mang lại
giá trị đặc biệt đối với các lực lượng trang bị nhẹ hoạt động xa căn cứ chính.
Một khẩu pháo 155mm vốn phải chịu áp suất buồng đạn và lực giật rất lớn lại được giảm trọng lượng
tới mức có thể đưa bằng đường không đến những khu vực hiểm trở. Đó là thành tựu kỹ thuật đáng kể,
chứ không phải một thiết kế thất bại.
Thưa quý vị, trong bối cảnh chiến lược khi M777 phát huy giá trị cũng rất khác hiện nay.
Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, quân đội Mỹ chuẩn bị cho khả năng đối đầu với Liên Xô trên chiến trường
châu Âu, nơi những đội hình thiết giáp và cơ giới quy mô lớn có thể giao chiến trực diện.
Pháo tự hành bọc thép phù hợp với môi trường đó vì có thể hành quân cùng lực lượng cơ giới vượt địa hình
và cung cấp một mức độ bảo vệ nhất định cho kiếp chiến đấu.
Sau chiến tranh lạnh, trọng tâm tác chiến của Mỹ dịch chuyển, Afghanistan và Iraq đặt ra yêu cầu khác hẳn,
đặc biệt tại những khu vực miền núi, đường xá hạn chế và cơ sở hạ tầng yếu.
Đưa một hệ thống pháo tự hành M109 nặng hàng chục tấn tới những vị trí như vậy không phải lúc nào cũng thuận lợi.
M777 vì thế trở thành câu trả lời rất hợp lý, bỏ bớt trọng lượng và khả năng tự hành để đổi lấy tính triển khai chiến lược cực cao.
Nhưng chính sự đánh đổi từng tạo nên ưu thế cho M777 giờ lại trở thành vấn đề trên chiến trường được bao phủ bởi UAV,
radar phản pháo, trinh sát điện tử và các mạng lưới cảm biến.
Pháo kéo không thể tự mình rời trận địa, xe kéo phải đưa khẩu pháo tới vị trí bắn,
kiếp pháo thủ triển khai hệ thống, chuẩn bị khai hỏa, hoàn thành nhiệm vụ rồi thu hồi pháo,
kết nối trở lại với phương tiện kéo trước khi rút đi.
Trong khoảng thời gian đó, con người và khí tài đều có thể bị phơi ra trước hoạt động trinh sát của đối phương.
Vấn đề vì thế không còn đơn giản là khẩu pháo có bắn đủ xa hay đủ mạnh hay không.
Câu hỏi đáng sợ hơn là, từ phát đạn đầu tiên, đối phương cần bao lâu để tìm ra trận địa?
UAV đã góp phần làm thay đổi sâu sắc phép tính này.
Giá trị nguy hiểm của UAV không chỉ nằm ở khả năng trực tiếp mang vũ khí,
chúng còn có thể trở thành mắt xích trinh sát, giúp rút ngắn chưu trình từ phát hiện,
xác định tọa độ đến chuyển dữ liệu cho lực lượng hỏa lực.
Khi chưu trình cảm biến đến hỏa lực được rút ngắn, từng phút đứng yên trên trận địa đều trở nên đắt giá.
Pháo binh vì thế phải bắn rồi chuyển vị trí nhanh nhất có thể.
777 vẫn có thể chiến đấu và pháo kéo cũng chưa biến mất, nhưng yêu cầu sống sót đã trở nên khắc nghiệt hơn rất nhiều.
Đây, chính là điểm pháo tự hành lấy lại lợi thế.
Khi khẩu pháo, động cơ và nền tảng cơ động nằm trên cùng một hệ thống,
thời gian từ hành quân đến khai hỏa rồi rút khỏi khu vực có thể được rút ngắn đáng kể.
Kịp chiến đấu cũng không phải thực hiện toàn bộ chuỗi thao tác giống một khẩu pháo kéo ở ngoài phương tiện.
Sự khác biệt giữa hai loại pháo, vì vậy, không chỉ nằm ở viên đạn 155mm,
nó nằm ở tốc độ mà toàn bộ hệ thống có thể xuất hiện, tung hỏa lực và biến mất trước khi đòn phản pháo tìm tới.
Nhưng tự hành hóa không phải phép màu biến phí.
Thêm động cơ đồng nghĩa với thêm nhiên liệu và bảo dưỡng.
Thêm ráp làm tăng trọng lượng.
Thêm cơ cấu nạp đạn tự động, kéo theo yêu cầu về độ tin cậy, phụ tùng và huấn luyện.
Càng nhiều công nghệ được tích hợp, giá thành và gánh nặng hậu cần càng có nguy cơ tăng.
Quân đội Mỹ từng trải qua bài học này với XM2001 Crusader.
Trong thập niên 1990, Crusader được xây dựng với tham vọng trở thành một hệ thống pháo tự hành
cực kỳ hiện đại, có tốc độ bắn cao, mức độ tự động hóa lớn và hệ thống điều khiển hỏa lực tiên tiến.
Nhưng tham vọng công nghệ đi kèm trọng lượng, độ phức tạp và chi phí ngày càng lớn.
Đến năm 2002, chương trình bị chấm dứt khi các ưu tiên quân sự của Mỹ thay đổi.
Sau Crusader, Mỹ tiếp tục theo đuổi Future Combat Systems, hay FCS,
một nỗ lực còn tham vọng hơn nhằm tái cấu trúc lực lượng mặt đất theo hướng nhẹ hơn,
kết nối mạng sâu hơn và dễ triển khai toàn cầu hơn.
NLUSC trở thành một mắt xích pháo binh quan trọng trong ý tưởng đó.
Điều này cho thấy Washington chưa bao giờ ngừng tìm kiếm thế hệ pháo tiếp theo.
Khó khăn nằm ở việc cân bằng một tam giác cực kỳ khắc nghiệt, năng lực chiến đấu,
khả năng đưa vào trang bị đúng thời điểm và chi phí đủ để quân đội có thể mua với số lượng cần thiết.
MTC xuất hiện sau nhiều bài học như vậy.
Lần này, lục quân Mỹ không chỉ tìm kiếm một khẩu pháo có thông số đẹp trên giấy,
họ cần một hệ thống 155mm cơ động có thể nhanh chóng được thử nghiệm trong tay binh sĩ
và chứng minh rằng nó phù hợp với nhiệm độ chiến trường mới.
Hanoi Defense USA đã được trao hợp đồng cung cấp 6 nguyên mẫu K9 MH,
kèm tùy chọn thêm 12 hệ thống.
Điều đó chưa có nghĩa K9 MH đã trở thành pháo tiêu chuẩn tiếp theo của Mỹ.
Nó có nghĩa một thiết kế phát triển từ gia đình K9 đã dành được cơ hội bước vào
một trong những cuộc thử nghiệm đáng chú ý nhất đối với tương lai pháo binh Mỹ.
Và đây mới là nghịch lý thú vị nhất.
Hơn hai thập niên trước, Mỹ tìm cách lấy một khẩu pháo lớn
và làm nó nhẹ đến mức có thể bay tới chiến trường.
Ngày nay, chiến trường buộc họ phải tìm cách đặt khẩu pháo ấy trở lại trên một phương tiện cơ động.
Không phải vì tư duy trước kia sai, mà bởi mối đe dọa đã thay đổi.
Trong kỷ nguyên mà UAV có thể lượn trên đầu, radar phản pháo có thể truy tìm đường đạn
và dữ liệu mục tiêu được truyền đi với tốc độ chưa từng có.
Pháo binh không còn được đánh giá chỉ bằng câu hỏi nó bắn mạnh đến đâu.
Câu hỏi quyết định ngày càng trở thành, sau khi nổ súng,
nó có rơi đi đủ nhanh để còn cơ hội khai hỏa lần thứ hai hay không?
Những lịch sử pháo binh Mỹ còn cho thấy một nghịch lý lớn hơn.
Biết chiến trường tương lai cần gì là một chuyện,
biến dự đoán ấy thành một hệ thống có thể sản xuất hàng loạt lại là câu chuyện hoàn toàn khác.
NELSC từng đại diện rất rõ cho tham vọng này.
Ý tưởng phía sau nó thực ra không hề lối thởi.
Các cảm biến trên chiến trường phát hiện mục tiêu, dữ liệu được truyền qua mạng chỉ huy và pháo binh
lập tức nhận tọa độ để tung hỏa lực.
Nhìn từ chiến trường hiện đại, nơi UAV, radar và hệ thống chỉ huy số
đang ngày càng gắn chặt với hỏa lực tầm xa,
logic đó thậm chí còn mang màu sắc rất quen thuộc.
Vấn đề nằm ở chỗ Future Combat System không chỉ đặt cược vào một khẩu pháo.
Mỹ khi ấy muốn xây dựng cả một lực lượng mặt đất nhẹ hơn,
số hóa sâu hơn và kết nối với nhau thành một mạng lưới tác chiến khổng lồ.
Rồi thực tế chiến tranh xuất hiện theo một hướng khác.
Iraq và Afghanistan buộc lục quân Mỹ phải ưu tiên những mối đe dọa và nhu cầu cấp bách trước mắt,
thay vì tiếp tục đổ nguồn lực vào toàn bộ kiến trúc chiến tranh tương lai mà FCS theo đuổi.
Đến năm 2009, FCS bị chấm dứt và số phận NLOSC cũng kết thúc theo.
Bài học để lại rất đáng chú ý.
Phát triển vũ khí không đơn giản là chiến thắng các bài toán vật liệu, cơ khí, điện tử hay phần mềm.
Một chương trình kéo dài nhiều năm còn đang đặt cược vào một thứ khó đoán hơn rất nhiều.
Cuộc chiến tiếp theo sẽ diễn ra như thế nào?
Nếu dự đoán lệch hướng, một công nghệ cực kỳ tiên tiến vẫn có thể xuất hiện không đúng thời điểm.
Nhưng lục quân Mỹ không dừng việc tìm kiếm ưu thế pháo binh.
Khi cạnh tranh giữa các cường quốc trở lại, khoảng cách tác chiến trở thành vấn đề ngày càng được chú ý.
Một khẩu pháo đứng ngoài tầm phản kích hiệu quả của đối phương rõ ràng có cơ hội sống sót cao hơn.
Từ tư duy đó, SCA được thúc đẩy với tham vọng kéo tầm bắn pháo binh Mỹ ra xa hơn đáng kể.
Một trong những thay đổi nổi bật là sử dụng nòng dài hơn kết hợp với đạn và liều phóng mới
để khai thác thêm năng lượng cho viên đạn, nhưng vật lý không cho phép tăng tầm bắn mà không trả giá.
Nòng dài hơn, áp lực khai hỏa lớn hơn và yêu cầu hiệu suất cao hơn đồng nghĩa độ bền,
vật liệu, chế tạo và bảo dưỡng đều trở nên khó khăn.
Quan trọng hơn nữa, một khẩu pháo bắn được rất xa không tự động có nghĩa nó sẽ tiêu diệt được mục tiêu ở khoảng cách đó.
Trước khi bóp cò, một lực lượng khác phải tìm ra mục tiêu, xác định chính xác vị trí,
chuyển dữ liệu và duy trì chuỗi chỉ thị mục tiêu đủ tin cậy.
Pháo binh chỉ là mắt xích cuối mạng hỏa lực tới tọa độ đã được xác định.
Nếu mắt xích trinh sát phía trước không theo kịp,
thêm hàng chục km tầm bắn cũng không thể tự mình giải quyết vấn đề.
LCA cuối cùng cũng gặp trở ngại.
Đến năm 2024, lục quân Mỹ dừng kế hoạch sản xuất nguyên mẫu XM 1299
theo hướng đang được triển khai và chuyển sang đánh giá những giải pháp khác cho pháo binh tầm xa.
Khi đặt Crusader, NLUSC và EROCA trên cùng một dòng phát triển,
một quy luật bắt đầu hiện ra,
Mỹ không thiếu khả năng tạo ra công nghệ pháo binh tiên tiến.
Thách thức nằm ở việc tìm được điểm cân bằng giữa hiệu suất, độ tin cậy,
chi phí, sản xuất và một yêu cầu tác chiến có thể thay đổi trước khi chương trình kịp trưởng thành.
Chiến tranh Nga-Ukrainea khiến bài toán này càng trở nên khắc nghiệt.
Một cuộc xung đột kéo dài không chỉ tiêu hào đạn mà còn tiêu hào nòng pháo,
phương tiện, linh kiện, nhân lực và năng lực sửa chữa.
Khẩu pháo tốt nhất trên giấy sẽ không mang nhiều ý nghĩa nếu dây truyền không sản xuất đủ nhanh,
phụ tùng không tới được đơn vị hoặc một hỏng hóc khiến hệ thống phải nằm chờ quá lâu.
Trong chiến tranh tiêu hào, nhà máy phía sau chiến tuyến cũng trở thành một phần của sức mạnh hỏa lực.
Đó là bối cảnh khiến kinh nghiệm của gia đình K-9 trở nên đáng quan tâm.
Điểm đáng giá không chỉ nằm ở khẩu pháo 155mm nòng dài 52 lần cỡ nòng hay mức độ tự động hóa.
Gia đình K-9 đã đi qua quá trình sản xuất quy mô lớn, vận hành thực tế và mở rộng ra nhiều thị trường quốc tế.
Ba Lan, Naui, Australia và Ấn Độ đều đã lựa chọn K-9 hoặc những biến thể phát triển từ nền tảng này.
Mỗi khách hàng mới không chỉ mang lại một hợp đồng mà còn tạo thêm kinh nghiệm sản xuất,
hậu cần, bảo dưỡng và thích nghi với những yêu cầu khác nhau.
Nền tảng công nghiệp phía sau K-9 không xuất hiện trong một sớm một chiều.
Hàn Quốc sống trong một môi trường an ninh mà pháo binh luôn giữ vị trí đặc biệt.
Bản đảo Triều Tiên có chiều sâu chiến lược hạn chế, trong khi những khu vực dân cư,
cơ sở hạ tầng và mục tiêu quân sự quan trọng nằm tương đối gần khu vực đối đầu.
Trong hoàn cảnh đó, pháo binh mặt đất không thể chỉ đóng vai trò hỏa lực bổ trợ.
Nó phải phản ứng nhanh, duy trì được cường độ khai hỏa,
và quan trọng nhất là tiếp tục hoạt động khi cuộc chiến kéo dài.
Hàn Quốc từng dựa nhiều vào dòng M109 của Mỹ, nhưng phụ thuộc vào trang bị nhập khẩu
trong một kịch bản chiến tranh cường độ cao, luôn tạo ra rủi ro.
Từ nhu cầu tự chủ lớn hơn, K-9 Thunder dần hình thành.
Chế lý của nó không phải dành ngôi đầu ở mọi thông số.
K-9 được xây dựng quanh sự cân bằng, hỏa lực đủ mạnh, cơ động địa hình tốt,
có khả năng chuyển trận địa, độ tin cậy phù hợp với trang bị số lượng lớn
và một nền tảng đủ linh hoạt để tiếp tục nâng cấp.
Ngay cả khái niệm nòng dài 52 lần cỡ nòng cũng thể hiện rất rõ chuyên lý đánh đổi của pháo bình.
Với cỡ nòng 155mm, lần 52 có nghĩa chiều dài danh nghĩa của phần nòng được xác định theo 52 lần cỡ nòng.
So với Li-39, chiều dài lớn hơn cho phép khí thuốc tiếp tục tác động lên viền đạn trong quãng đường dài hơn,
qua đó hỗ trợ đạt sơ tốc và tầm bắn cao hơn khi kết hợp với đạn cùng liều phóng thích hợp.
Nhưng đổi lại là khối lượng, tài trọng cơ học, yêu cầu chế tạo và bảo dưỡng cao hơn, không có lựa chọn nào miễn phí.
Thành công xuất khẩu của Cây 9 cũng đến từ một thực tế tương tự.
Khách hàng không mua riêng một nòng pháo, họ mua khả năng đào tạo kiếp chiến đấu,
nguồn phụ tùng, phương án bảo dưỡng, đạn dược, hỗ trợ kỹ thuật, năng lực nâng cấp
và quan trọng hơn cả là khả năng tiếp tục nhận thêm hệ thống khi nhu cầu tăng lên.
Chế tạo được một nguyên mẫu xuất sắc và duy trì hàng trăm hệ thống trong nhiều năm
là hai cấp độ năng lực công nghiệp hoàn toàn khác nhau.
Chính yếu tố này khiến câu chuyện K9 MH tại Mỹ cần được nhìn chính xác.
Đây chưa phải bằng chứng rằng K9 đã đánh bại pháo Mỹ.
Mỹ cũng không đơn giản lấy Cây 9 Thunder bánh xích đang phục vụ tại Hàn Quốc rồi đưa thẳng vào biên chế.
Những công nghệ, kinh nghiệm và nền tảng đã được tích lũy từ gia đình K9 đang được điều chỉnh để đáp ứng bài toán MTC.
Điều lục quân Mỹ muốn kiểm tra là liệu một giải pháp trưởng thành có thể cung cấp hỏa lực 155mm,
đồng thời đạt khả năng cơ động, sống sót và triển khai phù hợp với những đơn vị tương lai hay không.
Và đây là lúc MTC trở nên đặc biệt thú vị.
Ở một đầu là M77, nhẹ đến mức có thể triển khai bằng đường không nhưng phải phụ thuộc vào xe kéo khi chuyển trận điện.
Ở đầu còn lại là M109, một pháo tự hành bọc thép bánh xích có khả năng chiến đấu cùng lực lượng cơ giới,
nhưng mang theo cây giá về trọng lượng và hậu cần.
Lục quân Mỹ dường như đang tìm kiếm một khoảng trống giữa hai thái cực ấy, đủ nhẹ và linh hoạt để triển khai nhanh,
nhưng đủ tự chủ để không phải nằm lại trận địa quá lâu sau khi khai hỏa.
Trong môi trường đối kháng thấp, M777 có thể tới trận địa, triển khai, bắn rồi thu hồi mà nguy cơ bị phản kích tức thời không quá lớn.
Nhưng trên chiến trường cường độ cao, phép tính thay đổi từng phút, UAV có thể phát hiện dấu vết triển khai,
radar phản pháo có thể truy ngược đường đạn, dữ liệu mục tiêu có thể được chuyển tới đơn vị hỏa lực trước khi khẩu đội hoàn tất quá trình thu hồi.
Khi đó, vài phút từng được xem là bình thường có thể trở thành khoảng thời gian quyết định một khẩu pháo còn tồn tại hay bị loại khỏi vòng chiến.
MTC vì thế không đơn thuần đi tìm M777, nhưng có bánh xe.
Lục quân Mỹ đang tìm cách dung hòa những ưu điểm vốn nằm ở hai thế giới khác nhau,
khả năng triển khai của pháo nhẹ và khả năng bắn rồi rời trận địa của pháo tự hành.
Nếu bài toán đó được giải quyết, thế hệ pháo 155mm tiếp theo của Mỹ sẽ không được định nghĩa chỉ bởi tầm bắn hay tốc độ bắn.
Nó sẽ được định nghĩa bởi khả năng bước vào mạng lưới trinh sát,
hỏa lực tung đòn trong thời gian ngắn nhất rồi lập tức chuyển vị trí trước khi đối phương khép lại chu trình phản pháo.
Và chính tại điểm này, câu hỏi lớn nhất mới xuất hiện.
Một hệ thống nằm giữa M777 và 109 phải hy sinh những gì để có được sự cân bằng mà quân đội Mỹ đã tìm kiếm suốt nhiều năm.
Và khi chiến trường bị bao phủ bởi UAV, radar phản pháo cùng hàng loạt cảm biến,
câu hỏi sống còn đối với một khẩu đội pháo không còn dừng ở việc nó có thể bắn bao nhiêu phát.
Điều đáng sợ hơn là sau phát đạn đầu tiên, kíp pháo thủ còn bao nhiêu thời gian trước khi vị trí của họ trở thành một tọa độ mục tiêu.
Đây chính là điểm khiến lục quân Mỹ không thể giải quyết bài toán hiện nay bằng cách đơn giản mua thêm M109.
M109 là một pháo tự hành bánh xích được xây dựng để đồng hành với những đội hình cơ giới.
Khung gầm, động cơ, hệ thống chuyển động, ráp bảo vệ, thiết bị điện tử và toàn bộ cấu trúc phương tiện
cho phép nó tự cơ động, khai hỏa rồi chuyển vị trí mà không phải chờ một xe kéo tới đưa đi.
Nhưng tất cả những năng lực ấy đều có trọng lượng.
Khi một khẩu pháo trở thành một phương tiện chiến đấu gần như hoàn chỉnh,
cái giá phải trả không chỉ nằm trên bản cân mà còn xuất hiện trong vận tải, nhiên liệu, bảo dưỡng và chuỗi hậu cần.
Mâu thuật này đặc biệt đáng chú ý khi Mỹ chuẩn bị cho các kịch bản tác chiến tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Không gian chiến trường rộng lớn, khoảng cách giữa các khu vực hoạt động có thể rất xa,
trong khi nhiều căn cứ và vị trí triển khai nằm phân tán.
Một hệ thống bánh xích nặng hàng chục tấn có thể sở hữu khả năng vượt địa hình rất tốt sau khi tới chiến trường,
nhưng đưa nó vượt qua khoảng cách chiến lược lại là một bài toán hoàn toàn khác.
Lục quân Mỹ vì vậy đứng trước hai yêu cầu tưởng như đối nghịch.
Hoạ lực phải đủ linh hoạt để triển khai từ những khu vực xa xôi,
nhưng một khi đã nổ súng, nó lại phải đủ cơ động để không biến trận địa thành chức bấy cho chính kiếp chiến đấu.
M777 giải quyết rất tốt nửa đầu của bài toán.
M109 giải quyết tốt hơn nửa còn lại.
MTC xuất hiện để tìm kiếm một điểm cân bằng mới giữa hai cực đó.
Điều lục quân Mỹ quan tâm vì thế không phải một thông số duy nhất.
Một hệ thống có thể bắn rất xa nhưng mất quá nhiều thời gian để chuyển vị trí vẫn có thể gặp nguy hiểm.
Một hệ thống cực nhẹ nhưng phải phụ thuộc hoàn toàn vào phương tiện kéo cũng phải chấp nhận những giới hạn riêng.
Một thiết kế cực kỳ tiên tiến nhưng mất thêm nhiều năm mới có thể sản xuất ổn định lại tạo ra một vấn đề khác.
Ba yếu tố bắt đầu gắn chặt với nhau.
Cơ động, độ trưởng thành và khả năng súng sót.
Trong số đó, cơ động đang mang một ý nghĩa khác hẳn trước đây.
Nó không còn chỉ là khả năng chạy nhanh từ điểm A tới điểm B.
Cơ động đã trở thành một lớp bảo vệ.
Pháo càng rơi khỏi toa độ khai hỏa nhanh, khoảng thời gian đối phương có thể sử dụng dữ liệu trinh sát cũ để tấn công càng ngắn.
Không lớp giáp thực tế nào có thể biến một hệ thống pháo thành phương tiện hoàn toàn miễn nhiễm trước đòn đánh chính xác hoặc hỏa lực phản pháo mạnh.
Bởi vậy, thay vì cố chịu đòn, phương án hiệu quả hơn trong nhiều tình huống là không còn ở đó khi đòn đánh tới.
Độ trưởng thành của công nghệ cũng ngày càng quan trọng.
Lịch sử Crusader, FCS, NLOSC và RCA đã cho lục quân Mỹ quá nhiều ví dụ về khoảng cách giữa một ý tưởng đầy tham vọng và một hệ thống có thể thực sự đi vào biên chế với số lượng đáng kể.
Chiến trường không quan tâm một chương trình có bản trình diễn đẹp đến mức nào.
Đơn vị chiến đấu cần khí tài có thể được bàn giao, huấn luyện, sửa chữa và duy trì hoạt động.
Đây là một trong những nguyên nhân kinh nghiệm tích lũy từ gia đình K9 trở nên đáng chú ý.
Dù K9, Thunder nguyên bản không phải đáp án có thể bê nguyên trạng vào MTC.
Sự phát triển của pháo tự hành bánh lốp trên thế giới cũng phản ánh phép cân bằng tương tự.
Kaiser của Pháp là một ví dụ nổi bật cho hướng đặt pháo 155mm trên nền tảng bánh lốp nhằm khai thắt tốc độ đường trường,
giảm một phần gánh nặng bảo dưỡng so với phương tiện bánh xích hạng nặng và tạo khả năng chuyển trận địa linh hoạt.
Nó không được tạo ra để thay thế mọi pháo bánh xích trong mọi tình huống.
Bánh xích vẫn có ưu thế riêng trên địa hình khó và khi cần phối hợp chặt với lực lượng thiết giáp.
Nhưng bánh lốp mở ra một khoảng trung gian hấp dẫn giữa pháo kéo và pháo tự hành hạng nặng.
Đây cũng là lý do không nên nhìn K9MH như việc lục quân Mỹ chuẩn bị mua nguyên chiếc K9 Thunder của Hàn Quốc.
K9 Thunder là một hệ thống bánh xích được tối yêu cho những yêu cầu tác chiến riêng,
đặc biệt là khả năng duy trì hỏa lực và cơ động trong môi trường chiến tranh trên bộ cường độ cao.
K9MH lại phải chứng minh rằng kinh nghiệm công nghệ của gia đình K9
có thể được chuyển hóa thành một giải pháp phù hợp với yêu cầu cơ động của MTC.
Cuộc thử nghiệm vì vậy không đơn thuần hỏi K9 có tốt hay không.
Nó hỏi một kiến trúc phát triển từ nền tảng công nghệ đã trưởng thành có thể thích nghi đến đâu
với cách lục quân Mỹ muốn chiến đấu trong tương lai.
Nhưng sự trở lại của pháo tự hành không đồng nghĩa pháo kéo đã hết thời.
Đây là điểm rất dễ bị hiểu sai.
M777 vẫn sở hữu một lợi thế mà những hệ thống nặng hàng chục tấn khó tái tạo,
khả năng triển khai chiến lược với trọng lượng thấp.
Khi phải đưa hỏa lực 155mm tới một địa hình khó tiếp cận,
một khu vực hạ tầng hạn chế hoặc những vị trí mà tải trọng vận chuyển
trở thành yếu tố quyết định, pháo kéo nhẹ vẫn có giá trị rất lớn.
Pháo tự hành đổi khả năng sống sót, lấy một loạt gánh nặng khác.
Muốn khẩu pháo tự chạy, phải có động cơ.
Có động cơ thì cần nhiên liệu, truyền động và làm mát.
Muốn vươn địa hình, phải có hệ thống treo phù hợp.
Muốn bảo vệ kiếp chiến đấu, phải bổ sung kết cấu và ráp.
Muốn tự động hóa cao hơn, phải có cảm biến, máy tính, cơ cấu chấp hành và nguồn điện.
Từng khả năng được thêm vào khiến hệ thống mạnh hơn,
nhưng đồng thời tạo thêm một thứ có thể hỏng và cần được bảo dưỡng.
Trọng lượng vì thế trở thành cái giá đầu tiên.
M777 có thể giữ khối lượng thấp bởi bản thân nó không phải một phương tiện chiến đấu hoàn chỉnh.
K9, M109 hay PZH-2000 phải mang theo cả một hệ thống cơ động bên dưới khẩu pháo.
Đổi lại, chúng có thể tự mình rời trận địa.
Đó là một cuộc trao đổi giữa khả năng triển khai chiến lược và khả năng cơ động chiến thuật.
Cái giá thứ hai nằm ở hậu cần.
Với pháo tự hành, hòng động cơ có thể khiến một khẩu pháo còn nguyên vẹn về hỏa lực nhưng không thể rời vị trí.
Hòng chuyên động, hệ thống điện tử hoặc một cơ cấu quan trọng cũng có thể làm giảm khả năng chiến đấu.
Vì thế, độ tin cậy không phải thông số phụ.
Trong một cuộc chiến kéo dài, nó có thể quan trọng chẳng kém tầm bắn.
Cái giá cuối cùng là tiền.
Một quân đội luôn phải lựa chọn giữa số lượng và năng lực của từng hệ thống.
Một số lượng nhỏ khí tài cực kỳ tinh vi, có thể tạo ra ưu thế lớn trong những nhiệm vụ nhất định.
Nhưng chiến tranh tiêu hào lại đặt ra yêu cầu về quy mô, khả năng bổ sung tổn thất và duy trì hỏa lực liên tục.
Kinh nghiệp từ chiến trường Nga-Ukraine càng làm nổi bật thực tế rằng kho đạn, phụ tùng, nòng pháo, cơ sở sửa chữa
và công suất nhà máy đều có thể ảnh hưởng trực tiếp tới sức mạnh ngoài tiền tuyến.
Bởi vậy, tương lai pháo binh khó có khả năng chỉ thuộc về một cấu hình duy nhất.
Pháo kéo nhẹ vẫn có thể tồn tại ở những nhiệm vụ ưu tiên khả năng vận chuyển và triển khai.
Pháo tự hành bánh lốp có thể chiếm một khoảng không gian quan trọng.
Khi tốc độ đường trường và khả năng bắn rồi chuyển vị trí được đặt lên cao,
pháo tự hành bánh xích hạng nặng vẫn có giá trị.
Khi cần hoạt động cùng lực lượng thiết giáp trên địa hình khác biệt,
không có một nền tảng duy nhất tối ưu cho Afghanistan, Đông Âu
và các không gian đảo ở Thái Bình Dương cùng một lúc.
Nhưng phía sau tất cả những khác biệt đó đang xuất hiện một cuộc cách mạng lớn hơn.
Pháo binh tương lai không còn là câu chuyện của riêng khẩu pháo.
Một UAV phát hiện mục tiêu.
Dữ liệu phải được xác định và chuyển qua mạng chỉ huy.
Đơn vị phù hợp được giao nhiệm vụ.
Hệ thống hỏa lực nhận tọa độ, tính toán phần từ bắn, khai hỏa,
rồi lập tức chuẩn bị chuyển vị trí.
Sau đó cảm biến tiếp tục đánh giá kết quả và chư trình có thể bắt đầu lại.
Giá trị của khẩu pháo vì thế phụ thuộc vào tốc độ của toàn bộ mạng lưới xung quanh nó.
Đây là nơi biến số quan trọng nhất xuất hiện, thời gian.
Ai phát hiện trước, ai truyền tọa độ nhanh hơn,
ai ra quyết định sớm hơn, ai khai hỏa trước và sau khi khai hỏa,
ai rời khỏi tọa độ cũ trước khi đối phương kịp phản ứng.
Một khẩu pháo có tầm bắn vượt trội nhưng mất quá lâu
để nhận dữ liệu mục tiêu có thể bị một hệ thống kém ấn tượng hơn trên giấy vượt qua trong thực chiến.
Một khẩu pháo có tốc độ bắn cao nhưng đứng yên quá lâu
cũng có thể không sống sót để thực hiện nhiệm vụ tiếp theo.
Khi chiến trường ngày càng trong suốt, tốc độ hoàn thành toàn bộ chu trình tác chiến mới
là thứ quyết định hỏa lực có thực sự hiệu quả hay không.
Nhìn theo cách đó, M777 và thế hệ MTC không đại diện đơn giản cho cũ và mới.
M777 là lời giải xuất sắc cho một thời kỳ mà khả năng đưa pháo 155mm
tới chiến trường nhanh chóng được đặt ở vị trí cực cao.
MTC đang cố giải một bài toán khác sau khi hỏa lực đã tới chiến trường,
làm thế nào để nó tiếp tục tồn tại dưới sự giám sát liên tục của UAV, radar
và các mạng lưới trinh sát hiện đại.
Đó mới là lý do căn bản lục quân Mỹ tiếp tục tìm kiếm một kiến trúc pháo 155mm mới.
Cuộc đua tương lai sẽ không được quyết định chỉ bởi nòng pháo dài hơn vài mét
hay tầm bắn xa hơn vài chục km. Nó sẽ được quyết định bởi bên nào,
kết nối cảm biến với hỏa lực nhanh hơn, khai hỏa chính xác hơn,
chuyển trận địa sớm hơn và duy trì được toàn bộ hệ thống đó lâu hơn đối phương.
Trong cuộc chiến ấy, hỏa lực vẫn là sức mạnh của pháo binh,
nhưng khả năng sống sót mới quyết định khẩu pháo có cơ hội tiếp tục khai hỏa hay không.
Đến đây, chương trình của chúng tôi cũng xin phép được tạm dừng.
Hãy để lại quan điểm của mình và cùng thảo luận với chúng tôi.
Còn bây giờ, xin chào và hẹn gặp lại.
