BÁT CHÁNH ĐẠO GIÁC NGỘ

giác ngộ ta bà ha
51 người theo dõi
BÁT CHÁNH ĐẠO GIÁC NGỘ
#giacngotabaha #conhanday #loidaycuaconhan #phapthoai #nghephapthoai #loiphatday #phatphap
Bát tranh đạo là 8 con đường ngay thẳng để giúp chúng sinh đến đời sống trí diệu
và cũng là 8 con đường màu nhiệm để đưa chúng sinh đến địa vị thánh.
Bát tranh đạo gồm có tránh kiến, tránh tư duy, tránh ngữ, tránh nghiệp, tránh mạng, tránh tinh tấn, tránh niệm và cuối cùng là tránh định.
Đức Phật Thích Ca đã nói, Bát tranh đạo như thế nào thì 3 thế Phật cũng nói Bát tranh đạo như thế ấy.
Có nghĩa là Phật trong quá khứ và những vị Phật trong tương lai cũng nói Bát tranh đạo cũng y như thế vì nó là chân lý.
Chữ tránh trong Bát tranh đạo có nghĩa là đúng.
Thứ nhất, tránh kiến là thấy biết một cách công minh ngay thẳng, tức là thấy biết đúng.
Khi chúng sinh thấy biết mọi việc và mọi vật đúng thì bao nhiêu chấp ngã mê lầm sẽ không còn trong tâm của họ nữa.
Sự thấy biết đúng này chính là phương cách duy nhất để bắt đầu tận diệt mọi kiến hoạc và cũng là bước đường căn bản để chuẩn bị tiêu trừ mọi tư hoạc sau này.
Vì thế, Phật mới đưa tránh kiến ra trước là như vậy.
Tuy cứu cánh của Đạo Phật là giải thoát rác ngộ, nhưng chiếc lý của Đạo Phật luôn luôn gắn liền với cuộc sống của thế gian này.
Trước hết, Phật dạy con người phải có cái nhìn đúng về mình và tất cả vạn vật chung quanh ta.
Mà cái đúng, cái chân thật thì nhà Phật gọi là như thị.
Thấy biết đúng có nghĩa là vạn vật như thế nào thì mình thấy biết như thế ấy.
Thí dụ như sợi dây là sợi dây chứ đừng thấy mê lầm mà cho là con rắn.
Cũng như tấm gương vậy, nếu gặp người thì giỏi bóng y như người, còn gặp trăng thì giỏi bóng y như mặt trăng.
Vì sự thấy biết đúng của Đức Phật nên mới có câu như thị văn, như thị chi.
Có nghĩa là việc đời và thế giới như thế nào thì phải thấy biết như thế đó.
Tức là Đức Phật không giải thích theo ốc tưởng tượng của Ngài để gán cho sự vật những ý nghĩa hay giá trị mà tự chúng không có.
Nói cách khác là đừng tô sôn rác vàng, đừng lên án, đừng bình phẩm mà phải thấy thấu triệt các thực tướng của vạn vật.
Con người vì vô minh che lớp cho nên khó thấy biết đúng, vật thể vũ trụ thì vô tình mà con người gán ghép cho chúng.
Những danh tử Hoa Mỹ chẳng hạn như đổi thông buồn, ảnh đạn hay mặt nước họ thu sầu, oan mát.
Đổi thông đâu có biết buồn, và mặt nước làm gì biết sầu oan mát.
Do đó, muốn thấy biết đúng thì đừng cọng thêm ngã kiến vào, thấy sao biết vậy thì không xanh vọng tâm.
Có thấy biết đúng mới suy tư đúng, rồi phát lời nói đúng, và sau cùng là hành động đúng.
Như thế, tránh kiến là nền mong vững chắc để xây dựng căn nhà bát tránh đạo.
Không có căn nhà bát tránh đạo nào bền vững nếu người tu không dùng tâm thực hành thâm sâu hàng ngày tránh kiến để giúp chúng ta thấy biết đúng.
Cái thấy biết đúng thì mới thực hành thâm sâu câu vạn pháp dai không duyên sanh như huyện, để thân, khẩu, ý được thanh tịnh.
Thêm nữa, chúng ta đang sống trong một thế giới tương đối có nghĩa là cái này tương trợ cho cái kia.
Nói cách khác là nếu muốn thấy biết đúng thì chúng ta phải thấy biết đâu là tà kiến.
Càng thấy biết nhiều tà kiến tức là chúng ta đã thấy biết nhiều tránh kiến vậy.
Chẳng hạn như triết lý căn bản của Phật giáo là nhân quả mà chúng ta cứ tin vào xin xăm, bói khỏe hay coi sao cũng hạn thì chúng ta đang đi trên con đường tà kiến.
Mình gây nhân mà muốn người khác thay quả thì có được không?
Không làm lành, bố thí mà muốn hưởng phước thì có thành tựu không?
Không tu luyện mà muốn thành Phật có được không?
Nếu có ai xưng mình là Bồ Tát này hay là Quán Thế Âm Nọ thì đây chắc chắn là tà kiến.
Bồ Tát hay A-La-Hán thị hiện trong thế gian này rất nhiều nhưng không bao giờ họ tiết lộ tông tích của họ cả.
Tại sao? Bậc Thánh làm việc vì lợi cho người tức là lợi ích cho chúng sanh mà không quan tâm gì đến họ.
Họ tự nguyện vào đời để cứ giúp chúng sinh rồi ra đi.
Còn Phạm Nhân thì làm việc vì tư lợi và danh lợi cho mình chứ không phải công ích cho người.
Khi Đức Phật còn tại thế, một hôm Ngài hỏi các Thầy Tị kheo rằng mạng sống của người được bao lâu?
Bạch thiết tôn mạng người sống được 10 năm. Phật bảo ông chưa thấy đạo.
Thầy Tị kheo khắc thưa mạng người sống được một năm. Phật lắc đầu nói ông cũng chưa thấy đạo.
Cứ thế các Thầy Tị kheo thay nhau trả lời mạng người sống trong 3 tháng, 1 tháng đến 1 ngày.
Sau cùng vị Tị kheo chót đứng dậy, Bạch với Đức Phật rằng
Bạch thiết tôn mạng người sống trong hơi thở mà thôi. Phật gật đầu khen ông đã thấy đạo.
Phật nói đạo ở đây là chân lý bởi vì con người mà không còn hơi thở thì mất mạng.
Thấy được mạng sống con người là mông lung là tạm bỡ mà nhà Phật gọi là giả có
thì chúng ta đã thấy biết đúng tức là tránh chi tránh chiến vậy.
Nói chung, con người có 5 tà kiến cần được chú ý đó là
Thân kiến là si mê lầm tưởng cho là thân ta và những vật của ta là thật có.
Biện kiến là khi ta đã cố chấp thân ta và vật của ta là thật có thì những người này chắc chắn
sẽ thiên về. Thứ nhất theo chủ nghĩa thân ta chết là hết, là đoạn diệt tức là vô hoạch
Theo chủ nghĩa thân ta chết mà vẫn còn, không mất, không thay đổi có nghĩa thân ta là thường trụ, là hữu.
Kiến thủ kiến là học theo những ý kiến chủ nghĩa tà thuyết kém cõi hẹp hoài của tà đạo mà họ cho là màu nhịp.
Giới thủ kiến là học theo những giới luật nhảm nhí của bọn tà ma để cầu sinh lên trời.
Tà kiến là tiêm theo những lý luận hay đạo giáo sai lầm cho rằng đời người không có nhân quả
và cũng không có thiện ác báo ứng chi cả. Chính năm tà kiến này làm cho con người tối tâm mù quáng
và đắm chìm trong vận độc. Tuy nhiên tà kiến là những đối tượng sâu sắc giúp cho chúng ta có thể nhận được
đâu là tránh khiến để làm nền tảng cho tiến trình tu học bắt tránh đạo cho được viên mãn.
Thứ hai tránh tư duy là suy nghĩ, xét nghiệm cho đúng. Sau khi chúng ta thấy biết đúng thì bây giờ
Phật dạy chúng ta hãy suy tư nghiền ngẫm những chân lý của Phật. Ý của Phật muốn nói là đừng tin những gì
Phật nói mà hãy suy nghĩ chín chắn để tìm ra lẽ thật của nó. Thì lúc đó chúng ta tin cũng chưa muộn.
Nói cách khác, tư duy là ôn lại những đạo lý nhiệm màu của Phật Pháp. Khi chính mình suy nghĩ đúng
thì tâm không còn quay quần điên đảo. Vì thế đây là con đường đưa đến tâm thanh tịnh. Chẳng hạn như khi chúng ta nghe Pháp
hay đọc kinh mà không suy nghĩ lại thì đạo tâm của mình còn rất yếu. Bởi vì nếu không suy nghiệm lại thì làm sao chúng ta biết được
chiếc lý ấy nhiệm màu đến mức nào. Một khía cạnh rất thực tế khác về tránh tư duy là chúng ta phải đối chiếu
hay so sánh những chân lý vừa học được vào trong cuộc sống hàng ngày, ngay cả chân lý của Phật cũng vậy. Có đem nó ra suy nghĩ
áp dụng thực hành vào trong cuộc sống thì mới được thấy ánh sáng của chân lý. Bởi vậy, kinh Phật mới có câu
đại nghi mới đại ngộ. Chẳng hạn như kinh dạy quán Pháp vô thường có nghĩa là tất cả mọi vật trên thế gian này
đều biến đổi theo luật thành, chủ, diệt, không. Do đó, khi chúng ta suy nghĩ kỹ lời Phật dạy thì thấy điều này là đúng.
Đó là tránh tư duy vậy. Muốn thấy được sự tiến bộ trong khi học Phật là chúng sinh phải biết suy tư. Đây là phần bắt đầu
của thiền định. Thiền ở đây không phải là ngồi kiết giả mà phải biết suy tư quán chiếu lời Phật dạy để thấy
cái chân lý của nó. Muốn đi sâu vào trong thiền định thì phải bắt đầu bằng tư duy. Thí dụ như khi học
Kinh Kim Cang, Phật dạy rằng thật tướng, vô tướng. Nếu chúng ta chỉ đọc xuông thì đâu nghĩ ra cái vô tướng của
vạn vật như thế nào. Vì nó không có hình tướng. Nhưng nếu chúng ta đem câu này ra suy nghĩ thật kỹ thì thấy rằng
mọi vật thể là do nhân duyên kết thành. Mà đã là do nhân duyên thì nó không chắc thật, tức là không có tự tánh.
Vì thế, nó sẽ biến đổi theo luật vô thường là thành, chủ, hoại, không. Còn cái tướng thật thì ngũ quan không thấy biết.
Tiềm ẩn bên trong mà nhà Phật gọi là vô tướng. Do đó, vô tướng là thẻ của vật chất tức là không mới
thật sự là tướng thật của vạn vật. Do đó, tư duy là dùng đối tượng để suy nghĩ hay quán chiếu cho đúng.
Không suy nghĩ, tả bậy thì tâm không xanh vọng tưởng. Tam vô lậu học là giới, định, tuệ. Mà tránh tư duy là
chìa khóa để mở cánh cửa giới định tuệ này. Hằng ngày chúng ta dùng tâm suy nghĩ biết bao chuyện thăng trầm của
cuộc sống thì tránh tư duy sẽ giúp cho chúng ta nhìn thấy rõ ràng việc nào là thiện và bất thiện để vun bồi cho
cuộc sống thêm an vui tự tại. Không chạy theo tham dục của cuộc đời. Trước hết, phải có cái thấy biết và cái suy nghĩ
đúng dựa theo chiếc lý vô ngã vị tha của nhà Phật. Nên nhớ, tránh tư duy không phải là thích tư duy,
bởi vì tránh tư duy là suy nghĩ về đạo lý, về việc thiện để thanh lọc và giữ tâm được thanh tĩnh.
Còn thích tư duy là muốn suy nghĩ nhiều về thế gian Pháp. Đây là con đường dẫn đến phiền não. Vì thế,
khi suy nghĩ mà làm cho tâm của chúng ta lặng lẽ, an vui, tức là tư duy đúng. Còn suy nghĩ mà làm cho tâm
thêm tức giận, tức là tư duy sai, chỉ tạo thêm phiền não, khổ đau mà thôi. Trong tam huệ học là văn,
tư, tu, thì tư duy là một pháp môn giúp cho con người rèn luyện trí tuệ của họ, cho chân chính. Có suy nghĩ
chân chính thì tri kiến mới chân chính, và dĩ nhiên lời nói và hành động mới chân chính. Vì thế,
tránh tư duy giữ một vai trò tối quan trọng để giúp cho chúng sinh đến chỗ giải thoát giác ngộ.
Con người sống trong thế gian này phải gánh chịu đau khổ chất trồng cũng vì chúng ta chạy theo vọng tưởng,
có nghĩa là suy nghĩ không đúng. Vì thế tránh tư duy, tức là dùng tư tưởng chân chính để đánh
đổ mọi suy mê của vọng tưởng, như đánh đổ tư tưởng về rục lạc. Hằng ngày những tư tưởng về rục lạc như
tài, sắc, danh, lợi dính liền với sắc thanh, hương, vị, súc, pháp làm cho tâm của chúng ta điên đảo.
Bây giờ tránh tư duy giúp cho chúng ta suy nghĩ đến tính vô thường, tạm bỡ, mau tan giã của tất cả các
pháp thế gian. Chúng ta suy nghĩ lại lời của Đức Phật vì sự tan hợp của pháp thế gian như là giấc mộng,
như trò huyện hóa, như bọt nước, như ảo ảnh, như sương mai, như ánh chớp trên không mà thôi.
Khi suy nghĩ như thế thì dần dần chúng ta tách ra khỏi sự chói buộc của rục lạc thế gian và cuộc
sống sẽ trở thành an vui tự tại. Vì thế một chiếc da tê phương có câu muốn có được những hạnh
phúc cao thượng, hãy lánh xa những lạc thú đê hẹn, đánh đổ tư tưởng xân hẳn. Trong Kinh Pháp Cú,
Đức Phật có dạy rằng họ nhục mạ ta, đánh đập ta, chiến thắng ta, và cướp đoạt của ta. Người nào
hằng ôm ấp những tâm niệm như thế thì oán hận không bao giờ ngôi, còn kẻ nào thoát ly được
những tâm niệm ấy thì oán hận áp phải tiêu tan. Do đó, muốn an vui, đừng nuôi dưỡng trong tâm
những tư tưởng xân hẳn. Phật lại dạy thêm rằng, phải giết bỏ xân hẳn, phải tránh xa ngã mạn,
và đoạn lìa mọi gian buộc thì phiền não không thể chi phối được. Nói thế thì những người ôm
ấp tư tưởng xân hẳn là tự họ đang đốt cháy lấy mình bằng chính những tư tưởng xân hẳn đó trước
khi họ chuyển sang hành động để ám hại kẻ khác. Muốn loại những tư tưởng xân hẳn thắp hèn này,
con người phải gian luyện đức tính từ bi thì xả, vì chỉ có lòng từ bi mới xóa bỏ được hận thù.
Có như thế, tâm hồn của chúng ta sẽ cởi mở trong lành và mát dịu, đánh đổ tư tưởng hại người.
Con người vì quá chấp ngã và ngã sợ nên sẵn sàng tiêu diệt hãm hại những kẻ nào đụng đến quyền lợi
và danh dự của mình. Nhưng đức khổng tử có câu, kỳ sở bất rục, vật thi ư nhân, có nghĩa là
cái gì mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác. Thế thì nếu mình biết tự ái, biết lo bảo vệ
hạnh phúc và sự sống của mình thì tại sao không tôn trọng hạnh phúc và sự sinh tồn của kẻ khác.
Vậy nếu ta không muốn đau khổ thì đừng bao giờ tìm hạnh phúc trên sự đau khổ của người khác.
Vì thế, Đức Phật lại dạy rằng, ai ai cũng sợ gươm đau, ai ai cũng đều sợ chết. Do đó,
không nên giết hại và cũng không nên bảo ai giết hại mà nên thực hành tâm hỷ xả bao dung
để diệt trừ tâm niệm hãm hại kẻ khác. Tư tưởng thì vô cùng vô tận nhưng chính Đức Phật đã
gom lại 10 tư tưởng chính để giúp chúng sinh dễ dàng tư duy quán chiếu đó là vô tưởng tưởng.
Thế gian vạn hữu là vô tưởng. Khi chúng ta suy nghĩ sự sinh diệt của thân và tâm là để giải
phóng tư tưởng ra khỏi các vọng chấp tướng. Khổ tưởng. Có thân là có khổ. Sanh khổ, lão khổ,
bệnh khổ, chết khổ và bao nhiêu phiền muộn, bất lợi, uốt ức, phiền não làm cho con người
không được an vui tự tại. Vô ngã tưởng. Không có vật thể nào trên thế gian này mà tự nó có
thể sanh tồn và phát triển mà không cần nhân duyên hòa hợp kể cả cái ta của chúng ta.
Vì thế, vạn hữu là vô ngã. Nhờ suy tưởng như thế mà dần dần chúng ta thoát ra khỏi
chấp ngã và ngã sợ để đi đến chỗ tự tại vô ngãi. Yếm ly thực tưởng. Tư tưởng không vướng bẩn
trong việc mưu sinh. Chính Đức Phật đã dạy các vị tỷ kheo phải tiết độ trong việc ẩm thực. Bởi vì
ăn để sống chứ không phải sống để ăn. Suy nghĩ như thế là để chúng ta không còn lệ thuộc vào vật
chất một cách quá đáng. Thật ra con người từ cổ tri kim, từ đông qua tây có chém giết lẫn nhau cũng
vì miếng cơm manh áo tức là tranh giành ảnh hưởng kinh tế. Như thế chúng ta phải xem ăn uống như là
phương tiện chứ đừng đặt nó là mục đích của cuộc sống. Bởi vì cứu cánh của đời sống phải là
cái gì cao thượng hơn. Dục lạc tưởng đó là tham sân si mà đó là kết quả của vô minh và ái dục.
Ngoài ra Đức Phật cũng dạy rằng chúng sinh bị chi phối bởi 8 pháp thế gian là được lợi,
mất lợi, được danh, mất danh, được khen, bị chê, được vui, bị khổ. Người nào có thể tự mình
giải phóng tư tưởng ra khỏi những căn bản bất thiện trên thì chắc chắn sẽ được tự do giải thoát.
Tử tưởng có sanh tất có ngày chết vì đã thông hiểu ngũ uẩn là không nên con người không tham
sống hay sợ chết. Sống thì an vui tự tại còn chết thì bình thẳng nhẹ nhàng có gì phải sợ.
Đa quá tội tưởng. Đây là nói về thân kiến có nghĩa là quá quý trọng thân xác và bảo vệ nó với
bất cứ giá nào. Chính Đức Phật dạy phải giữ gìn cho thân thể được khỏe mạnh để dễ dàng tu niệm
và phát sanh trí tuệ. Chứ Đức Phật không bao giờ dạy chúng sinh phải quý trọng thân xác của mình bao
giờ. Một người khỏe mạnh có thể hy sinh thân mình cho nghĩa cử vĩ tha cao đẹp. Ngược lại người
quá quý trọng xác thân có thể hãm hại kẻ khác để mình được vinh thân phì ra. Ly tưởng là suốt ly
tăm giấy để được giải thoát rắc ngộ. Diệt tưởng là nuôi hoài bảo tâm niệm tận triệt mọi phiền não
vô ái tưởng. Cuối cùng là giải phóng tư tưởng ra khỏi ái dục. Phật lại dạy rằng ái dục sinh
ra sầu muộn, ái dục sinh ra lo sợ. Người đã hoàn toàn dập tắt được ái dục thì sẽ không còn sầu
muộn và lo sợ nữa. Thật vậy ngày nào tư tưởng của chúng ta còn bị ảnh hưởng ái dục thì ngày đó
chúng ta chưa thể tự tại vô ngại được. Vì sự quan trọng của tư duy nên Kinh Phật cũng có câu
tăm giấy duy tâm, vạn pháp duy thức. Có nghĩa là trong ba cõi dục giấy, sắc giấy và vô sắc giấy
chỉ do tâm mình tạo ra và vạn pháp cũng do thức mình tạo ra mà thôi. Nói tóm lại không có cuộc cách mạng
nào khó khăn cho bằng cuộc cách mạng để giải phóng tư tưởng ra khỏi mọi ràng buộc của ngoại cảnh
cũng như những ô nhiễm từ trong nổi tâm. Vì tư tưởng đòi hỏi nhiều thử thách cam go qua các giai đoạn
phấn đấu để tìm tự do. Khi nào tư tưởng được hoàn toàn tự chủ tức là không còn lệ thuộc vào một sở
trí chướng hay một việc tạo chướng nào thì đó chính là tránh tư duy vậy. Thứ ba tránh ngữ là lời nói
thành thật ngay thẳng công bình và hợp lý. Sau khi Phật dạy cho chúng ta thấy biết đúng rồi tư duy đúng
thì bây giờ Phật mới giới thiệu đến cách nói cho đúng. Thật ra tránh ngữ không phải chỉ giới hạn trong lời
nói chân thật mà còn phải tránh dùng lời pha vu để chia rẽ hay gây bất hòa giữa người này với
người khác. Trái lại chúng ta phải tìm cách đem lại hòa hợp và thông cảm giữa mọi người. Tránh dùng lời
thô lỗ để hạ nhục kẻ khác mà trái lại phải nói lời thanh tao lễ độ để an ủi khuyến khích hay
thuyết phục kẻ khác. Tránh những câu chuyện phiếng vô bổ mà nên nói đúng lúc hợp lý và hữu ích.
Cũng có trường hợp khi chúng ta nói chân thật và lễ độ mà vẫn chạm đến tự ái của kẻ khác khiến cho họ
Phật lòng. Nhưng chúng ta có nói tốt, nói xấu là bởi tại vì mình nghĩ tốt, nghĩ xấu về người đó hay
việc đó. Do đó ý là nhân mà thân khẩu là quả của nó. Vì thế tầm quan trọng này nên tránh ngữ phải
đi sau tránh tư duy. Nếu khen một người nào bởi vì chúng ta đã có ấn tượng tốt về người ấy. Ngược lại
nếu chúng ta muốn chửi người đó thì trong tâm của chúng ta phải ghét họ trước. Do đó lời nói là sản
phẩm phản ảnh những gì trong tâm khảm của chúng ta. Ngày xưa khi Tổ Bồ Đề Đạt Ba vừa đến Trung Quốc.
Ngày vào ý kiến Vua Lương Võ Đế. Vua Lương Võ Đế là một Phật tử tại ra đã thỏ Bồ Tát Giới. Chính nhà
Vua đã xây 480 ngôi chùa rất lớn và khuyến khích khuyên người xuất ra. Đây được xem là thời đại
cực thịch cho Phật giáo ở Trung Hoa. Vì nhà Vua dùng oai quyền và tài lực của mình để xây dựng
ngôi chùa và cúng dường người xuất ra. Vua Lương Võ Đế rất tự hào về việc làm của mình và muốn
khoe với Tổ Bồ Đề Đạt Ma nên hỏi rằng công đức của tôi có lớn không? Tổ là người thật thà đáp rằng
không có công đức gì hết. Vua Lương Võ Đế nghe xong câu này thì không được vui như bị tạt một thao
nước lạnh lên đầu. Rất thất vọng nên nói được rồi tôi sẽ không hổ pháp cho ông. Vì thế sau lần
gặp gỡ này Tổ phải lên chùa Thiếu Lâm ngồi đối mặt vào tường hết 9 năm mới truyền y bát cho Tổ
Thiển Tông Trung Quốc thứ 2 là Tổ Huệ Khả. Giả sử năm xưa Tổ Đạt Ma tùy thuận theo nhân tình mà nói
về Vua Lương Võ Đế là công đức của nhà vua rất lớn thì dĩ nhiên nhà vua rất hoan hỉ hổ pháp
cho Tổ ngay. Nhưng một người chân chính tu hành tuyệt đối không vì danh văn lợi dưỡng mà nói ngược lại
tránh pháp. Mặc dù Vua Lương Võ Đế xây trên 480 ngôi chùa mà vẫn không có công đức là tránh pháp
vì Kinh Phật có dạy rằng cho dù bạn có xây tháp bảy báu khắp hết tam thiên đại thiên thế giới thì
cũng không có công đức gì. Rất tiếc Vua Lương Võ Đế tuy là người rất nhiệt tâm vì Phật giáo nhưng
kiến thức am hiểu về Phật Pháp còn nông cạn nên chẳng những không hiểu lời nói sâu xa của Tổ mà bỏ
mất cơ hội gieo duyên lành với Bậc Thánh. Dựa theo lời nói thì chúng ta có thể thấy các bản ngã của
nhà Vua còn lớn hơn cả nước Tầu. Trong Kinh Kim Cang Phật dạy rằng khi bố thí phải bố thí
vô tướng và khi đổ xanh nên thực hành đổ xanh vô ngã. Nếu bố thí vô tướng và đổ xanh vô ngã
sẽ hạng phục vọng tâm và am chủ được chân tâm. Một khi tâm đã định trí tuệ sẽ phát sinh. Nhà Vua
đổ xanh vì bản ngã làm gì có được công đức. Vì công đức là Pháp vô lẩu thì phải do trí tuệ mà
xanh có nghĩa là phải tự mình tu luyện để được giải thoát giác ngộ. Còn tài vật là Pháp hữu lẩu
tức là Pháp sinh diệt thì thuộc về đạo Phước Đức mà thôi. Càng bố thí cúng dường thì càng nhiều Phước
Đức về sau nhưng nó không giúp cho chúng ta ra khỏi lục đạo luân hồi. Vì việc này Kinh Phật
cũng viết rằng giả linh cúng dường hẳn xa thánh bất như kiên dũng cầu tránh giác. Có nghĩa là nếu cúng dường
chư thánh nhiều như cát sông hàng cũng không bằng kiên quyết dũng bãnh cầu thành Phật. Vì thế muốn liễu
sinh tử tức là thoát khỏi luân hồi thì phải tu và tích lũy công đức mới được. Muốn thực hành tránh
ngữ một cách rốt giáo Đức Phật mô tả lời nói của Bậc Thiện Chi Thức với 5 điều kiện là phát biểu đúng
lúc. Nếu lời nói chân thật mà không phát biểu đúng lúc thì thành ra vô ích. Do đó người Thiện Chi Thức
phải tế nhị áp dụng lời nói của mình cho đúng chỗ đúng lúc hợp với sự thật. Bậc Thiện Chi Thức nói
một lời phải dựa chân sự thật không ngụy biện và không lửa dối. Đem lại lợi ích lời nói phải có mục
đích và ý nghĩa của nó. Cho dù là lời nói thật nhưng không có mục đích đem lại lợi ích cho ai thì đó
cũng chỉ là lời nói nhảm vô ích mà thôi. Thích ứng với lý trí là lời nói phải hợp với đạo lý thì
dĩ nhiên sẽ hợp với lý trí. Hợp với đạo đức thông thường chúng ta thường hiểu chữ thiện là hữu ích
nhưng chân thực tế có lợi ích chưa hẳn đã là thiện. Vì vậy lời nói của Bậc Thiện Chi Thức phải có
lợi ích và hợp với đạo đức nữa. Theo Kinh điển Phật giáo có 10 điều lợi ích và hợp với
đạo đức đáng chú ý là. Nên nói về đức từ bi vì lòng từ bi giúp chúng ta có được tâm hồn vị
tha không tham lam không ích kỷ và không bọn sẹm. Nên nói về đức tính chi túc để giúp chúng ta bỏ
những ước vọng thái quá và sống an vui trong bất cứ hoàn cảnh nào. Nên nói về đức thanh tĩnh để
giúp cho chúng ta có tâm hồn trầm tĩnh trong sạch và tự tại. Nên nói về đức tính độc lập để giúp chúng
ta không xu hướng phe đạn không ủy lại và phát triển đức tự tin. Nên nói về đức tinh tấn để giúp chúng
ta tự bỏ tính biếng nhát do dự và không nhất quyết. Nên nói về giới hạnh vì giới hạnh có khả năng
loại bỏ những thoái hư tật xấu mà đã kết tập từ vô lượng kiếp đến nay. Nói về thiền định vì thiền định
có khả năng tiêu trừ rục vọng bán thủ và phát triển sức mạnh tinh thần. Nên nói về trí tuệ để giúp chúng
ta rèn luyện một tâm hồn trong sáng và phát triển trí năng hầu thấu triệt chân lý. Nên nói về sự
giải thoát giác ngộ vì đây là mục đích cuối cùng của người Phật tử trên đường tận diệt vô minh phiện
não. Nên nói về giải thoát chi kiến có nghĩa là nói đến sự thật chứng của các chư Thánh hay Phật
để giúp chúng ta trên đường tu tập vì tin rằng một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ được giải thoát chi kiến
như thế. Tóm lại, lời nói có một ảnh hưởng vô cùng quan trọng không những đối với đời sống hạnh phúc
của mỗi cá nhân mà còn có thể định đoạt được cả sự át nguy của xã hội. Cho dù có nói như thế nào đi
chăng nữa thì không khi nào chúng ta có thể đạt được trình độ của trái ngữ thật sự vì bị mắc kẹt trong
đa văn. Do đó ngày xưa Đức Phật tuy thuyết giảng 49 năm nhưng sau cùng Ngài phải nói rằng ta không
nói một chữ là vậy. Thứ tư tránh nghiệp là hành động là việc làm chân chính đúng với lẽ phải. Sau khi
đã thấy biết đúng tư duy đúng và nói lời đúng thì Phật mới giới thiệu hành động đúng bởi vì lời
nói phải đi đôi với hành động. Nếu ta nói đúng chắc chắn chúng ta sẽ hành động đúng và ngược lại nếu
nói năng tạ bậy thì trước sau cũng sinh ra những hành động tạ dâm dối trá. Do đó khi đã nói về nghiệp thì
tự nó bao gồm ý khẩu và thân nghiệp. Vì thế khi Đức Phật đưa ra tránh nghiệp Ngài đã nhấn mạnh về
cách thấy biết đúng để có cái suy tư đúng. Từ cái suy tư đúng đó chúng ta nói lời đúng khi
chúng ta đã kiểm soát được khẩu ý thì hành động hay thân sẽ có hành động đúng luôn. Đây là một
kiến trình mà Đức Phật đã vạch ra cho chúng ta theo thứ tự để thấy rõ mà theo. Thí dụ nếu chúng ta muốn
đánh ông A thì trước hết chúng ta phải ghét ông ta tức là ý nghiệp. Sau đó vì từ trong tâm quá
bực tức chúng ta mới bắt đầu chửi bới tức là khẩu nghiệp và sau cùng kèm chế không nổi chúng ta sinh ra
ấu đả với ông A tức là thân nghiệp. Ngược lại nếu chúng ta muốn giúp bà B ý nghiệp thiện sau đó
chúng ta mới bàn tán và tìm cách để giúp bà tức là khẩu nghiệp thiện và sau cùng chúng ta đến
để thực hiện điều tốt đó tức là thân nghiệp thiện. Do đó muốn kiểm soát thân khẩu nghiệp trước tiên
phải hoàn chỉnh ý nghiệp trước vì ý là nhân mà thân khẩu là cái quả của nó. Thật vậy tư tưởng là
cách cội nguồn phát sinh ra tất cả từ thiện nghiệp đến ác nghiệp. Mỗi một giây một phút đã có
bao nhiêu ý tưởng hiện ra trong tâm tư của chúng ta. Thiện có mà bất thiện cũng có. Vì thế tránh tư duy
có công năng giúp cho chúng ta thanh lọc những tư tưởng bất thiện để cho thân khẩu ý được thanh tịnh.
Khi chúng ta niệm Phật hay tư duy quán chiếu tức là Samatha có nghĩa là chỉ thì vọng tưởng sẽ
bị loại bỏ dần dần. Đức Phật đưa ra tránh nghiệp để giúp chúng sinh đến chỗ giải thoát giác ngộ vì
tạo nghiệp tức là còn luân hồi sanh tử tiến trình giải thoát giác ngộ đòi hỏi chúng sinh phải thực
hành tránh nghiệp để tạo ra phước đức công đức vì đó là nền tảng cho việc thoát ly ra khỏi
tam giới. Nên nhớ Phật dạy tránh nghiệp là hành động đúng chứ ngài không bao giờ dạy vô nghiệp có
nghĩa là không làm cái gì hết. Không làm điều thiện thì làm sao tạo ra trong ta những trụng tử thiện
trong a giải gia thức để giúp chúng ta giải thoát. Điều này chứng tỏ đạo Phật không phải là đạo
yếm thế hay tiêu cực như nhiều người đã hiểu lầm. Ngày xưa Ngài Đạo Tín lúc mới 14 tuổi đến đành lễ
và thưa với Tổ Tăng Sán rằng Bạch Hòa Thượng xin Ngài dạy cho con Pháp Bôn giải thoát. Tổ Tăng Sán
nhìn thẳng vào mặt Ngài Đạo Tín hỏi ai chói buộc ngươi? Thưa không ai chói buộc con cả.
Đã không ai chói buộc thì cầu giải thoát làm gì? Ngay đó Ngài Đạo Tín liền ngộ đạo. Dựa vào câu
chuyện trên thì nghiệp được phát suốt từ ý niệm mà ý niệm lại không thật có nên nghiệp cũng không
thật. Thấy nghiệp là thật vì chúng ta còn mê còn bậc giác ngộ thì không thấy có nghiệp nữa.
Nghiệp là cái tạm mỡ giả dối do con người kết tập. Như vậy chúng ta làm chỗ nó chứ nghiệp không thể làm
chỗ con người được. Khi biết được như thế chúng ta chỉ cần buông hết tất cả tập nghiệp chúng ta sẽ được
giải thoát. Mà muốn buông hết tất cả tập nghiệp là phải cố bỏ cho được cái gốc của nó là
ý tưởng từ trong tâm để phát sinh ra cái phân biệt tốt xấu. Ngày xưa khi ngũ tổ Hoàng Nhẫn
biết Lư Huệ Năng đã ngộ đạo liền đợi đến canh ba mà đem y bát truyền lại cho Ngài Huệ Năng để
trở thành tổ thứ sáu và cũng là tổ cuối cùng của thiền tông Trung Hoa. Đây thật là chuyện hy hữu có
một không hai trong đời bởi vì khi Huệ Năng thành tổ Ngài rất trẻ mới vừa ngoài 20 tuổi không biết
chữ nghĩa và không phải là người xuất ra mà chỉ là một cư sĩ. Trong khi đệ tử xuất ra của ngũ tổ có
trên 700 mà người xuất sắc nhất là Ngài Thần Tú lúc bây giờ đã trên 50 tuổi. Chỉ có người ngộ đạo
như tổ Hoàng Nhẫn mới có sự nhận xét và quyết định tinh tế như vậy. Chúng ta là phạm nhân nhìn
người từ hình dáng bề ngoài nên quyết định sai lầm dẫn đến khổ đau còn bậc thánh họ nhìn thẳng vào
thực thánh bên trong tức là trí tuệ bồ đề nên họ rất am nhiên tử tại. Vì sợ đệ tử của mình có ý
ám hải nên ngũ tổ Hoàng Nhẫn dạy lục tổ nên đi về phương Nam tức thì. Khi biết lục tổ Huệ Năng
mới ra đi trong số những đệ tử rất giỏi về võ của Ngài Thần Tú có Ngài Huệ Minh tình nguyện đuổi
theo để giành y và bát trở lại. Lục tổ đi được mấy ngày thì Huệ Minh đuổi kịp. Lục tổ biết mình không
phải đó đối thủ của Huệ Minh nên đẩy y và bát trên tảng đá rồi trốn vào rừng. Huệ Minh đến lấy
nhưng không đỡ nổi y bát nên đành phải kêu hành giả tôi đến đây vì Pháp chứ không phải vì y bát. Lục tổ nghe
thế thì từ từ bước ra nồi trên tảng đá nói rằng nếu ông vì Pháp hãy bình tâm lại nghe tôi nói. Huệ
Minh yên lặng lắng nghe khi không nghĩ thiện không nghĩ ác cái gì là bản lai diện mục của Thượng Tọa
Minh. Huệ Minh nghe câu này liền đại ngộ bản là xưa lai là nay còn diện mục là mặt mày vì
thế bản lai diện mục là mặt mày thật xưa nay của con người có nghĩa là chân tâm hay Phật tánh vậy.
Do đó bản lai diện mục là gương mặt thật sẵn có muôn đời của tất cả mọi người. Khi chúng ta
không nghĩ thiện không nghĩ ác thì nó sẽ hiện ra. Không nghĩ ác thì đã đành còn nghĩ lành nghĩ tốt tại
sao lại không? Vì nghĩ lành cũng là suy nghĩ mà đã suy nghĩ dù thiện hay ác cũng đều là khởi niệm mà đã
là khởi niệm thì vọng động sẽ sanh làm mất cái chân thật của mình. Nếu tâm không còn khởi động niệm
thì cái chân thật tức là chân tâm hay Phật tánh mới hiện bảy. Nếu chúng ta không nghĩ cho dù thiện ác
thì không tạo nghiệp. Không tạo nghiệp là lìa sanh tử và chặt đứt dây luân hồi. Đây chính là con đường
lĩu sanh thoát tử. Lý do chúng ta chầm luôn là tại vì chúng ta quên bỏ cái Phật tánh sẵn có mà chạy
theo vọng tưởng. Khi nào chúng ta trở về với cái Phật tánh này tức là bản lai diện mục thì thân khẩu
ý sẽ hoàn toàn thanh tĩnh. Thêm nữa thiện và ác trong thế gian này luôn luôn ở trong tính tương đối
có nghĩa là từ thiện chuyển sang ác và ngược lại rất dễ dàng. Nếu con người không nỗ lực
làm việc thiện hay làm việc thiện mà không dựa trên căn bản vô ngã độ xanh. Chẳng hạn như đi
chùa nghe Pháp là việc thiện nhưng nếu rổ rê mà người hàng xóm không muốn đi làm chúng ta tức giận
đâm ra không ưa thích họ nữa thì từ thiện chuyển sang bất thiện. Một thí dụ khác là thấy cái hàng
giàu của người hàng xóm hư chúng ta đến giúp nhưng chỗ nhà không tế nhị làm cho tâm ta không vui. Thế
thì cái ý niệm thiện ban đầu được thay bằng những ý niệm xấu. Do đó chẳng những chúng ta không
tạo thêm phước thiện mà còn gánh thêm buồn phiền đau khổ. Nhưng nếu áp dụng triệt để độ xanh
vô ngã có nghĩa là giúp người mà không cần quả báo thì lúc nào tâm ta cũng an vui, thanh tịnh.
Vậy trái nghiệp giúp chúng ta kiến tạo rất nhiều phước đức cũng như công đức để tăng trưởng đạo
đức cho chính mình. Và đây chính là những mảnh lực có công năng giúp chúng ta đi đến giải thoát
giác ngộ viên mãn. Thứ năm Tránh mạng là sống bằng nghệ nghiệp lương thiện. Sở dĩ bát tránh đạo
có giá trị rất cao là vì Đức Phật đã sắp xếp theo thứ tự phần này bổ túc cho phần kia. Sau khi
Đức Phật dẫn dắt chúng ta thấy rõ ràng về trái nghiệp để chúng sinh có cơ hội gây dựng thiệt nghiệp
mà tạo phước đức cho mình. Bây giờ Phật mới nói tránh mạng. Sống trong đời ai cũng cần có
cái nghề để nuôi thân. Nhưng có nghề thì hằng ngày con người có nhiều cơ hội để tạo thiện nghiệp
tức là tạo phước. Ngược lại cũng có những nghề mà càng làm họ càng lốn sâu vào con đường tội lỗi.
Thí dụ như nghề giáo, nghề y khoa, nghề bán thực phẩm hay kiến tạo nhà cửa, đường xá, cầu cống.
Càng làm họ càng thêm phước trừ khi họ không thật tâm với nghề nghiệp của họ. Những nghề như vũ trường,
quán rượu, sòng bài, v.v. thì càng làm càng gây nhiều tội lỗi. Nói chung, nghề nghiệp cũng là do phước
đức của đời trước đưa đến mà thôi. Kẻ có phước thì có việc làm dễ dàng, dư ăn dư đẻ và có cơ hội
để tạo thêm phước đức cho mai sau. Còn kẻ thiếu đức thì có việc làm khó khăn, không giàu có và dĩ nhiên
nghề nghiệp không tạo thêm phước đức cho họ về sau. Nếu nhìn kỹ thì cơ hội để tạo thiện nghiệp trong tránh
nghiệp không nhiều. Nhưng trong tránh mạng con người có nhiều cơ hội để tăng trưởng phước đức của họ
hằng ngày. Nhiều nghề mà càng làm thì phước đức càng lớn. Thành thử đời sau, những phước đức này sẽ
mang lại sự giàu có, thịnh vượng cho họ. Vì thế, nghề nghiệp tốt cũng là phương cách tu phước hữu hiểu nhất.
Nên nhớ rằng, phước đức mà chúng ta nhận ở đời này là quả mà do thiện nghiệp chúng ta tạo ra ở đời trước.
Tất cả sự bố thí, cúng dường và cứu giúp người hoạn nạn sẽ đem lại sự giàu có, thông minh và trường thọ
trong đời này cho chúng ta. Nói thế, không ai có thể phủ nhận rằng đảo Phật là con đường chân chính,
luôn luôn hướng dẫn con người tu theo tránh đảo để có cuộc sống an vui tự tại. Hằng ngày chúng ta tu phước,
làm thiện, nhưng phước đức thật sự có đem lại hạnh phúc cho chúng ta không? Nên nhớ, phước là do bố thí,
cúng dường hay làm việc tốt cho chúng sinh mà có, còn đức là cái tốt của tự tâm. Một người rất giàu có mà thiếu đảo đức,
nhân cách, có nghĩa là họ có rất nhiều phước mà thiếu đức, thì sự giàu có này sẽ là những phương tiện để đưa họ đi mau
vào con đường xa đoạ, tội lỗi. Ví cũng như là một cái ly, và nước ở trong đó. Cái ly là đức,
còn nước chính là phước. Nếu đức tròn và phước đổ thì cuộc sống sẽ rất an vui tự tại. Ví cũng như nước chỉ nằm trong cái ly
thì nước sẽ không tràn ra ngoài, có nghĩa là giàu cho có nhiều tiền bạc nhưng họ vẫn sống cuộc đời thanh cao, đạo hạnh.
Dùng phước cũ để tạo thêm phước mới là người chí, là người tu Phật. Người đức đổ thì nhìn sự giàu có chỉ là phương tiện
của cuộc sống, chứ không chạy theo dục vọng, làm cho họ dễ bị xa ngã. Ngược lại, nếu phước to mà đức kém thì cuộc sống sẽ điên đảo đau thương.
Ví cũng như nước nhiều quá sẽ tràn ra ngoài cái ly, có nghĩa là phước có dư đổ mà đức thì không tăng, làm cho cuộc sống thiếu thăng bằng.
Thí dụ hiện nay ở Việt Nam có nhiều người vì thời thế mà trở thành rất giàu có, có rất nhiều tiền mà nhân cách và đạo đức không tăng trưởng,
khiến họ xa đoạ vào những chỗ ăn chơi chát tán, làm cho gia đình tan nát. Như thế thì phước không thật sự đem lại hạnh phúc, an vui cho con người nếu đạo đức của họ không tăng trưởng.
Thứ sáu, tránh tinh tấn là chuyên cần siêng năng cũng như chuẩn bị tinh thần để giúp chúng ta đi sâu vào thiền định.
Tránh tinh tấn là cánh cửa để tiến đến chỗ giải thoát giác ngộ. Trước khi chúng ta đi sâu vào thiền định để được siêu thoát thì trước hết đức Phật muốn chúng sinh phải có cuộc sống đạo đức thánh thiện.
Năm phần đầu từ tránh khiến đến tránh bạc đã giúp cho chúng ta đạt đến mục tiêu này. Tại sao? Nếu chúng sinh muốn đạt đến trình độ thiền định cao, trước hết họ phải có một đời sống thánh thiện.
Bởi vì nếu có cuộc sống thánh thiện thì đây là chất liệu để giúp cho họ tu cho tâm được thanh tịnh. Và ngược lại, khi đã đi sâu vào thiền định, tức là tâm được thanh tịnh,
thì sẽ hỗ trợ cho họ có cuộc sống càng thêm thánh thiện.
Thứ bảy, tránh niệm là ghi nhớ những đạo lý chân chính. Tránh niệm thanh tịnh hóa thân tâm bằng cách ngăn chặn và diệt trừ tâm tà và phát triển cũng như vun bồi tâm tránh.
Vì thế, tránh niệm có nghĩa là sửa cái tâm cho nó đi theo con đường tránh, mà còn được gọi là thiền quán.
Trong khi sự thực hành thiền định chuyên trú, tránh niệm có thể đi theo mọi biến đổi của tâm.
Chúng ta không nên để tâm mình đi bất cứ nơi nào, không gửi tâm vào thế giới mộng tưởng, cũng không đưa tâm về quá khứ hay tương lai.
Đức Phật đã vĩ thời gian như sau, quá khứ như giấc mộng, tương lai như ảo ảnh, hiện tại như đám mây.
Nói như thế, trong khi tâm chạy qua chạy lại giữa các giấc mộng, ảo ảnh và các đám mây, chúng ta có thể tu tập tránh niệm để đem tâm trở về và làm cho tâm ra khỏi những dấu ghen trong đời sống hàng ngày.
Chẳng hạn như chỉ khi nào chúng ta thấy được rục vọng thiêu đốt người đám say nó như thế nào, chúng ta mới thấy rục vọng là đáng từ bỏ.
Tránh niệm cũng có trách nhiệm cảnh giác chúng ta trong lúc giận dữ để quay tâm sang những ý niệm chân chính khác.
Chính tránh niệm báo trước cho chúng ta một tình trạng mà giận dữ sắp sinh khởi để có thể chuyển tình trạng ấy qua một bên, làm cho tâm được an lành.
Do đó, Phật giáo luôn luôn kêu gọi con người hãy đạt cho được sự thanh bình trong tâm của chính mình trước, sau đó tự nhiên thanh bình của thế giới sẽ đến theo.
Con người hàng ngày luôn chạy theo vọng tưởng vì chúng ta quên tránh niệm, lục rục thất tình lôi cuốn tâm của chúng ta chạy theo nó.
Vì thế, tránh niệm lúc nào cũng có thể đưa con người trở về với tránh đảo.
Dựa theo hán tử, chữ niệm là sự tổng hợp của chữ kim ở phía trên và chữ tâm ở phía dưới, cho nên niệm có nghĩa là bây giờ hãy giữ tâm của mình theo đúng tránh đảo.
Không những chính Đức Phật đã thấy tầm quan trọng sâu xa của tránh niệm mà ngay cả Đức Khổng Tử cũng nói rằng,
Nhất nhật, bất niệm thiện, chư ác dai tự khởi, có nghĩa là một ngày mà không nghĩ đến việc thiện thì mọi việc ác sẽ nổi lên.
Mặc dù ngày nay các cuộc hành trình để đưa con người ra ngoài không gian và đến mặt trăng hay những hành tinh xa xôi khác được thực hiện một cách dễ dàng,
nhưng con đường đi đến Niết Bàn vẫn còn xa xôi và cần rất nhiều nỗ lực.
Nhưng nếu con đường chúng ta đi có khi buồn tẻ thì tránh niệm sẽ là ánh sáng êm dịu, hướng dẫn tốt nhất để giúp cho con người sống an vui tự tại trong đời này.
Tránh niệm còn được gọi là thiền quán có nghĩa là phát sinh trí tuệ mà phạn ngữ gọi là tam ma bát đẻ.
Chánh định
Khi chúng ta mở toan sáu cánh cửa thì gió bên ngoài thổi vào làm giao động ngọn đèn trên bảng.
Khi ngọn đèn bị giao động ánh đèn không tỏ, lưu mở.
Con người cũng thế.
Nếu chúng ta để cho lục can tha hồ tiếp xúc với lục trần thì vọng tưởng tự do tràn vào xâm chiếm và quậy phá thanh tâm của chúng ta.
Khi tâm chưa đầy vọng tưởng thì tham sân si giấy lên.
Và đây là nguyên nhân làm cho con người đau khổ.
Đèn tâm bị lưu mở có nghĩa là tâm bị giao động thì chúng ta không thể thấy rõ được bản chất chân thật của đối tượng.
Vì thế muốn đánh tan vọng tưởng để tâm được ổn định tức là an tâm.
Thì tránh định sẽ giúp cho chúng ta đào luyện tâm định để thấy rõ được bản chất thật của đối tượng mà đào thải nó.
Vì thế tránh định còn được gọi là thiền chỉ.
Có nghĩa là rừng mà tiếng Phạn gọi là Samatha.
Ngày xưa Đức Phật nhờ thiền định mà được giác ngộ.
Vì thế thiền định là cốt nhìn lại tức là phản quang tự kỷ để tìm cho ra con người thật của chính mình.
Một khi đã lăng hết tâm tư để thấy con người thật ấy.
Con người vì lăn lộn trong sinh hoạt hàng ngày làm cho hao tổn tinh thần.
Nếu bây giờ ngồi lại cho tinh thần sáng suốt thì mới nhìn thấy mọi hiện tượng một cách chính xác.
Có thiền định mới mong trí tuệ được phát sinh để tiến đến chỗ giải thoát giác ngộ.
Mà muốn đạt đến tránh định thì phải trải qua 4 cấp thiền và lên trên nữa là 4 tầng định.
Tứ thiền gồm có sơ thiền còn được gọi là ly xanh hỷ lạc có nghĩa là lìa ái dục mà được vui.
Khi biết ái dục như là thứ diệu độc làm cho người ngu mê say xưa đến chết
thì tìm cầu ái dục rất khổ sở, khó nhọc mà mất lại quá dễ.
Người mê theo ái dục chẳng khác nào như con thiêu thân nhảy vào lửa.
Như lửa gặp cổi càng nhiều càng cháy mạnh.
Thế cho nên khi biết ái dục là độc hại thì sơ thiền sẽ giúp hành giả tiêu diệt lửa ái dục này.
Khi định được sơ thiền, tức là lìa xa được ngọt lửa ái dục,
thì cái vui sẽ đến, người ấy sẽ có vẻ mặt vui tươi, mắt không đắm sắc.
Do thần đức thiền định nên không tham danh lợi, phá tan kiêu mạn,
tánh nết như hòa, không ôm lòng độc hại, không có sân tham tật đố,
bàn luận không tranh hơn thua, nói năng dễ dãi, hòa nhã,
ý thường vui vẻ, ăn uống không mê mùi vị.
Dù khổ, dù vui, tâm không sao động, không oán thủ cạnh tranh.
Nếu ai có những đức tính như thế là biết người đó đã chứng được sơ thiền.
Nhị thiền còn được gọi là định sanh hỷ lạc,
có nghĩa là do tâm được an định thì tự nhiên thấy vui,
vì tránh xa được ái dục nên chúng ta vui mừng.
Nhưng chính sự vui mừng này làm cho tâm giao động,
và như thế cần phải vào định mới diệt trừ nó được.
Một khi định có kết quả thì các giao động ở tâm đã chấm dứt
và tâm bắt đầu phát sinh cái vui vi tế.
Tam thiền còn được gọi là ly hỉ diệu lạc.
Mặc dù cái vui là vi tế nhưng vẫn làm cho tâm rung động.
Một khi chúng ta loại bỏ thành công cái vui vi tế này
thì một niềm vui nhiệm màu khác hiện ra mà được gọi là diệu lạc.
Tứ thiền hay là xả niệm thanh tịnh,
có nghĩa là niệm vừa dây lên liền buông xuống,
do buông tất cả ý niệm để tâm được yên
nên mới gọi là xả niệm thanh tịnh.
Khi đã qua được tứ thiền thì tâm của chúng ta lúc này hoàn toàn thanh tịnh.
Nếu muốn đi lên chúng ta có thể đi vào tứ không định,
có nghĩa là khi vào bốn cái yên tịnh này
chúng ta không còn thấy có cảnh hay tâm thức nữa.
Tứ không định vòm có.
Không vô biên sứ chúng ta dùng tưởng chống không,
tức là từ chống không nhỏ tới chống không lớn
và dần dần đến vô cùng, vô tận.
Thức vô biên sứ.
Bây giờ chúng ta bỏ cái không đó
mà quay lại quán thức phân biệt của mình.
Biết thức phân biệt không có tướng mạo
từ phân biệt thân đến phân biệt tâm
và dần dần ra khắp hết vô cùng, vô tận.
Vô sở hữu sứ.
Sau đó tưởng thân tâm không có gì hết,
rỗng tách không chỗ nơi thì chứng được.
Phi tưởng phi phi tưởng.
Dù chúng ta tưởng thân tâm là rỗng tách
nhưng đây vẫn là tưởng.
Sau cùng tiến lên đến chỗ không có tưởng
mà không phải không tưởng.
Đến đây không còn tưởng thô, tưởng không,
tưởng thức mà chỉ có tưởng vi tế
tức là tưởng rỗng tách.
Còn các tưởng đó cũng phải bỏ
mới qua diệt tận định.
Người tu thiền không mắc kẹt ở sơ thiền,
nhị thiền, tam thiền
mà có thể đi thẳng vào tứ thiền
tức là xả niệm thanh tịnh.
Xả niệm thanh tịnh rồi tiếp tục tiến thẳng
lên diệt tận định chứ không qua ngã tứ không định.
Như vậy chỉ một bước buông niệm
là thẳng tới diệt tận định
hay còn gọi là diệt thỏ tưởng định
để chứng vô sanh tức quả A-la-hán.
Trong kinh A-hàm có kể một câu chuyện như sau.
Một hôm có vị tỷ kheo đi khất thực về.
Sau khi thỏ thực xong,
Ngài vào rừng ngồi nhập định.
Khi ấy có mấy người tiểu phu đi ngang qua
thấy Ngài ngồi bất động đến giờ lỗ mũi
thì biết Ngài không còn thở nữa.
Họ cho là Ngài đã chết
nên động lòng thương
bèn đi kiếm củi dồn lại
và đốt lửa lên thiêu.
Hôm sau họ gặp lại vị tỷ kheo ấy đi khất thực
khi nhận ra y của Ngài bị cháy khá nhiều.
Chỉ còn cái viền là không cháy.
Lấy làm lạ họ hỏi ra
mới biết lúc đó Ngài đang nhập diệt tận định.
Như vậy khi nhập diệt tận định
thì không còn hơi thở
và thân thể chỉ còn hơi ấm mà thôi.
Lúc đó thân như đá như cây
ai làm gì cũng không hay biết.
Lúc thiền gia muốn xả ra thì xả.
Thời gian nhập diệt tận định
có khi cả mấy chục năm hoặc mấy trăm năm.
Đây là định của tiểu thừa
tức là khi nhập định
con người quên hết mọi chuyện bên ngoài.
Còn đại thừa thì chủ trương khi đi,
đứng, nằm, ngồi
mà lúc nào cũng an nhiên tự tại
tức là đừng để tâm chạy theo vọng tưởng.
Khi vọng tưởng dây lên thì biết
và khi vọng tưởng lắng xuống thì cũng biết.
Hết vọng tưởng
tâm định bất luận chúng ta làm gì và ở đâu.
Chính lục tổ huệ năng ngày xưa
nếu thấy vị tăng nào ngồi thiền là Ngài của.
Ngài bảo phải thiền trong mọi sinh hoạt hằng ngày
mới thật sự mang lại thanh tịnh thường trụ trong tâm.
Đây là sự khác biệt
giữa định tiểu thừa
và định đại thừa.
Xét về phương diện phẩm chất
thì vũ trụ chia làm 3 từng bậc cao thấp khác nhau
mà chúng ta gọi là Tam Giới
đó là Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới.
Thứ nhất
Dục Giới là cõi của loài hữu tình chưa xa lìa được Dâm Dục
và Thực Dục.
Trong Dục Giới có tất cả 6 loài chúng sinh
là Thiên tức là cõi trời
Nhân tức là cõi người
Atula tức là cõi thần
Xúc Xanh, Ngạ Quỷ và Địa Ngục.
Thứ hai
Sắc Giới là cõi của loài hữu tình
có hình sắc tốt đẹp
và đã rời bỏ được Dâm Dục và Thực Dục
trong cõi này có 4 từng
tùy theo khả năng đi sâu vào thiền định
mà chứng được.
Sơ Thiền tức là ly xanh hỷ lạc
có nghĩa là khi thiền giả
phá được tất cả tham, sân, si
dập tắt lửa ác Dục
thì vào được cõi này.
Nhị Thiền là định sinh hỷ lạc
tức là sau khi diệt được Dục
thì tâm được vui
nhưng phải vào sâu trong thiền định
để phá cái vui này
để chỉ còn cái vui vi tế mà thôi.
Tam Thiền là ly hỷ diệu lạc
tức là cố gắng vào sâu trong thiền định
để loại luôn cái vui vi tế
để tâm hoàn toàn an tĩnh.
Tứ Thiền là xả niệm thanh tịnh
tức là niệm vừa dây lên
tức thì dùng thiền quán mà xả bỏ luôn.
Đây là cõi cao nhất trong sắc giới
và cũng là cõi hoàn toàn thanh tịnh.
Thứ ba, Vô Sắc Giới
là cõi không có hình sắc.
Các loại hữu tịnh sinh trong cõi này
chỉ có tâm thức mà thôi
chứ không có hình sắc.
Cõi này cũng chia làm 4 bật cao thấp
của Tứ Không Định
đó là không vô biên sứ
tức vô biên sứ
vô sở hữu sứ
và phi tưởng phi phi tưởng sứ.
Vô Sắc Giới là cõi của hư vô
mà Tứ Không Định là đi theo thiền của ngoại đạo.
Vì thế, trong Phật Giáo
chính Đức Phật đã khuyên đệ tử của Ngài
không đi hướng này
mà sau khi đạt đến Tứ Thiền
thì đi thẳng vào Diệt Thọ Định
hay Diệt Thọ Tưởng Định
mà chứng quả A-La-Hán.
Nếu thiền giả ham mê
mà vào sâu trong Tứ Không Định
sẽ dễ dàng lạc vào ma cảnh
và trở thành khùng điên
mất trí.
Chính Bát Tránh Đạo là con đường giải thoát
duy nhất ra khỏi vòng sinh tử
cho nên Đức Phật lại dạy rằng
con đường cao thượng nhất
là Bát Tránh Đạo
chân lý cao thượng nhất
là Tứ Diệu Đế.
Đó là con đường duy nhất
không còn con đường nào khác
dẫn đến kiến tỉnh.
Hãy đi theo con đường ấy
để sớm thoát khỏi mọi điên đảo
của phiền não khổ đau.
Sống trong điên đảo và phiền não khổ đau
là vòng trầm luôn khổ hãi
mà chỉ có Bát Tránh Đạo
mới trừ diệt được.
Con đường trung đạo này
không thể nào tìm thấy trong bất cứ giáo lý nào
ngoài Đạo Phật.
Chính Đức Phật đã dạy
Đại Đức Tu Bạc Đà La
trước khi Ngài nhập diệt
không thể có được
Bậc Thánh Tu Đà Hoàng
Tu Đà Hàm, A Na Hàm
và A La Hán
trong bất cứ một tôn giáo nào
nếu không có Bát Tránh Đạo.
Này Tu Bạc Đà La
trong giáo lý nào
có Bát Tránh Đạo thì tất có hàng thái nhân.
Ở đây
trong giáo lý của Như Lai
lại có con đường Bát Tránh.
Tất nhiên
phải có các Bậc Thánh
mà trong giáo lý khác không thể có được.
Nếu chư đệ tử sống chân tránh
thì thế gian không thiếu thái nhân.
Tóm lại
Bát Tránh Đạo là con đường chân chính
có công năng chuyển hóa con người
từ tà sang tránh
và cũng là phương thức thực tiễn
để cải cách con người
từ thân tới tâm
và dẫn đến trí tuệ giải thoát.
Thêm nữa, Bát Tránh Đạo
được xem như một sợi dây thừng lớn
được kết bởi 8 sợi dây nhỏ.
Nếu đem phân tách ra
thì tuy thấy có 8
nhưng thật sự chỉ có 1
vì 8 sợi dây nhỏ ấy
liên quan mặt thiết với nhau.
Thiếu 1
thì không thành sợi dây được.
Trong Bát Tránh Đạo
tránh kiến là quan trọng nhất
vì sự thấy biết
đúng dẫn đến suy tư
và hành động đúng về sao.
Chẳng hạn như thấy sợi dây
nằm cong queo dưới đất
mà cho là con rắn
thì chúng ta đã thấy sai.
Khi đã thấy sai, dĩ nhiên
bản chất tự nhiên sẽ khiến chúng ta
nghĩ sai, nói sai
và làm sai.
Đức Phật sở dĩ thành Phật
là vì Ngài thấy đúng.
Còn chư Bồ Tát sắp đạp đến quả vị Phật
là vì các Ngài tập thấy đúng
và dần dần thấy đúng
cho tới mức triệt đẻ.
