HOÀNG THÀNH THĂNG LONG - DẤU ẤN LỊCH SỬ

Đình Sự
540 người theo dõi
Xuyên suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, từ buổi đầu thời Phong Kiến tự chủ,
Thăng Long, Hà Nội luôn có một vị trí rất trọng yếu.
Trong hơn 778 năm, từ tháng 8 năm 1010 đến tháng 2 năm 1789,
Thăng Long là kinh đô, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục của cả nước.
Nơi đây có các cơ quan đầu não của nhà nước Phong Kiến Đại Việt qua các chiều
Lý, Trần, Lê Sơ, Mạc và Lê Trịnh.
Sang đầu thời Nguyễn, Thăng Long từ vị trí kinh thành đã chuyển thành vị thế chấn thành,
nên vẫn được coi là đơn vị hành chính đặc biệt.
Vào năm 1009, Lý Công Nguồn lên ngôi hoàng đế.
Ông thấy Hoa Lư, nay thuộc Ninh Bình, là một nơi chật hẹp nhiều núi đá,
kinh tế nông công thường còn thấp kém, giao thông vận tải khó khăn.
Nơi đây chỉ thích hợp khi thời chiến và thế nước đang còn yếu,
nên hạn chế sự phát triển lâu dài của đất nước.
Khác với Hoa Lư, Lý Công Nguồn nhận thấy Đại La, Thăng Long, Hà Nội ngày nay
có nhiều ưu điểm rất thuận lợi cho phát triển đất nước lâu dài.
Bởi vậy, công việc lớn đầu tiên là rời đô ra Đại La.
Đầu năm 1010, nhà vua viết chiếu rời đô.
Bài chiếu có đoạn như sau
Chỉ muốn đóng đô ở trung tâm miêu toan nghiệp lớn,
tính kế muôn đời cho con cháu, trên vầng mệnh trời,
dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi,
cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh,
được cái thế rồng cuộn hổ ngồi, đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây,
lại tiện hướng nhìn sông dựa núi, địa thế rộng mà bằng,
đất đai cao mà thoáng, dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt,
muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi.
Xem khắp đất Việt, chỉ nơi này là thắng địa,
thật là chỗ tụ hội chọc yếu của bốn phương đất nước,
cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.
Hà Nội ngày nay còn bảo lưu được một số di tích của Thăng Long xưa,
như Thăng Long Tứ Trấn, những di tích Hoàng Thành Cửa Âu.
Theo sử sách, Kinh Thành Thăng Long xưa có diện tích khoảng trên dưới 140 hectare,
được xây dựng trên một tổng thể kiến trúc chặt chẽ khoa học.
Thành Thăng Long Hồm, vòng ngoài cùng gọi là La Thành hay Kinh Thành.
Vòng Thành thứ hai, ở giữa là Hoàng Thành,
là nơi ở và làm việc của các quan lại trong chiều.
Thành nhỏ nhất ở trong cùng là Tử Cấm Thành,
nơi chỉ dành riêng cho vua, hoàng hậu và số ít cung tần mỹ nữ.
Trải qua nhiều biến thiên lịch sử,
trung tâm Hoàng Thành Thăng Long nay chỉ còn lại một số công trình,
như Niền Điện Kính Thiên, Đoàn Môn Hậu Lâu.
Hoàng Thành Thăng Long là một ví dụ điển hình
về sự giao lưu văn hóa và còn các giá trị nhân vật khác.
Qua đó có sự hấp thụ ảnh hưởng văn hóa của các nước ở Đông Nam Á và Đông Bắc Á.
Tại khu di tích, có lưu giữ rất nhiều di tích kiến trúc và di vật khảo cổ học.
Với những đợt khai quật, đã tìm thấy tầng văn hóa dày từ độ sâu hơn 1m đến hơn 4m.
Các tầng văn hóa thuộc nhiều thời kỳ khác nhau, đối tiếp trồng xếp lên nhau
từ khoảng thời Đại La thế kỳ VII đến thế kỷ IX,
qua thời Đinh, Tiền Lê đến thời Lý, Trần, Hậu Lê và đầu thời Nguyễn.
Phức hệ di tích gồm di tích trên mặt đất và di tích dưới lồng đất.
Trên mặt đất còn cột cờ Đoàn Môn, Niền Điện Kính Thiên, Bắc Môn.
Dưới lồng đất, bước đầu xác định được khoảng trên 160 di tích các loại.
Qua mỗi thời kỳ, các di vật có những đặc trưng riêng.
Những di tích di vật được phát lộ tại khu trung tâm Hoàng Thành Thăng Long
bao gồm tầng trên là một phần của trung tâm Tòa Thành tỉnh Hà Nội thế kỷ XIX,
dưới đó là dấu tích cung điện nhà Lý và nhà Trần,
tiếp theo là một phần trung tâm của Đông Cung nhà Lê,
phần dưới cùng là phần phía đông của thành Đại La thời Cao Biển,
nhiều di vật thuộc thời nhà Đường Trung Quốc.
Các di tích và các tầng văn hóa xếp trồng lên nhau liên tục qua nhiều thời kỳ lịch sử.
Hệ thống dấu tích của nền móng kiến trúc khá kiên cố,
có kiến trúc rộng hàng nghìn mét quương,
được suy đoán là những công trình thuộc Hoàng Cung thời Lý, Trần và Lê.
Các dấu tích này phù hợp với nhiều điều được sử phụ ghi lại,
đó là các cung điện, lầu gác, chùa quán được xếp quan điện cả nguyên thời Lý,
sau đổi tên là Điện Kính Thiên.
Quá trình tiếp nối liên tục của nhiều triều đại tại đây
còn được thể hiện rõ qua việc thời sau sử dụng lại một phần nguyên vật liệu xây dựng của thời trước.
Tại đây, tìm thấy 11 chiếng nước cổ có niên đại từ thời Cao Biển
tới thời Lê Nguyễn xuyên suốt hơn 1.000 năm.
Những di vật tiền su, con niên đại từ thời Lê Sơ,
nhiều di vật gốm xứ và nhiều đồ dùng sinh hoạt khác
đã phản ánh khá sinh động những nét sinh hoạt của các bậc vương giả trong Hoàng Thành.
Năm 1983, các nhà khảo cổ đã phát hiện khu di tích với hàng nghìn di vật vũ khí.
Đây là tư liệu quý bổ sung làm rõ hơn diện mạo của kinh thành Thăng Long xưa.
Tại đây, từng có giảng võ trường là một trường luyện binh
có quy mô bề thế không kém văn trường ở văn miều quốc từ Giám.
Nhiều di vật trang trí tìm thấy tại khu Hoàng Thành
có niên đại thế kỷ thứ 7 thời Cao Biển đã khá đẹp
đến thời Lý, Trần, Lê, nghệ thuật trang trí đã đạt đến trình độ cao hơn.
Khởi nguồn từ thời Đinh Lê,
nghệ thuật thời Lý đã đạt đến đỉnh điểm của tình mỹ và quy phạm,
nghệ thuật thời Trần khiến về khỏe mạnh, phóng khoáng,
nghệ thuật thời Lê có nhịp độ thay đổi nhanh,
tuy đơn giản hơn trước nhưng lại phong phú về đề tài.
Tại đây, cũng tìm thấy gốm chăm gạch Việt
có chữ chăm cổ phản ánh sống động mối quan hệ Việt-Chăm lâu dài trong lịch sử.
Trong đó, có nhiều loại được sản xuất tại Ngày Hoàng Cung,
nhiều loại được làm tại Hải Dương,
nhiều loại thuộc hàng gốm sứ cao cấp của Trung Quốc
từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 19
và gốm sứ cao cấp của Nhật Bản nửa cuối thế kỷ 17.
Ngoài ra, các nhà khảo cổ có tìm thấy nhiều mảnh gốm có xuất sứ từ Trung Đông.
Riêng gốm Việt Nam có nhiều chủng loại, dáng đẹp,
được tráng nhiều loại men độc đáo như men ngọc, men ảnh thanh, men xanh lục,
được trang trí hoa văn đẹp, cầu kỳ, sống động, thuần chất Việt.
Gốm sứ tìm thấy ở đây đã cho thấy,
ngay từ thời Lý đã đạt đến trình độ tinh xảo rất cao,
không thua kém gốm sứ cao cấp của bất cứ nước nào trong khu vực.
Các di tích di vật được phát lộ tại trung tâm Hoàng Thành
đã phần nào phản ánh được những nét tiêu biểu đặc sắc
của văn hóa đồng bằng Bắc Bộ thuộc lưu vực Sông Hồng,
có sự hấp thụ ảnh hưởng và giao lưu với các vùng biển trong nước và thế giới.
Đặc biệt, khu di tích trung tâm Hoàng Thành
đã thể hiện rõ những giá trị lịch sử bởi 3 đặc điểm nổi bật như sau.
Chiều dài lịch sử văn hóa, tính liên tục của tài sản
với tương cách là một trung tâm quyền lực
với các tầng di tích di vật đa dạng phong phú.
Ngày nay, những dấu ấn di sản mà tiền nhân để lại
đã trở thành nguồn động lực to lớn cho Hà Nội vững bước
trong thời đại trí thức và sáng tạo,
để Thắng Long Hà Nội mãi mãi là biểu tượng dặn dỡ của đất nước Việt Nam.
