Nghe Full: https://ganjing.b3355.xyz/s/O3Qyanm8jW Ebook PDF Q1: http://e.pc.cd/832y6alK Bìa Q1: http://e.pc.cd/ra2y6alK -- Ebook Q2: http://e.pc.cd/Wa2y6alK Bìa Q2: http://e.pc.cd/9NQy6alK ----- File In: http://e.pc.cd/EEuy6alK ----- Cuốn sách này sẽ liệt kê phân tích rõ Trung Cộng đã tiến hành thay thế văn hóa truyền thống một cách hệ thống như thế nào, đã tiến hành cải tạo tư tưởng một cách hệ thống ra sao, sử dụng thủ đoạn truyền bá như thế nào, cho đến biểu hiện của những người sau khi bị cải tạo tư tưởng, v.v.. ----- Tự luận Chương 1: Thay thế Văn hóa Truyền thống một cách hệ thống Chương 2: Cải tạo tư tưởng một cách hệ thống (phần 1) Chương 2: Cải tạo tư tưởng một cách hệ thống (phần 2) Chương 2: Cải tạo tư tưởng một cách hệ thống (phần 3) Chương 3: Các thủ đoạn nhồi nhét (phần 1) Chương 3: Các thủ đoạn nhồi nhét (phần 2) Chương 3: Các thủ đoạn nhồi nhét (phần 3) Chương 4: Biểu hiện của người ta sau khi bị cải tạo tư tưởng (phần 1) Chương 4: Biểu hiện của người ta sau khi bị cải tạo tư tưởng (phần 2) Chương 5: Biểu hiện thường thấy của Văn hóa đảng trong tuyên truyền (phần 1) Chương 5: Biểu hiện thường thấy của văn hóa đảng trong tuyên truyền (phần 2) Chương 6: Những ngôn từ của đảng đã trở thành thói quen (phần 1) Chương 6: Những ngôn từ của đảng đã trở thành thói quen (phần 2) Chương 7: Văn hóa đảng trong cuộc sống (phần 1) Chương 7: Văn hóa đảng trong cuộc sống (phần 2) Chương 8: Thói quen tư duy kiểu Văn hóa đảng (phần 1) Chương 8: Thói quen tư duy kiểu Văn hóa đảng (phần 2) Lời kết
Chương 6 Những Ngôn Từ Của Đảng Đã Trở Thành Thói Quen
Phần 4 Sự Hình Thành Của Ngôn Từ Của Đảng Đã Trải Qua Quá Trình Thanh Lọc Quy Mô Lớn
Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ là một quá trình tự nhiên.
Tính ổn định cao của hệ thống chữ hán có tác dụng hết sức quan trọng trong việc duy trì sự ổn định và thống nhất của nền văn minh hoa hạ.
Đối với một quốc gia có bề dài truyền thống lịch sử như Trung Quốc,
sự quy phạm về ngôn ngữ, sự cẩn trọng và đúng mực về hành vi đã trở nên hết sức trọng yếu, trở nên đặc biệt quan trọng.
Tuy nhiên, xuất phát điểm của các chính sách của Trung Cộng lại không phải nhằm mục đích giữ gìn sự toàn vẹn và thuần chính của văn hóa chính thống.
Hoàn toàn ngược lại, để phá bỏ tất cả những chứa ngại trên con đường thiết lập ách thống trị độc tài của nó,
Trung Cộng cần phải nhanh chóng hoàn thành việc phủ nhận văn hóa truyền thống,
đồng thời nhô nhét vào đầu người dân các ta thuyết như thuyết vô thần, thuyết tiếng hóa, triết học đấu tranh.
Do vậy, Trung Cộng đã huy động chính quyền quốc gia để tiến hành cuộc chỉnh lý ngôn ngữ trên quy mô lớn,
huy động bộ máy quốc gia, dùng mọi thủ đoạn để tuyên truyền ngôn từ của đảng khắp toàn quốc.
Đây là đặc điểm căn bản của việc xây dựng hệ thống ngôn từ của đảng.
Mục 1 Nguồn gốc ngôn từ của đảng
Nói một cách khái quát, ngôn từ của đảng có sáu nguồn gốc chủ yếu.
Phiên dịch hàng loạt, do lãnh đạo tối cao của đảng sáng tác ra, sinh ra đồng thời với các tổ chức,
biên tập có hệ thống, sự tô vệ của các nhà văn, sự hợp tác của quần chúng.
Chủ nghĩa Mark Lenin là một loại học thiết ngoại lai.
Ngôn từ của đảng thời kỳ đầu tất nhiên phải dùng sách phiên dịch để làm phương tiện truyền đạt.
Cuốn Thiên diễn luận xuất bản năm 1897 đã lần đầu tiên truyền bá học thiết Darwin vào Trung Quốc,
làm nền móng cho sự truyền bá của chủ nghĩa Marxist.
Năm 1919, bản dịch hoàn chỉnh đầu tiên của tuyên ngôn đảng Cộng sản xuất hiện trên tạp chí Thanh niên Mới.
Ngôn từ của đảng bắt đầu bám rễ vào mảnh đất Trung Hoa.
Sau khi thành lập, một phần công việc chính của Trung Cộng là phiên dịch các tác phẩm của Marx, Engels, Lenin, Stalin,
các văn kiện của đảng Cộng sản Liên Xô, cũng như tập trung thành lập các phòng biên dịch, cục biên dịch v.v.
Ông Vương Thực Vị, người bị giết ở Duyên An, đã từng làm việc tại Phòng Biên dịch Học viện Marx-Lenin Trung ương Trung Cộng.
Những từ vận cơ bản trong hình thái ý thức của Trung Cộng như chủ nghĩa Cộng sản,
giai cấp vô sản, chủ nghĩa duy vật lịch sử, đấu tranh giai cấp, v.v. đã ra đời từ những cuốn sách dịch này.
Lãnh đạo tối cao của Trung Cộng cũng là tác giả chính của ngôn từ của đảng.
Mao Trạch Đông từng nói rằng phải kết hợp chân lý phổ quát của chủ nghĩa Marxist với thực tiện cách mạng Trung Quốc.
Từ giữa những năm 30, ông ta đã bắt đầu sáng tạo một cách có ý thức những ngôn từ mang đậm màu sắc của đảng.
Những lãnh đạo cùng thời hoặc sau thời của Mao cũng bắt chước làm theo với ý đồ thông qua các từ mới này để đặt định ra địa vị quyền uy cho lý luận của mình,
từ đó mà giữ vị thế bất bại trong các cuộc đấu tranh nội bộ đảng.
Trung Quốc hóa chủ nghĩa Marxist, tiếp tục sự nghiệp cách mạng trong điều kiện chuyên chính của giai cấp vô sản,
bốn kiên trì,
xã hội chủ nghĩa mang đặc sắc Trung Quốc,
phản đối tự do hóa của giai cấp tư sản,
tam dạng,
tam đại biểu,
xã hội hòa hòa,
bác tinh,
bác nhục,
đều là những từ mới do lãnh đạo đảng sáng tạo ra,
còn chỉ ra rằng là một chính thể Trung Cộng cần phải tạo căn cứ hợp pháp cho nó,
cá nhân lãnh đạo Trung Cộng cũng cần phải tạo căn cứ hợp pháp cho họ,
do hầu hết các đời lãnh đạo Trung Cộng đều gây nợ máu,
nên người kế nhiệm phải giữ một khoảng cách nhất định với người tiền nhiệm,
nhưng họ lại không thể vượt quá giới hạn mà chính thể Trung Cộng đã định ra từ trước,
hoặc quốc phòng chính vì không gian xếp tốt quan hệ hai bên,
không tự bỏ mối quan hệ với Mao,
lại còn đưa ra phương châm hai điều phàm là,
nên chẳng bao lâu sau đã bị ép phải từ chức.
Trung Cộng là một đảng theo chủ nghĩa Lenin có tính tổ chức kỷ luật nghiêm ngặt,
nguồn từ của đảng sinh ra đồng thời với các tổ chức,
chỉ một số lượng lớn từ vận được sản sinh gắn với hình thức tổ chức và các hoạt động thông thường của Trung Cộng.
Một số từ vận này là do Trung Cộng tạo ra,
một số là từ vận tiếng Hán hoặc là mượn từ tiếng Đức, tiếng Nga, tiếng Nhật,
nhưng qua thời gian sử dụng lâu dài của Trung Cộng,
toàn bộ các từ ngữ đều nhiễm nặng hơi thở văn hóa đảng,
do chúng gắn bó với sự vận hành của tổ chức Trung Cộng,
cấu thành nền hạt nhân kiên cố trong các văn kiện truyền từ trên xuống dưới trong nội bộ tổ chức Trung Cộng.
Vì vậy có thể nói chúng là những ngôn từ của đảng ẩn sâu nhất nhưng lại mạnh mẽ nhất.
Những từ ngữ mà chúng tôi tập trung phân tích trong phần đầu chương này như
tuyên truyền, quán triệt, chấp hành, đấu tranh, chiến sĩ thi đua, đại biểu,
tinh thần hội nghị, đường lối, nhận thức, lãnh đạo, hiệu triệu, phấn đấu, ủy ban,
báo cáo tư tưởng, từ kiểm điểm, phê bình và từ phê bình
chính là thuộc loại ngôn từ của đảng này.
Biên soạn có hệ thống.
Trung Cộng khống chế tất cả bộ máy tuyên truyền, bộ văn hóa giáo dục, cơ quan nghiên cứu khoa học.
Chỉ cần lãnh đạo tối cao của đảng hoặc trung ương đảng đặt ra cái gọi là
đường lối phương châm chính sách thì những cơ quan này liền ra sức phát triển các luận chứng,
liên tục tô vệ cho chúng mang vẻ hào nhoán, đường hoàng.
Trung Quốc đại lục đã xuất bản một lượng lớn những cuốn sách như
Lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc.
Những cuốn sách này tập hợp một số câu nói bóc hữu
về một vấn đề nào đó của những bậc thầy cách mạng.
Sau đó được những nhà văn Tây Sai của đảng giỏi tăng bóc,
su nịnh chế tác lại thành những tác phẩm vĩ đại dày cột.
Trong quá trình này cũng tạo ra một lượng lớn ngôn từ của đảng.
Sự tô vệ của các nhà văn và sự hợp tác của quần chúng
cũng là nguồn gốc của ngôn từ của đảng.
Các nhà văn của tài đảng vì muốn ninh bờ cấp trên để thăng quan phát tài,
mà đã chủ động phối hợp với Trung Cộng sáng tạo nên đóng rác rưỡi văn hóa đảng.
Những người dân sống dưới chế độ chuyên chế độc đảng,
vì thuận theo hoặc vì không còn cách nào cũng đều đã tham gia
vào quá trình tạo ra ngôn từ của đảng.
Ví dụ, luận điệu, văn hóa truyền thống cản trở hiện đại hóa
do các nhà văn của Trung Cộng tạo ra
chính là một ví dụ về sự tô vệ của nhà văn.
Trung Cộng còn tự hô hào rằng
không có đảng Cộng sản thì không có nước Trung Hoa mới.
Những năm gần đây,
người dân Trung Quốc cũng tiếp thu những ẩn ý của Trung Cộng
mà tự phát ngôn ra những câu như
không có đảng Cộng sản thì Trung Quốc sẽ ra sao.
Đây chính là kiểu hợp tác của quần chúng.
Mục 2. Sự hình thành và phát triển của ngôn từ của đảng
Muốn nhìn thấu văn hóa đảng
Lá cờ lý tưởng của đảng Cộng sản đang thay đổi.
Phương chăm chính sách đang thay đổi.
Đối tượng đã kích cũng đang thay đổi.
Nhưng chế độ độc tài chuyên chính của đảng thì mãi mãi không đổi.
Bản chất tài giáo của nó mãi mãi không đổi.
Thủ đoạn lưu manh của nó mãi mãi không đổi.
Vì vậy, mặc dù ở các giai đoạn lịch sử khác nhau,
ngôn từ của đảng gắn bó mặt thiết
với các cuộc vận động chính trị của Trung Cộng,
thể hiện những đặc điểm khác nhau,
nhưng bên trong nó vẫn tồn tại một hạt nhân kiên cố.
Hạt nhân này chính là đại diện cho bản chất của Trung Cộng.
Sự phát triển của ngôn từ của đảng có thể chi thành những giai đoạn như sau.
1. Từ năm 1919 đến năm 1937,
giai đoạn phôi thai của ngôn từ của đảng.
Năm 1919, bản dịch toàn văn,
tuyên ngôn đảng Cộng sản được xuất bản.
Vì vậy, từ cơ sở lý luận ban đầu
cho đến hình thức tổ chức của Trung Cộng
đều mô phỏng theo quốc tế Cộng sản.
Ngoài các từ ngữ dịch ra cơ bản
chưa hình thành ngôn từ đặc trưng của đảng.
Thời gian này, lực lượng vũ trang được gọi là Hồng Quân,
căn cứ địa được gọi là Khu Xô Viết,
chính quyền các cứ được gọi là Chính quyền Xô Viết
toàn phụ họa theo đảng Cộng sản Liên Xô.
2. Từ năm 1938 đến năm 1949,
khoát lên cái áo Trung Quốc hóa.
Vì đấu tranh nội bộ đảng sau khi tháo chạy khỏi Diên An,
Mao Trạch Đông vội vàng giành lấy quyền giải thích riêng
về chủ nghĩa Marxism.
Trong hội nghị toàn quốc lần thứ 6 của Trung Cộng năm 1938,
Mao đã lần đầu tiên đưa ra khái niệm
Trung Quốc hóa chủ nghĩa Marxism.
Sau đó, trong cuộc chỉnh phong Diên An,
Mao một mặt dùng những ngôn từ của đảng mới
do từ mình sáng tác ra để đả kích kẻ thù chính trị.
Mặt khác dùng để tẩy nạo các cán bộ đảng viên.
Một mặt phản đối những từ ngữ dập khuôn, xáo rỏng.
Mặt khác dùng ngôn ngữ của mình để tiêu chuẩn hóa văn phòng.
Cán bộ đảng viên bị ép học thuộc ngôn ngữ của lãnh đạo Trung Cộng.
Ngôn ngữ của Tập đoàn Trung Cộng bước đầu đã được hình thành.
3. Từ năm 1949 đến năm 1966,
giành quyền làm chủ ngôn ngữ.
Trung Cộng đã giành lấy chính quyền ở Trung Quốc đại lục,
đồng thời cũng giành cả quyền thao túng ngôn ngữ trên mảnh đất này.
Tất cả các lĩnh vực chi phối hệ thống ngôn ngữ tiêu chuẩn
như xuất bản, báo chí, học thuật, giáo dục,
đều do chính quyền nắm giữ.
Được giao cho bộ tuyên truyền mang tính độc nhất vô nhị của Trung Cộng,
cùng hệ thống tuyên truyền cấp dưới,
hệ thống huấn luyện và tổ chức sinh hoạt cho cán bộ,
các cơ quan giáo dục tư tưởng như trường cán bộ đảng Trung ương và địa phương.
Ngôn từ của đảng đã mở rộng đến các ngành nghề,
các giai tầng, các độ tuổi, các ngõ ngách ở Trung Quốc.
Nó không chỉ được hợp pháp hóa mà còn trở thành ngôn ngữ hợp pháp duy nhất.
Trung Cộng bắt đầu dùng ngôn từ của đảng để quét sạch toàn bộ văn hóa truyền thống.
4. Từ năm 1966 đến năm 1976,
thời kỳ ngôn từ của đảng đại bùng phát.
Mười năm cách mạng văn hóa là thời kỳ đại bùng phát,
vô trường thanh thế của ngôn từ của đảng.
Những bức báo tường dày đặc, những cuộc tranh luận lời lệ đanh thép,
những bài hịch vang phê phán kẻ phản bồi,
các sắc lệnh chỉ thị tối cao,
bạo lực ngôn ngữ bị đải đến đỉnh điểm,
người dân kinh hồn bạc ví.
Khi tận mắt chứng kiến sức mạnh phá hủy ngôn ngữ truyền thống,
ngôn từ của đảng đã hoàn toàn thay thế ngôn từ bình thường của con người.
Đến lúc này người Trung Quốc không còn biết nói những lời bình thường nữa.
5. Từ năm 1976 đến năm 1989,
thời kỳ ngôn từ của đảng hỗn tạp biến dị.
Sau cả cách mở cửa,
Trung Cộng đã phần nào nới lỏng kiểm soát trong lĩnh vực kinh tế và văn hóa.
Một số ít từ ngữ của người bình thường được cho phép sử dụng trở lại.
Ví dụ đầu những năm 80 đã từng có các cuộc thảo luận về chủ nghĩa nhân đạo,
nhưng do Trung Cộng trong suốt 30 năm kể từ ngày thành lập
liên tục nhồi nhét ngôn từ của đảng vào đầu người dân.
Cũng do Trung Cộng quyết không buôn lỏng kiểm soát trong lĩnh vực chính trị,
nên ngôn từ của đảng vẫn giữ vị trí chi phối trong hệ thống ngôn ngữ của người Trung Quốc.
Người ta đã mất đi khả năng phân biệt và khả năng miễn dịch đối với ngôn từ của đảng.
6. Từ năm 1989 cho đến nay,
thời kỳ suy đổi bại hoại.
Vào thời kỳ gian trạch dân nắm quyền,
đằng sau vẻ bề ngoài phồn vinh của xã hội Trung Quốc,
tìm mở các loại mâu thuẫn,
cuộc sống vô vị,
đạo đức trượt dốc,
tư tưởng khô kiệt,
cải cách thục lùi,
tệ nạn xã hội tràn lan,
ngôn từ của đảng càng thêm xáo rộng, vô vị.
Dùng thuyết tam đại biểu để chỉ đạo việc giết mổ của chúng ta,
biểu ngữ tại một cơ sở giết mổ gia súc ở Đồng Nhân, Quý Châu.
Nó thể hiện sự suy thoái vào thời kỳ cuối cách mạng.
Ngôn từ của đảng thời kỳ cuối có ý đồ mượn thuật ngữ Tây Phương,
thuật ngữ khoa học kỹ thuật, công trình gì gì đó,
và một số từ ngữ trong văn hóa truyền thống, đức trị,
để cứu vãn vận mệnh suy vong của mình.
Ngôn từ của đảng là một lường lớn dân ca,
chuyển cư chính trị đã tạo nên hiện tượng cộng sinh lạ lùng.
Nó thể hiện sự suy đổi toàn diện của xã hội
và thái độ từ chế dịu trong tuyệt vọng của người dân.
Mục 3
Ngôn từ của đảng mang tính giai đoạn và ngôn từ của đảng mang tính chế độ.
Căn cứ vào việc một từ ngữ có được sử dụng
xuyên suốt qua các giai đoạn phát triển của Trung Cộng hay không,
chúng ta có thể chia ngôn từ của đảng thành hai loại.
Ngôn từ của đảng mang tính giai đoạn và ngôn từ của đảng mang tính chế độ.
Ngôn từ của đảng mang tính giai đoạn là ngôn từ của đảng
được sáng tạo và sử dụng trong các cuộc vận động chính trị liên tiếp của Trung Cộng.
Nó mang tính tạm thời và dễ loài bỏ.
Còn ngôn từ của đảng mang tính chế độ
lại xuyên suốt qua các thời kỳ kể từ khi thành lập Trung Cộng đến nay.
Nó là ngôn ngữ nồng cốt nhất, trọng yếu nhất
và thể hiện rõ nhất tản chất của Trung Cộng.
Ngôn từ của đảng mang tính giai đoạn thể hiện ra cái biến đổi của Trung Cộng.
Còn ngôn từ của đảng mang tính chế độ thể hiện ra cái bất biến của Trung Cộng.
Nếu ngôn từ của đảng mang tính giai đoạn như là phù sa trôi theo dòng nước,
thì ngôn từ của đảng mang tính chế độ như lòng song kiên cố.
Sự lừa gạt của Trung Cộng thể hiện ở chỗ chúng thu hút sự chú ý của mọi người
vào ngôn từ của đảng mang tính giai đoạn.
Mỗi lần trải qua một cuộc vận động chính trị,
chúng lại thay hình đổi dạng bằng cách nhanh chóng đào thải những ngôn từ của đảng mang tính giai đoạn.
Những người tưởng rằng Trung Cộng đã thay đổi,
Trung Cộng ngày hôm nay đã không còn là Trung Cộng ngày hôm qua nữa
đều không nhận ra mối liên hệ giữa ngôn từ của đảng mang tính giai đoạn
và ngôn từ của đảng mang tính chế độ này.
Những cuộc vận động chính trị không ngừng đã sản sinh ra rất nhiều từ ngữ mới
như ví dụ dưới đây, bản 4.
Năm 1942
Vận động chỉnh phong gồm có
Từ năm 1947 đến năm 1950
Cải cách ruộng đất gồm có
Từ năm 1951 đến năm 1952
Nhà tư bản bất hợp pháp chống lại sự lãnh đạo kinh tế quốc doanh
Năm 1957
Từ năm 1958 đến năm 1960
Từ năm 1963 đến năm 1966
Từ năm 1966 đến năm 1976
Tính bề phái thực hiện phản cách mạng
Trợ giúp cánh tả, can quyết, văn đấu, vỏ đấu,
đấu tố, chuồng bò, phê bình sửa chữa,
viết định cao, ngữ lục ca, trung tự vụ,
sáng chỉ thị, tối báo cáo,
đọc hàng ngày, hồng hải dương, hồng bảo thư,
hồng vệ binh, phê tạo phản,
phái theo tư bản, xú lão cửu,
lũ chó má, phong trào lật lại bản án,
đứng nhằm hàng ngữ, đài xuyên liên,
tắm gương cách mạng, đài hồi đỏ,
hậu đài đen, đội tuyên truyền,
đấu tư phê tu, đấu tranh chống tư hữu,
phê phán chủ nghĩa xác lại, giai cấp tư sản,
phân công võ vệ, dùng ngoài bút làm vũ khí,
dùng vũ lực để phòng vệ, hưng vô miệt tư,
đề cao tư tưởng giai cấp vô sản,
xóa bỏ tư tưởng giai cấp tư sản,
chiến sĩ cách mạng trẻ, kẻ phản động,
tháng 2 ngược dòng, lên rừng xuống biển,
cây đại thụ, chỉ vị thống xoái mau,
phê lâm phê khổng, phê phán lâm bưu, khổng tử,
pháp quyền của giai cấp tư sản, quyền uy học thuật phản động,
Từ năm 1977 đến năm 1989,
thời kỳ cải cách mở cửa gồm có
thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý,
cải cách mở cửa, mò đá qua sông,
mèo đen mèo trắng, 4 nguyên tắc cơ bản,
4 hiện đại hóa, ưu tiên một số người giàu lên,
chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc,
gột rửa sự tha hóa về tinh thần,
phản đối tự do hóa giai cấp tư sản,
4 loại người mới, 5 phép tắc, 4 đẹp, 3 yêu mến,
5 phép tắc, văn minh, lễ độ,
vệ sinh, trật tự, đạo đức,
4 đẹp, ngôn ngữ đẹp, tâm hồn đẹp, hành vi đẹp,
môi trường đẹp, 3 yêu mến, yêu tổ quốc,
yêu chủ nghĩa xã hội, yêu đảng Cộng sản Trung Quốc.
Từ năm 1989 đến năm 2002,
thời kỳ gian trạch dân gồm có
3 giảng, 3 đại biểu, 8 điểm của gian,
heo kịp thời đại, văn hóa tiên tiến, ổn định áp đảo hết thể.
Từ năm 2002 đến nay,
thời kỳ hồ cẩm đào, xã hội hoài hòa,
lấy dân làm gốc, bạo tiên, giữ vị trí tiên phong,
bác vinh bác nhục, trỗi dày trong hòa bình,
quan điểm phát triển khoa học,
quan điểm vinh nhục của chủ nghĩa xã hội.
Nguồn từ của đảng mang tính chế độ là những từ ngữ
được tạo ra liên quan đến các hoạt động của đảng,
sinh ra đồng thời với các tổ chức như
tuyên truyền, quán truyệt, chấp hành, đấu tranh,
chiến sĩ thi đua, đại biểu, tinh thần hội nghị,
đường lối, nhận thức, lãnh đạo, cấp trên, hiệu triệu,
phán đấu, ủy ban, báo cáo tư tưởng,
tự kiểm điểm, phê bình và tự phê bình v.v.
Những từ ngữ này trực tiếp định ra địa vị, quyền uy,
cơ cấu tổ chức, sự khống chế tư tưởng,
thủ đoạn thống trị và mối quan hệ với quần chúng nhân dân của đảng.
Đây là loại ngôn ngữ thể hiện rõ nhất
tính chất tài giáo của Trung Cộng.
Mục 4 Mối quan hệ giữa ngôn từ của đảng và ngôn từ bình thường
1. Ngôn từ của đảng bám vào
ngôn ngữ dân tộc. Trung Cộng không tự sáng tạo
ra một loại ngôn ngữ nào, mà nó sử dụng
phương thức kế thừa hình thức căn bản của ngôn ngữ dân tộc
và nhồi nhét vào đó, nội hàm của văn hóa đảng,
làm biến dị từ bên trong nội hàm ngôn ngữ dân tộc Trung Hoa.
Vì vậy, đối với hãng ngữ hiện đại
bị ngôn từ của đảng bám phụ thể ấy,
hiện ngữ âm biến đổi không nhiều và vẫn sử dụng
những từ vận cơ bản. Còn sự biến hóa về
cú pháp chủ yếu là kết quả của việc âu hóa
hãng ngữ sau cuộc phận động văn bạch thoại.
Việc chỉnh lý và làm biến dị hãng ngữ dưới sự kiểm soát
của Trung Cộng thể hiện ở những phương diện sau đây.
2. Sáng tạo ra lượng lớn từ mới
như khu sô viết, vùng căn cứ giáp ranh,
hòn quân, đấu tranh, trường chinh, thống nhất chiến tuyến,
chỉnh phong, cài cách ruồng đốc, tổ đổi công,
hợp tác hóa, công tư hợp doanh, hình thức kinh doanh
do nhà nước và tư nhân cùng góp vốn,
thuốc phản, điều kháng bộ xuống cơ sở rèn luyện,
đại nhảy vọt, đường lối chung, công xã nhân dân,
an cương hiến pháp, quốc khánh, người thép,
cánh đồng đài trại, tinh thần lông giang,
hồng về binh, tắm gương cách mạng, heo phê tư sản,
phê tạo phản, đại liên hợp, đội tuyên truyền công nhân,
trợ giúp phê cánh tả, đại phê bình,
đại minh, đại phóng, đội thanh trần giai cấp,
quỹ ban cách mạng, hồng sát nương tự quân,
phiếu lương thực, phiếu vải, phiếu dầu,
dấu ấn giai cấp, thống xóa chính trị,
gió đông áp đạo gió tay, nghĩa là phê chính nghĩa áp đạo
Những từ ngữ này đều do Trung Cộng tạo ra trong hoạt động hàng ngày
và trong các cuộc vận động chính trị
Mặc dù sử dụng yếu tố Hán ngữ
nhưng về bản chất lại khác hẳn với nội hàm văn hóa dân tộc
Nó hoàn toàn mang màu sắc văn hóa đảng
Một số từ vận tiếng Hán vốn đã tồn tại trải qua
thời gian dài bị Trung Cộng sử dụng sai lệch ý nghĩa
Nghĩa của những từ này bị bóp méo
Nghĩa của từ sau khi bị bóp méo lại được cố định lại
trong từ điển của Trung Cộng
trở thành nghĩa cơ bản hoặc một trong những nghĩa cơ bản của từ vận đó
Ví dụ như tích phi thành thị
tức cái sai lặp đi lặp lại lâu dần thành cái đúng
rập khuôn làm theo
Mọi người vẫn tưởng rằng nghĩa gốc của những từ này là như thế
nên không có cảm nhận về nhân tố văn hóa đảng trong đó
Nghĩa gốc là nhân viên thư ký
một chút vụ gần giống với văn thư
Trung Cộng rêu rao mình toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân
vì vậy nó gọi giáo chủ của tài giáo Trung Cộng
mang quyền lực tối cao là bí thư
khiến người ta cảm giác sai là họ gần gũi với dân
phục vụ nhân dân
Nghĩa gốc là kiểm tra, nghiên cứu, thảo luận
Ở Đài Loan vẫn sử dụng theo nghĩa này
ép mọi người kiểm thảo là một trong những thủ đoạn
chủ yếu để Trung Cộng tiến hành áp chế tư tượng của quần chúng
đảng viên
Dưới chế độ thống trị của Trung Cộng
từ đảng viên cấp dưới cho đến lãnh đạo trung ương
từ học sinh tiểu học đến giáo sư lâu năm
hầu như ai cũng từng bị ép viết kiểm thảo
Trong số kiểm thảo mọi người bị ép nhận rằng mình đã phạm lỗi
phải đào bới thật sâu căng nguyên những sai lầm trong tư tượng của bản thân
thể hiện quyết tâm đi theo đảng
mong được sự khoan hồng của tổ chức
Mê Tín
Người ta chỉ cần xây mê tin tưởng vào điều gì đó thì chính là mê tín
Bản thân từ này không có nghĩa xấu
Con người đều ở trong mê
Chỉ khác nhau là có tin hay không tin mà thôi
Nếu người ở trong mê có thể tin thần, tin thiên lý
tin thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo
thì toàn bộ xã hội sẽ giữ được tiêu chuẩn đạo đức khá cao
Như vậy đối với mỗi người trong đó đều có chỗ tốt
Trung Cộng đã nhồi nhét những nội hàm như
mê mùi, lạc hậu, phản khoa học vào trong từ mê tín
Nó không chỉ làm biến dị háng ngữ
mà còn làm bại hoại đạo đức xã hội
Giác ngộ
Vốn là một từ mang sắc thái văn hóa tu luyện
Chỉ có người thông qua tu luyện mà đạt được đại trí đại huệ
và năng lực to lớn
Phật trong tiếng Phạn vốn có nghĩa là người thông qua tu luyện mà giác ngộ
Đảng Cộng sản đã liên hệ từ này với
mức độ bị tải não của các đảng viên
Nếu đảng tính áp đảo nhân tính thì chính là giác ngộ cao
Nếu không thì là giác ngộ kém v.v
Trung Cộng biến nghĩa ví von của một số từ thành nghĩa thông thường
khiến cho những từ này cũng bị nhuốn
màu sắc văn hóa đảng
Ví dụ, gánh nặng nguyên nghĩa là bưu kiện
hiện nay thường được dùng để chỉ gánh nặng tư tưởng
Người bị Trung Cộng tải não thường phải đối mặt
với sự xung đột giữa đảng tính và nhân tính
Nhân viên công tác tư tưởng chính trị của Trung Cộng
thường khuyên người ta vứt bỏ gánh nặng tư tưởng
Có nghĩa là chỉ cần vứt bỏ nhân tính
thì sẽ không còn chịu sự giàn vặt lương tam nữa
Tóc, mũ, gạy, túm tóc, chụp mũ, quật gạy
là những thủ đoạn thường dùng
trong các cuộc vận động chính trị của Trung Cộng
Túm tóc nghĩa là nắm chặt lấy điểm yếu
của kẻ thù chính trị
Chụp mũ nghĩa là quy cho kẻ thù chính trị
hoặc đối tượng đả kích
một tội danh đáng sợ
như phản đảng, phản xã hội chủ nghĩa
công kích ác liệt Mao chủ tịch
Thử khuynh, vân vân
từ đó chiếm thế thượng phong về mặt đạo nghĩa
sau đó thẳng tay trừng trị mà không phải lo lắng gì
Quật gạy chính là đấu tranh tàn khốc đả kích vô tình
Trung Cộng là một tổ chức tài giáo
khống chế vô cùng chặt chẽ
nó dùng phương thức khống chế quân đội
để mở rộng ra khống chế toàn xã hội
Thể hiện qua ngôn ngữ
chính là rất nhiều từ ngữ đằng đằng sát khí
dùng trong quân sự đã trở thành những từ ngữ thông dụng hàng ngày
Đây cũng là một trong những lý do chính
vì sao người Hoa hải ngoại và người dân Hồng Kông
cảm thấy lời nói của người dân Đài Lục đầy sát khí
Những từ ngữ thường thấy như
đội ngũ, chỉ tập thể đoàn đội
chiến tuyến, chỉ một lĩnh vực nào đó
ở Trung Quốc Đài Lục có một tạp chí khoa học tên là
Lính, chiến sĩ, chỉ thành viên nhân viên công tác
thường đi cùng với mặt trận
như một người lính mới trên mặt trận giao thông của đảng
Tiêu diệt, chỉ ăn xong làm xong v.v
nhưng anh phải tiêu diệt hết đĩa rau này
Trận tiêu diệt, chỉ hoàn thành nhiệm vụ
như chúng ta đánh một trận tiêu diệt nhé
Sức chiến đấu, tôi không còn sức chiến đấu nữa rồi
nghĩa là tôi không ăn nổi nữa rồi
Thu dọn chiến trường, chỉ việc khắc phục hậu quả
giải quyết vấn đề, tinh binh giãn chính
chỉ việc xa thải nhân viên dư thừa v.v
Thay đổi sắc thái tình cảm của tư vận
Giá trị quan của văn hóa đảng và văn hóa truyền thống
hoàn toàn tương phạm với nhau
biến giả thành thật, biến ác thành thiện, biến xấu thành đẹp
biểu hiện qua ngôn ngữ chính là trung cộng đảo lộn
hàm nghĩa tốt xấu của một số từ
Những từ đấu tranh, tính chiến đấu
chưa từng được ca ngừa trong văn hóa nhân loại bình thường
Nhưng trung cộng lại coi nó là những hành vi tư tượng đúng đắn nhất
và truyền bá rộng rãi
Đồng thời nó nhồi nhét nổi hàm phản diện những từ
vốn mang ý nghĩa tốt đẹp hoặc những từ trung tính
như thiện nhân. Trong vận động cải cách truồng đất
trung cộng thường dùng để nói về địa chủ
như vương đại thiện nhân, lý đại thiện nhân
nên thiện nhân bị biến thành đồng nghĩa với ác nhân
Trung cộng đã biến những từ này thành chủ nghĩa phong kiến
nhân tính, dân chủ
trung cộng gọi là giai cấp tư sản
thành tích, chủ nghĩa thành tích
nghĩa là chỉ chú trọng nâng cao kỹ năng làm việc mà thiếu cái gọi là tính cách mạng
nghĩa có một từ vận bao gồm nghĩa lý tính, nghĩa cảm tính
nghĩa kết hợp, nghĩa liên tưởng
nghĩa liên tưởng chỉ một từ ngữ được sử dụng nhiều lần lặp đi lặp lại
tạo nên mối liên hệ gần như nhất định
với một số nghĩa nào đó
chỉ cần nhắc đến từ này người ta sẽ liên tưởng đến một câu nói
một quốc cảnh xã hội thậm chí là một bầu không khí văn hóa nhất định
ví dụ màu đỏ vốn là một màu sắc phổ thông
nhưng vì trung cộng dùng màu đỏ để chỉ cách mạng
tính cách mạng nên chỉ cần nhắc đến màu đỏ
người ta có thể liên tưởng đến rất nhiều thông tin liên quan đến cách mạng cộng sản
như giang sơn màu đỏ
người tiếp nối màu đỏ, một trái tim màu đỏ
hai bàn tay chuẩn bị, du lịch màu đỏ, ký ức màu đỏ
ánh sao màu đỏ lắp lánh v.v
do trung cộng khống chế xã hội toàn diện và nghiêm ngặt
văn hóa đảng bị nhồi nhét trên quy mô lớn trong thời gian dài
số lượng những từ loại này rất nhiều
chỉ khác nhau về mức độ
v.v mưa gió, chỉ đấu tranh như trải qua mưa gió nhìn rõ thế sự
mặt hàng, chỉ đồ vật
v.v như mặt hàng lỗi thời của giai cấp tư sản
bàn tính, chỉ kế hoạch, ý tưởng
v.v cái địch đã bàn tính sai
áo khoác, chỉ vẽ bên ngoài đồ ngụy trang
v.v trung cộng nói Lam Bư là áo khoác
của chủ nghĩa Mark Lenin
bàn cho mưa nắng
nhằm tố vẽ cho bản thân
trung cộng thường dùng từ này để ví với sự quan tâm của đảng
thăm hỏi ân cần, trải qua sự tuyên truyền lâu dài
của trung cộng từ này thường khiến người ta liên tưởng đến
các cán bộ trung cộng quan tâm đến quần chúng nhân dân
v.v
gạt từ vận truyền thống ra ngoài lề
trong quá trình xây dựng văn hóa đảng
trung cộng một mặt tạo ra nhiều từ mới
hoặc làm sai lệch, lạm dụng từ vận háng ngữ
mặt khác là cố tình đào thải hoặc gạt từ vận
trong văn hóa truyền thống ra ngoài lề
v.v những từ ngữ liên quan đến tu luyện, hái cực bác quái
hà đồ lạc thư, âm dư ngụ hành, đàn kinh đào tạng
những từ ngữ liên quan đến đạo đức truyền thống
nhân quả báo ứng, nhân lễ nghĩa trí tính v.v
trong xã hội truyền thống nhân quả báo ứng
gần như là nhận thức chung của các thành viên toàn xã hội
nó phát huy vai trò cực to lớn trong việc
duy trì tiêu chuẩn đạo đức của người dân và ổn định trật tự
xã hội. Trong văn hóa đảng, từ nay
không bị bỏ đi hoàn toàn mà bị trùm lên nghĩa phản diện
trở thành đối tượng bị coi thường, khinh miệt,
nhạo bán. 7. Cấu trúc câu, hành văn
và tu từ. Ngôn từ của đảng còn
biểu hiện ở một số cấu trúc câu, cách hành văn
và các biện pháp tu từ. Tính đấu tranh của trung cộng
thẩm thấu vào trong mọi phương thức dùng từ,
biểu hiện là ngôn ngữ mang ý thức đấu tranh,
có lời không từ từ nói, chuyện hay lại nói thành
dở, thường dùng những câu hỏi vặn và câu nói
mỉa mai, khiến cho đối phương rơi vào tình cảnh
bị động mà lúng túng, khó xử. Khi chứng minh
một đạo lý người bị ảnh hưởng bởi văn hóa đảng không
dạng đạo lý, với một tâm thái bình tĩnh, ôn
hòa, thiện chí giúp người mà là cãi bướng,
cướp từ đoạt lý, nắm được lý lẽ thì không nhượng bộ,
không có lý thì cũng cãi bằng được,
thái độ ven váo, hung hăng. Có người từng chỉ ra
một vài đặc điểm trong cái gọi là Mao
ngữ thể. Những đặc điểm này không nhiều thì ít
đã thẩm thấu vào trong phương thức sử dụng ngôn ngữ của người
Trung Quốc bình thường. Những đặc điểm này bao gồm
thứ nhất định tính, ấn định đặc tính, ví dụ
gì đó là người thế nào, là con chó trung thành
của thế lực phản động người Hoa ở Tây Phương.
Thứ hai, xưng hô theo nhóm, thu điểm là
không thể chứng minh được anh ta, người nói đang bị đặc,
hơn được anh ta không cần chịu bất cứ trách nhiệm
nào khi phát ngôn. Ví như nói, ai
ai cũng biết, quảng đoạn nhân dân Trung Quốc đều đã
sớm nhìn rõ bộ mặt thật của anh ta.
Thứ ba, đổi vai trò tìm chứng cứ, tức là
đầy trách nhiệm tìm chứng cứ cho đối phương.
Kỹ thực bản thân không thể chứng minh, nhưng lại làm như thế
người khác không thể chứng minh. Từ thường dùng nhất là
không thể cho ai biết, hoặc có dùng ý xấu.
Ví dụ như, nhắc cử nhắc đọng của anh ta
đều có mục đích chính trị mà không thể để cho ai biết.
Thứ tư, hết thai chứng cứ đều là giả.
Đối với những sự việc không thể phản bác được,
thì anh ta sẽ chụp mũ là giả dối, ác ý.
Thông tin giả, ví dụ, anh ta cứ
luôn miệng nói gì gì đó, thực tế đều là giả dối.
Chỉ có đảng chúng ta mới thực sự bảo vệ
gì gì đó. Sau khi tội ác
mổ cướp nội tạng học viên Pháp Luân Công của Trung Cộng
bị phơi bày, người phát ngôn tin tức của Trung Cộng
giả hoạt nói rằng, gần đây một số kênh
truyền thông nước ngoài ngụy tạo tin tức giả về hoạt động
cái ghép nội tạng của nước ta, công kích ác ý
chế độ tư pháp nước ta.
Tóm lại, không cho đối phương bất cứ đường thoái lùi nào.
Như, cho dù anh ta dạo hoạt thế nào
cũng không thể phủ nhận bộ mặt vốn có gì gì đó
của mình. Từ hà thắp
bản thân theo kiểu, ta là lưu manh nên ta
chẳng sợ ai. Như, đảng viên Đảng Cộng sản chúng ta
chính là phải đả kích không thương tiếc kẻ phản động
như anh ta, không được nhân nhượng chút nào.
Câu từ và văn chương thắm đẳm lối tư duy
biến dị và tài ác của Trung Cộng, có thể do
từ ngữ đặc thù của Trung Cộng tạo thành, cũng có thể
do từ ngữ phổ thông tạo thành. Bất luận thế nào
những câu từ và văn chương này đều được tạo nên
bởi phương thức tư duy văn hóa Đảng. Tất cả đều
mang dấu ấn rõ nét của văn hóa Đảng.
8. Ngôn từ của Đảng là một hệ thống.
Ngôn ngữ tồn tại như một hệ thống. Cách biểu
đạt ý nghĩa và cách sử dụng một từ chịu
sự chế ước của cả hệ thống. Ngôn từ của Đảng
cũng được xây dựng theo hệ thống. Trong quá trình này,
một mặt Trung Cộng tạo ra một lượng lớn từ ngữ
và cả một hệ thống từ ngữ xưng hô. Mặt khác,
từ ngữ trong cuộc sống thường nhật, từ ngữ trong
văn hóa truyền thống, từ ngữ trong văn hóa ngoại quốc
bị tổ chức lại trong hệ thống ngôn từ của Đảng
và mang ý nghĩa mới. Vì vậy, trong ngôn ngữ mà
người Trung Quốc sử dụng hiện nay, mặc dù số lượng
những từ vận Hán ngữ vốn có là không ít,
nhưng do ý nghĩa và cách dùng bị Trung Cộng cải biến mạnh mẽ,
nên những từ phổ thông này đa số đều mang
sắc thái văn hóa Đảng. Đảng giống như
một lực hấp dẫn mạnh mẽ. Nó giống như một
hố đen vũ trụ lao vào hệ mặt trời,
trong nháy mắt thay đổi cách sắp xếp các hành tinh trong hệ mặt trời.
Đảng xâm nhập vào không gian ngôn ngữ Trung Quốc,
nó cũng làm thay đổi ý nghĩa từ Hán ngữ
và cách biểu đạt từ vận Hán ngữ. Đảng cũng giống như
một nguồn gây ô nhiễm nặng nề. Những nơi nào
văn hóa Đảng vương đến, thì ngôn ngữ bình thường
ở đó đều khó tránh khỏi bị nhiễm độc.
Một năm, ngôn từ của Đảng thực chất là
ngôn từ của xã hội đen được Trung Cộng cưỡng chế
truyền bá cho toàn thể thành viên xã hội.
Từ khi thành lập, Trung Cộng đã là một bề lũ lưu manh,
chỉ có điều sau đó nó cướp đoạt được chính quyền.
Kẻ cướp chính quyền trở thành vua, bề lũ lưu manh
đã được chính quyền hóa, tà giáo đã trở thành quốc giáo.
Trong lịch sử nhân loại chưa từng xuất hiện tình huống này.
Do vậy, dù có trí tưởng tượng phong phú đến đâu,
không thường người ta cũng không thể hình dung nổi
hoặc hoàn toàn không dám nghĩ đến điều này.
Cửu binh Cộng sản Đảng lần đầu tiên tiết lộ Trung Cộng
là một tà linh, tà giáo và lưu manh phản vũ trụ.
Theo một ý nghĩa nhất định,
quyển sách đã bắt đầu trong một quá trình tìm lại sự thật,
giúp mọi người có thể có cái nhìn đúng đắn về Trung Cộng.
Vì vậy, ngôn từ của Đảng thực chất là một loại
ngôn từ xã hội đen, hoặc là từ lóng tập đoàn, từ lóng chính trị.
Thực chất, việc Trung Cộng phổ biến ngôn từ của Đảng
chính là đem ngôn từ xã hội đen
truyền bá đến toàn thể thành viên xã hội.
Ngôn từ xã hội đen còn gọi là ngôn ngữ bí mật,
hoặc là ngôn ngữ được sử dụng trong nội bộ nhóm xã hội đen
hay bang phái nào đó.
Loại ngôn ngữ này thường không có hệ thống ngữ pháp và ngữ âm độc lập.
Nó là một hiện tượng biến dị ngôn ngữ phù thuộc
vào ngôn ngữ xã hội bình thường.
Ngôn từ của Đảng hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn này.
Ngôn từ xã hội đen có chức năng giao tiếp, chức năng bảo mật
và chức năng nhận biết.
Chức năng giao tiếp nghĩa là ngôn từ xã hội đen có thể có tác dụng
Chức năng bảo mật chỉ người ngoài bang phái không thể hiểu được
hàm ý của ngôn từ xã hội đen.
Chức năng nhận biết nghĩa là thành viên bang phái căn cứ vào
việc một người có sử dụng và hiểu được từ lõng của bang phái đó hay không
để phán đoán xem người đó có phải là người của ta hay không.
Đáng chú ý là chức năng giao tiếp và chức năng bảo mật
của ngôn từ xã hội đen được đồng thời thực hiện
bởi vì nếu không có hành động giao tiếp
thì không cần phải giữ bí mật gì.
Việc sử dụng ngôn từ xã hội đen vừa có thể giúp các thành viên
trong bang phái biểu đạt ý kiến với nhau
mà vẫn có thể giữ được bí mật đối với người ngoài bang.
Ngôn từ cổ đảng cũng có 3 chức năng như vậy
nhưng phương thức phát huy tác dụng của ngôn từ cổ đảng thì phức tạp hơn.
Người ta đã quen thuộc với những lời thoại
mang ngôn từ xã hội đen trong vở kịch cách mạng điển hình,
dùng mưu trí dọa hổ như thiên vương cái địa hổ,
bảo tháp trắng yêu ma,
nhìn bề mặt chữ thì hoàn toàn không hiểu được ý nghĩa của những lời thoại này.
Phải là người biết được quy tắc giải mã của ngôn từ xã hội đen mới có thể hiểu được.
Nhưng những câu đằng sau
sao mặt đỏ thế và sao lại sợ xanh mặt rồi
nghe vừa giống lời của người thường vừa giống ngôn từ xã hội đen
có thể được hiểu theo 2 tầng nghĩa.
Mọi ngôn từ của đảng trung cộng đều có 2 tầng nghĩa này.
Tầng nghĩa đầu bao gồm phần tử tam phản,
3 định hướng, 3 lợi ích, 3 điều học tập,
Người trong xã hội bình thường nếu không được giải thích
thì khi đọc hoặc nghe những cụm từ này sẽ hoàn toàn không hiểu,
kể cả khi đã nghe giải thích cũng rất khó lý giải hoàn toàn.
Một số từ khác nhìn bề ngoài cũng giống như từ ngữ bình thường
nhưng lại bị trung cộng đưa vào hàm nghĩa đặc biệt.
Đối với những từ này không thể lý giải theo ý nghĩa trên bề mặt chữ được.
Điểm phức tạp của ngôn từ đảng của trung cộng là ở chỗ.
Cùng một cụm từ ngôn từ của đảng
nhưng dùng phương thức giải mã ở tầng thứ khác nhau
có thể hiểu được những ý nghĩa khác nhau.
Những người càng đứng trên đỉnh cao kiêm tự tháp quyền lực của trung cộng
càng nắm được phương thức giải mã tầng cao
thì càng có thể nhìn ra hàm nghĩa chân thực của ngôn từ của đảng trung cộng.
Ví dụ gần đây trung cộng kêu gọi xã hội hài hòa
lấy dân làm gốc.
Những đảng viên tầng thấp và người dân bình thường
không nắm được phương thức giải mã ngôn từ xã hội đen.
Có thể sẽ cảm thấy đảng Cộng sản muốn làm điều tốt cho quần chúng nhân dân
nhưng cán bộ cấp trung của trung cộng nắm được phương pháp giải mã nhất định
sẽ có thể lý giải một cách khá chính xác rằng
bây giờ đã bước vào thời kỳ hài hòa áp đảo tất cả
nếu ai dám biểu tình tố cáo khóc lóc kêu oan
nói những lời không hài hòa
thì bộ máy chuyên chính của đảng sẽ không để yên.
Trung tâm quyền lực của trung cộng mới nắm được công cụ giải mã cao cấp nhất
chỉ họ mới biết hàm nghĩa thâm sâu nhất
của từ hài hòa lấy dân làm gốc.
Làn sóng thói đảng đã khiến cho nội sợ hãi mất đảng của trung cộng
tăng lên đến cực điểm.
Hai khẩu hiệu này có lẽ có thể cứu mạng, cứu vạn vần mệnh
sụp đổ tan rã của trung cộng.
Do cơ chế bảo mật phức tạp của ngôn từ của đảng trung cộng
rất nhiều người ngoài quốc bao gồm rất nhiều chuyên gia học giả chính khách
đều bị trung cộng lừa gạt mà không biết.
Một vị học giả ngoài quốc đã phân tích đặc điểm dùng từ
trong bài xã luận và báo cáo đại hội đảng trung cộng
đăng trên Nhân dân Nhật báo vào dịp Tết Nguyên đáng
dùng phương pháp thống kê toàn suất
xuất hiện từ ngữ để phân tích xu hướng chính trị của trung cộng.
Nhưng trung cộng là kẻ, nói nhưng không làm, làm nhưng không nói.
Phương pháp nghiên cứu của vị học giả này
không cách nào phát hiện ra xu hướng chính trị của trung cộng.
Cùng lắm chỉ có thể nhận ra xu hướng dối trá
của trung cộng mà thôi.
Chức năng nhận biết của ngôn từ của đảng thể hiện ở chỗ,
không qua cách nói của một người, các đảng viên có thể nhận biết
người này có phải thành viên của đảng hay không
và mức độ nhận thức của anh ta về văn hóa đảng đến đâu.
Vào năm 2000 đã xảy ra sự kiện
cựu lãnh đạo trung cộng Giang Trạch Dân
quát mắn một nữ phóng viên Hồng Kông.
Nếu nhìn lại bối cảnh lúc đó chúng ta sẽ phát hiện ra câu hỏi
của phóng viên Hồng Kông vô cùng đơn giản.
Thế nhưng qua câu hỏi đơn giản như vậy
Giang lại phán xét chính xác rằng bộ phóng viên này
không đồng tình với chính sách Hồng Kông của trung cộng
nên đã lớn tiếng quát tháo.
Phóng viên
Chủ tịch Giang Nga Cảnh thấy việc ông Động liên tiếp
giữ chức vụ có tốt không?
Giang tốt chứ.
Phóng viên
Trung ương cũng ủng hộ ông ấy chứ.
Giang đương nhiên rồi.
Phóng viên
Không lo rằng việc này sẽ ảnh hưởng đến nền tự trị của Hồng Kông sao.
Giang lớn tiếng quát tháo.
Tháng 7 năm 2005 tổ phó tổ lãnh đạo hoạt động Bảo Tiên
Thứ trưởng Bộ Tổ chức Trung ương Lý Cạnh Điền
đã giới thiệu với giới truyền thông về tình hình Bảo Tiên của Trung Cộng.
Có phóng viên hỏi
mấy tháng gần đây
ở vùng nông thôn Trung Quốc xuất hiện một số hiện tượng bạo loạn.
Xin ông cho biết Đảng Cộng sản Trung Quốc
xử lý những vụ bạo loạn này như thế nào?
Lý Cạnh Điền trả lời
Rất cảm ơn sự quan tâm của cô tới tình hình nông thôn Trung Quốc
nhưng tôi có thể khẳng định với cô rằng
những sự việc xảy ra gần đây ở nông thôn Trung Quốc
chúng tôi gọi là sự kiện mang tính tập thể
chứ không gọi là bạo loạn.
Lý Cạnh Điền cũng đã ngay lập tức
nhận ra cô phóng viên này không phải là thành viên của bang phái Trung Cộng.
Người Trung Quốc sống lâu dài trong chế độ Trung Cộng
để hiểu được tình hình chân thực của cuộc diện chính trị.
Họ đã phát triển bản lĩnh siêu thường
đọc hiệu các văn kiện và báo chí Trung Cộng.
Họ rất giỏi phán đoán xu hướng chính trị của Trung Cộng
qua các câu chữ,
thứ tự sắp xếp các lãnh đạo
hoặc sự thay đổi cách đề xuất vấn đề nào đó.
Trung Cộng đã lũng đoạn tất cả
các nguồn tin tức của người dân
nên người dân bất đắc dị phải làm như vậy.
Họ có lẽ có thể phát hiện ra
một chút manh mối của những thay đổi về chính trị.
Nhưng vì phương thức giải mã ngôn từ của Trung Cộng
cũng không ngừng thay đổi,
nên cách giải mã từ phát này
tất nhiên có chỗ phiến diện và sai khác.
Hậm chí sai khác hàng nghìn lần.
Quan trọng hơn là thủ đoạn làm chính trị
bẩn thiểu này của Trung Cộng
còn không bằng cả băng đảng xã hội đen.
Người Trung Quốc sao có thể cho phép
nó tiếp tục hại nước, hại dân được.
Do Tập đoàn Trung Cộng
chiếm vị trí thống trị quốc gia
nên những từ lóng Tập đoàn,
ngôn từ xã hội đen trong ngôn từ của đảng
đã được mở rộng thành một loại từ lóng chính trị.
Từ lóng chính trị là một hiện tượng hiếm có
trong lịch sử ngôn ngữ học nhân loại.
Nó cũng chưa từng được phát hiện
trong các hình thái xã hội khác.
Nó lấy lợi ích của Tập đoàn làm nồng cốt,
khống chế mọi phương thức giao tiếp
bằng ngôn ngữ vì mục đích chính trị,
truyền bá cương lĩnh, hình thái tư tưởng hẹp hòi,
thậm chí tà ác,
dùng phương thức hoạt động của bang phái
để thay thế cho phương thức vận hành bình thường
của quốc gia và xã hội,
làm thay đổi tư tưởng và hành vi của con người,
chiếm đoạt khống chế tinh thần
và linh hồn của dân tộc.