Tăng huyết áp - Suy tim người lớn phần 2

Ôn thi Y khoa - Ths.BSNT Nguyễn Thanh Hà
569 Người theo dõi
2.4K Lượt xem video·24 thg 2, 2025
Like và theo dõi kênh của mình nhé
Cá thể ở chỗ đấy thì bác sĩ phải đối chiếu với lâm sàn
chứ không phải là cứ áp dụng theo cái sơ đồ
Thế nhưng mà cái màu đỏ là cái mà tuyệt đối không đột nạp
tức là chống chỉ định
Hoặc là có thể là cái lưu ý
Nói chung là cái quý hước của người ta
Nói chung là nó có nhiều cái sự đặc thù
Thế nhưng mà về cơ bản trong đại gia số các trường hợp
thì màu đỏ đều là cái biểu hiện là dường lạc
Giống hết như là đèn báo tín hiệu giao thông
Đỏ thì chấm dứt ở đây
Màu vàng thì lưỡng lờ lưỡng lờ
Đi nhưng mà phải cẩn thận
Nếu mà xanh thì cứ thế mà phi thôi
Thế nhưng mà đấy là cái văn minh của giao thông
Thế nhưng mà nếu như ở chúng ta thì xanh hay đỏ
thì nó tương đối
Nó phục thuộc vào cái nhìn màu của mỗi người
Thế nhưng mà các bạn thấy
thì bây giờ thì dù thế nào thì chẳng nữa
đều có cái khuyên cáo là viên phối hợp
ngay từ đầu
Mặc dù ở đây chúng ta còn thấy một cái đoạn ở giữa
là nó có một cái ôn màu vàng
Tức là ông có thể cân nhắc là sử dụng một loại thuốc thôi
Hoặc A hoặc B hoặc C hoặc D gì đó
A ở đây tức là cái nhóm thuốc mà
ICAE tức là ức chế
ức chế enzyme chuyển
Nó cũng coi như là ức chế thu thể nhé
A cái đấy là thuốc CFL-1
B đấy tức là beta-lock
tức là nhóm thuốc chuyển beta
C đấy tức là cái nhóm thuốc
Cansy channel tức là cái nhóm thuốc mà
chạy kênh Cansy
D là cái nhóm thuốc mà
lợi tiểu kháng đốt
Đây nè, lợi tiểu kháng đốt
ký hiệu là nhóm D
Thì ông thích dùng cái nào thì ông dùng
Nhưng mà khuyến khích rằng là
nên sử dụng lợi tiểu thiazit hơn
là lợi tiểu kháng đốt
Ở đây cái hình màu sao này
Các bạn đổi chiều đây nè
lợi tiểu thiazit ưu tiên hơn
Thiazit Lite tức là lợi tiểu
giống như thiazit tức là những cái thế hệ mới
của thiazit hơn là lợi tiểu thiazit được thuận
Thế còn khuyến kháng màu xanh
người ta vẫn khuyến khích nên làm hơn
Đó là sử dụng các phiên phối hợp
tức là A cộng C hoặc là A cộng D
Từ liều thấp cho đến liều thông thường
Khi A cộng C hoặc là A cộng
hoặc D mà không có khả năng kiểm soát được bệnh
thì bắt đầu dùng phiên phối hợp
cả A cộng C cộng D
Và nếu như cả 3 này vẫn không được rồi
thì ta sẽ chẳng đáng bệnh như là tăng hếp kháng trị
chúng ta cần thêm một thứ khác, ví dụ như là kháng đốt
Thế còn những trường hợp mà tăng hếp
có chỉ định điều trị bắt buộc
thì đây, các bạn thấy
Hoặc C đấy không phải là
không phải là A cộng B hoặc là chúng ta sử dụng đơn lệ HC
mà là A cộng B hoặc là A cộng C
điều kiện như vậy
Và trên một số những bệnh nhân
mà có các yếu tố nguy cơ khác
ví dụ như là bệnh thuốc đường chẳng hạn
thì chúng ta có thể sử dụng ước chế bên truyền
là cái ưu tiên hơn
Hoặc là bệnh nhân có nhiều máu cơ tim chẳng hạn
thì chúng ta có thể ưu tiên hơn về trạm beta
Thế chỉ mỗi bệnh đấy, mỗi nhóm bệnh như vậy
nó có ưu tiên một loạt thuốc với loạt khác nhau
Nhưng về cơ bản, với nguyên tác chính
vẫn là phối hợp
Thế còn đây là các nhóm thuốc, nguyên tác chính này
A, B, C, D
Bây giờ chúng ta nói về một số nhóm thuốc này
Đầu tiên là loại tiểu TSI
Cơ chế của loại tiểu này là
ước chế quá trình tá thu muối và nước
ở vị trí của
ống lượng xa và ống góc
Thông qua việc ước chế một cái canh protein vận chuyển
Vận chuyển
nét ri và cà lo
Và gây ra hiện tượng là mất nước và mất muối
Nhóm thuốc loại tiểu TSI
có 2 nhóm chính
1 là loại tiểu TSI cơ bản
2 là loại tiểu TSI thể mới
Giữa TSI cũ
Hydrochlorothiazide
và Endopamide
Endopamide
Nguy cơ địa dạng của nó
là thấp hơn so với nhóm thuốc cũ
Tức là nhóm thuốc mới đại khái là
nó ưu việt hơn so với nhóm thuốc cũ
Chính vì vậy nên bây giờ các bạn thấy
trước năm sáng hầu như người ta chỉ sử dụng Endopamide thôi
Tức là các thuốc thế hệ mới chứ người ta không sử dụng
các thuốc thế hệ cũ mấy nữa
Về ưu điểm của nhóm thuốc TSI này
thì người ta hay chỉ định cho những bệnh nhân
mà có tăng áp tâm thu đơn độc vào người lần tuổi
hoặc là những bệnh nhân có suy tìm
Nhưng mà yêu cầu là phải có
một trước nặng thật tốt
Mặc dù đây là thuốc loại tiểu
Các bạn nhớ đây là thuốc loại tiểu
nhưng mà nó lại có nguy cơ gây ra độc tính cho thật
Nó có nguy cơ gây ra độc tính cho thật
Nên những trường hợp bệnh nhân có mức lọc cầu thật
mà dưới 30 lít 9 phút
thì người ta khuyến cáo là không nên sử dụng
một cái nhóm thuốc này vì tăng những nguy cơ ngộ độc
Nhóm thuốc tiếp theo là nhóm thuốc ức chế biên truyền
ức chế biên truyền hay ức chế thu thẻ
azotensin, cái cơ chế cơ bản
nó tương đồng với nhau
Cơ chế là nó sẽ gây ra sự giãn mạch
do ức chế sự tạo hợp của azotensin 2
Về học sinh lý các bạn biết rằng
azotensin 2 là một cái thuốc
mà gây ra hiệu ứng tăng áp mạnh nhất
trong tất cả các loại hormôn
azotensin 2 là một hormôn
mà hiệu ứng có mạch của nó
thậm chí nó còn mạnh hơn cả
noradrenalin
Chính vì vậy nếu trên năm sau người ta sử dụng
một cái nhóm thuốc ức chế hoạt động của hormôn này
thì nó sẽ đạt được cái giá trị làm giảm
rất mạnh mẽ
và nó vừa làm giảm
tức là nó vừa gây ra giảm mạch
và nó vừa còn làm
hạn chế sự tái cấu trúc cơ tin
Chính vì vậy nên nhóm thuốc ức chế hoạt động này
thường được thu tiên sử dụng
trên những bệnh nhân sau nổi màu
hoặc là những bệnh nhân có đái tháo đường
có bình tĩnh có thật
thì các bạn biết rằng azotensin 2
cũng là một trong những kiêu tố
ở cái nồng độ bình thường trong máu
nó gây ra co tiểu nồng mạch đi
và làm tăng mứt là có thật
tăng nguy cơ mức kỷ niệm
khi chúng ta sử dụng thuốc ức chế
làm giảm nỗi azotensin 2
thì tiểu nồng mạch đi sẽ tự tản ra
và khi nó giảm ra
nó sẽ làm giảm mất là có thật
từ đó làm giảm mất mức kỷ niệm
bản thân thuốc này cũng có yếu tố nguy cơ
làm tăng tổn thượng thật
nên chúng ta cực kỳ cân nhắc
chúng ta ưu tiên nó để làm giảm mức kỷ niệm
nhưng bản thân nó cũng là thuốc làm giảm mất là có thật
đây là giữa vấn đề yếu tố lợi ích
và yếu tố nguy cơ là
khi chúng ta sử dụng thuốc này
thì đây là nhóm thuốc làm tăng cali máu
nên chúng ta cũng phải theo dõi
chứng năng thận
và tiện giải đồ
nhóm thuốc chẹn bêta dao cà
cơ chế là ức chế cạnh tranh
với các catecholamine trên đủ thể bêta dao cà
thường chúng ta nên sử dụng
các nhóm thuốc chẹn bêta trọn lọc
và đây là các nhóm thuốc chẹn bêta trọn lọc
nó sẽ làm hạn chế
những tác dụng phụ khác
liên quan đến bêta 1
khi chúng ta sử dụng nhóm thuốc này
thì nó có nguy cơ làm rối lặn
chuyển hóa
bêta là disrupter
liên quan đến các hoạt động chuyển hóa
trên những bệnh nhân đái thao đường
tốt nhất là không nên sử dụng nhóm thuốc này
đái đường hoặc những bệnh nhân
có bệnh lý con thấp đường thở
chúng ta không nên sử dụng nhóm thuốc này
chúng ta nên sử dụng nhóm thuốc này
cho những bệnh nhân suy tim
cơ chế của nhóm thuốc này là
giảm dòng iocassi đi vào trong tế boa cơ
từ đó gây ra rãn cơ
tác dụng phụ của nhóm thuốc này
gây ra hiện tượng là phù mạch
gây ra rãn mạch gây ra phù mạch
nhóm thuốc này thì ưu tiên sử dụng
cho những bệnh nhân có bệnh động mạch ngoại biên
vì nó gây ra rãn mạch
nó tăng tươi máu do mạch ngoại vi
chúng ta thích hợp sử dụng
cho bệnh nhân bệnh động mạch ngoại biên
các bệnh nhân lớn tuổi
đặc biệt là phụ nước quả thai
các bạn thấy đó
đối với phụ nước quả thai
thì cực kỳ ít thuốc
có thể sử dụng được
khi bệnh nhân này có tăng áp
chúng ta chỉ có trong tay
nhóm thuốc ước chế thần kinh
do cạp trung gương
hoặc là chạy kênh caxi
ngoài ra nữa chạy kênh caxi
đây cũng là thuốc được sử dụng
trong điều trị tăng áp cấp cứu
đây là các chống trị định
mà các bạn cần phải lưu tâm
ví dụ như là tiểu thia rít
đó là ước chế quá trình thả
cho nên những bệnh nhân bị gút
là chống trị định bắt buộc
những bệnh nhân có chống trị định tương đối
là hội chứng chuyển hóa
không dùng nạp hoặc mang thai
các bạn để ý ở đây
chúng ta thấy có rất nhiều thuốc điều trị tăng áp
liên quan đến vấn đề hội chứng chuyển hóa
chính vì vậy nên những bệnh nhân đài theo đường
theo những quan sát của mình
ngày xưa khi đi làm xà
thì ở đấy hầu như tất cả bệnh nhân đài theo đường
đều được điều trị bằng mối huyết cơ bản
đó là chạy kênh caxi
rất rất an toàn
tại sao không sử dụng ước chế biên truyền
bởi vì những bệnh nhân đó
cũng không phải bệnh nhân nào
cũng có biểu hiện của vụ truyền hiệu
khi mà không có vụ truyền hiệu
mà các bạn sử dụng nhóm thuốc này
chiên bệnh nhân chỉ qua đai theo đường
và kèm theo giá trị áp bình thường cao
chúng ta đã được xếp vào nhóm nguy cơ cao
để điều trị tăng áp
mặc dù có số áp thực sự không phải là cao
đấy là sự khác biệt khi có bệnh nhân theo đường
thì người ta chỉ chủ yếu là cho sử dụng chạy kênh caxi thôi
đó là cái ngày xưa
khi mà mình đi học biết mình để ý
gần như là 100 bệnh nhân
đến 90% bệnh nhân là sử dụng
cái thuốc này
còn những nhóm thuốc ước chế biên truyền
thì vừa nãy chúng ta đã phân tích rồi
những chống trình tương đối là chúng ta cân nhắc
khi mà phụ nữ đang cho con bú
khi không vệ pháp ngửa thai
tức là những nhóm thuốc này
nó có nguy cơ gây ra các dị tật thai nhì
nếu như mà phụ nữ này
đang không mang thai nhưng mà chỉ cho con bú thôi
thì vẫn có thể sử dụng được
nếu như người phụ này không có ý định mang thai
còn nếu người ta có ý định mang thai
thì tuyệt đối không sử dụng 2 nhóm thuốc này
vì đây là 2 nhóm thuốc mà đã được khẳng định
là có liên quan đến
các dị tật thai nhì
với những nhóm thuốc bên trên các bạn thấy
người ta không nói gì về vấn đề thai thiết gì cả
ví dụ như đây chỉ là chống trình tương đối
mang thai 2 chiếc máy tay
người ta không nói đến
không có nghĩa là có thể sử dụng được
ngoài vì người ta cũng không có bằng chứng cụ thể
nên là người ta cũng không đề cập đến đây
còn đối với trường hợp tăng hấp kháng trị
thì cái cơ bản nhất các bạn
cần phải lưu ý trước khi mà chúng ta quyết định
là đưa nâng bậc điều trị cho bệnh nhân
đó là phải khẳng định được
là bệnh nhân này có thực sự
bị tăng hấp kháng trị hay không
có thể người ta tăng hấp kháng trị
tăng hấp kháng trị theo kiểu áo trắng trắng
đấy là cái trường hợp thứ nhất
rất là giả kháng trị
tức là nhà bệnh nhân ấy rất tuân thủ
trong cái điều trị
tức là nhà bệnh nhân ấy tự đo được
lúc nào cũng trong cái giới hạn kiểm soát tốt
thế nhưng mà cứ khi vào viện người ta lại tăng
đấy là người ta gọi là giả kháng trị
còn những cái trường hợp khác là gì
là bệnh nhân ấy không tuân thủ điều trị
ví dụ bảo là bây giờ tăng hấp rồi
về uống, đừng uống rượu nữa
vận động nhiều hơn, đừng ngồi một chỗ nữa
đừng hút thuốc nữa
nhưng mà ngày vẫn phải đá một bao
có thuốc tiên thì cũng trả khỏi
những trường hợp đấy thì rõ ràng là xác định
chắc chắn bệnh nhân ấy sẽ là kháng trị
nhưng mà mình cũng phải loại trừ
bởi vì là khi mà người ta cứ kiên trì
vấn đề là không tuân thủ chặt chẽ về thay đổi lối sống
thì chúng ta có tăng thuốc đến mấy
thì cái hiệu quả đó sẽ chỉ đạt được trong một thời gian
rồi nó sẽ đến hậu quả hoài cùng là kháng trị
nên tốt nhất là phải khuyên bệnh nhân thay đổi lối sống
chính vậy nên các bạn mới thấy
cái bài đầu tiên là tăng hấp
mình sẽ sang luôn cái nội dung thứ 2 nhé
là bệnh lý suy tìm
sau khi bệnh lý suy tìm này
thì các bạn sẽ nghỉ giải la một lúc
trước khi mình vào cái nội dung cuối cùng
trong cái bần bệnh lý suy tìm này
thì chúng ta sẽ được rút gọn lại
về vấn đề điều trị
bởi vì trong điều trị thuốc suy tìm
có rất nhiều thuốc và chúng ta nói đến
trong điều trị tăng hấp rồi
nên là vấn đề về các tác dụng phụ
chỉ định
các chống chỉ định của các thuốc đấy
mình sẽ không nhắc đến trong bài suy tìm này nữa
chỉ nhắc đến sơ đồ điều trị của nó thôi
một trong những điểm các bạn thấy
trong tim hành là người ta sơ đồ hóa
sơ đồ hóa rất nhiều
những cái kiến thức
mà chúng ta cần phải ghi nhớ
tức là nó logic hóa mọi vấn đề
khi chúng ta sơ đồ hóa rồi
tức là chúng ta hiểu
rút gọn lại được là nó có tính logic rất cao
nên các bác sĩ tìm hành các bạn thấy
vì sao tìm hành vẫn được coi là
cao với y học
đặc biệt ở Việt Nam chúng ta
bác sĩ tìm hành được đánh giá rất cao
trong các chuyên ngành
bây giờ mình nói đến
cái vấn đề quay trở lại
về nội dung bài học, mình nói đến vấn đề suy tìm
suy tìm được định nghĩa là
tình trạng bệnh lý trong đó không tháp ứng được
nhu cấu gì có thể trong mọi tình huống
sinh hoạt của bệnh nhân
cái khái niệm suy tìm
đã được áp dụng từ rất lâu nay rồi
đều là đến một hậu quả
đó là giảm cung lượng tìm
không tháp ứng được nhu cầu
thực tế trước năm sáng chúng ta biết rằng có rất nhiều trường hợp
bệnh nhân suy tìm là suy tìm tăng cung lượng
chứ không phải là suy tìm giảm cung lượng nữa
nhưng mà suy cho cùng
đối với trường hợp suy tìm tăng cung lượng
nó cũng dẫn đến một hậu quả
đó là trong tương lai
bệnh nhân cũng sẽ bị giảm cung lượng
vì cái quả tìm chúng ta khi nó bắt đầu bị suy
ví dụ khi bệnh nhân có thiếu máu
khi bệnh nhân có cường giáp
nó tăng cái cung lượng lên
là do cái tác động của cái quá trình
của cái hormone nội tiết
khi thiếu máu thì nó sẽ tăng cường
cái hoạt động, tăng nhiệt tìm
khi mà có cường giáp
thì cũng là tăng nhiệt tìm
thế nhưng mà
một cái quá trình tăng nhiệt tìm đấy nó không thể nào tồn tại
kéo dài mãi như thế được
quả tìm thì nó không thể nào sống mãi
nó cứ nhịp đập liên tục lên hồi
nó cần phải có một lúc nó nghỉ
nên nó cứ nhanh mãi vậy thì dẫn đến cuối cùng
cũng dẫn đến là giảm cung lượng
đúng nhờ, nên là người ta sử dụng
một cái định nghĩa trung như thế
cho hầu hết tất cả ngoài bệnh lý suy tim
về mạng lâm sản thì suy tim nó chỉ là
một hội chứng không phải là bệnh lý
chính như vậy nên là yêu cầu đạt ra cho
người bác sĩ tìm mạnh đó là phải tìm được nguyên nhân
đây là suy tim cụ thể nó là cái gì
đây là sinh lý bệnh suy tim
đây là cái sơ đồ kinh điển nhất được nhắc đến
trong bệnh lý suy tim
chúng ta vừa nói đến suy tim bản chất
là do giảm cung lượng tim
bây giờ mình mới xem xem những yếu tố nào
nó ảnh hưởng đến cung lượng tim này
các bạn thấy đây tất cả những yếu tố
nó sẽ làm ảnh hưởng đến cung lượng tim
chúng ta sẽ phân tích những yếu tố này
để chúng ta xác nhận được các nguyên nhân
có thể gây ra suy tim trên lâm sản
thứ nhất yếu tố cơ bản nhất đây
nó là thể tích nhất bóp
rõ ràng với cung lượng tim của chúng ta
nó là thể tích nhất bóp
khoảng một lần bóp
nhân với tần số
nhân tần số trong một phút
chúng ta sẽ ra được tổng cung lượng tim
trong toàn một nếp bóp đấy
trong một phút
đó chính là giá trị cung lượng tim
mà chúng ta cần tính
thế thì yếu tố cơ bản nhất đây
chính là lượng máu tống đi được
hay nó chính là thể tích nhất bóp
bây giờ muốn con máu tống đi
thì nó cần những yếu tố gì
thứ nhất là một khối cơ tim nguyên vẹn
một sức cơ bóp cơ tim phù hợp
vừa phải, không quá mạnh
và cũng không quá yếu
để tạo ra được thể tích nhất bóp là tối đa
cái thứ 2 nữa là nó cần có máu đổ về
bây giờ các bạn hình dung
một thời gian trước đây
các bạn thấy là có thường xuyên đưa
cái ví dụ mà
một bác sĩ trẻ mới ra trường
tức là trong quá trình mà ông ấy cấp cứu phản vẹn
thì ông ấy thấy bệnh nhân
càng sử dụng adrenaline thì bệnh nhân
càng có tình trạng là
tù truy nát
và mình nghĩ ra một vấn đề là
có phải chăng hay là bệnh nhân ấy bị dị ứng
với adrenaline
nhưng một điều cơ bản nhất mà các bạn thấy là
cây đấy mặc dù mình thấy thường xuyên được đưa
trên facebook
cách mấy tháng mình lại thấy xuất hiện một lần nhưng mà thấy
thực ra cây lâm sàng đấy
nó chẳng có cái gì
gọi là chuẩn
thực sự đấy là cái góc nhìn đánh giá của mình
bởi vì rõ ràng một bệnh nhân sốc phản vẹn
một bệnh nhân có sốc
tuyệt đối là chúng ta không được sử dụng mỗi vận mạnh
đúng kìa, định nghĩa sốc
là khi mà chúng ta sử dụng truyền dịch
mà không nâng được hết bệnh nhân lên
cần phải có vận mạch thì đấy được coi là sốc
rõ ràng một bệnh nhân bị phản vẹn độ 3
tức là bệnh nhân chúng ta đạm quan là bệnh nhân ấy bị sốc
sốc phản vẹn
thì rõ ràng là không thể nào chúng ta chỉ sử dụng nhồi mỗi adrenaline được
mà chúng ta phải cho bệnh nhân ấy truyền dịch
đúng không, phải có dịch
thì mới có máu để tống đi được
chứ còn nếu ông chỉ cho vận mạch không có dịch
thì rõ ràng đấy nó gây ra hiện tượng nó có bóc
gọi là siết mạch chống
trong bài hộp đấy nói đúng thần ngưỡng là siết mạch chống
tức là có bóc thì chỉ có có bóc thôi
nhưng mà không có máu để tống đi
đúng kìa, thế nhưng mà dù sao thì
khi người ta đã chia sẻ
nó cũng sẽ mang một tình trận kinh nghiệm
tương lai chúng ta có nguyên cơ chúng ta sẽ gặp
thì mình sẽ tôn trọng giá trị
và kinh nghiệm của bác sĩ đấy
chứ còn về vấn đề điều trị thì đấy cũng không phải
là một điều trị chuẩn
ngay từ đầu với những trường hợp bệnh nhân có sốc phản vẹn
thế thì đối với thể tính nhân bóc
thì các bạn thấy rõ ràng là nó sẽ không chỉ
nào phụ thuộc vào cái sức của bóc cơ tim
mà nó còn phụ thuộc vào có máu đổ về hay không
không có máu đổ về, ví dụ bệnh nhân thiếu máu
bóc máu cấp chẳng hạn thì cũng không thể nào đạt được
cái giá trị cung cơ tim mặc dù là cái quả bóc
cái khối cơ tim đấy vẫn hoạt động bình thường
cái thứ 3 nữa là học gánh
tức là cái sức cản ấy, nó chính là
cái giá trị hết tâm trương mà Trang đã vừa nói đến
bây giờ một quả tim có bóc rất tốt
lượng máu đổ về dồi dào
nhưng mà nó bịt mất đường ra rồi
giống như kiểu tóc bồn cầu
thì làm thế nào, chúng ta chỉ có thông thôi
chỉ cần làm thế nào nữa, đúng không
đây chính là cái học gánh
thì với 2 yếu tố này nó sẽ quyết định nên
là cái thể tích nhân bóc tống đi được
trong một lần bóc của quả tim
thế còn cả cái cung lượng tim của chúng ta
nó sẽ còn phụ thuộc vào cái tần số của tim nữa
cái tần số của tim
với lý thuyết chúng ta thấy rằng là
cái cung lượng tim nó sẽ
bằng quy
quy
tức là cái cung lượng tim
bằng quy S, tức là thể tích của một nhát bóc
nhân với lại F, tức là tần số của tim
Như vậy là
có thể hiểu được rằng là
cái mối quan hệ giữa cung lượng tim và tần số tim
nó là mối quan hệ theo tỷ lệ thuận
tức là tần số tim mà tăng thì không được tim tăng
nhưng thực tế có phải vậy không
thì giống như vừa nãy chúng ta nói
khi mà tần số tim vượt quá
cái ngưỡng mà quả tim đấy có thể chịu được
thì cung lượng tim lúc đấy
nó không tăng nữa mà nó còn giảm
đó là khi nào?
đó là khi mà tần số tim nó quá nhanh, ví dụ
trong sinh lý chúng ta nói rằng là
bình thường nhịp tim khoảng 70 lần 1 phút
khi mà tần số tim trên 140 lần 1 phút
thì dẫn đến là gì?
dẫn đến là giảm cung lượng tim
chứ nó không có mối quan hệ động bến nữa
mà hôm nay nó trở thành mối quan hệ nghịch biến
Các hỏi ra là
theo các bạn tại sao khi tần số tim tăng quá nhanh
thì cung lượng tim nó lại giảm
là do nó bị rút ngắn
Cái này đã được phân tích rất kỹ
khi các bạn học về sinh lý rồi
đây thì có nhiều bạn mới tham gia khóa học đầu tiên
chưa được học, có thể chưa nghe qua
về vấn đề khái niệm
liên quan đến giảm là giam đổ đầy thất
thì các bạn hình dung một cách đơn giản là như này
bình thường
một chu kỳ tim của chúng ta
nó sẽ rơi vào tầm khoảng 0,7 giây
trong đó thì có 0,3 giây là tông máu
và 0,4 giây là đèn nhận màu
trung bình là như vậy
tương ứng với là
1 trong 1 phút có khoảng 70 lần
bây giờ nhịp tim tăng lên 140
thì nó sẽ rút ngắn
cái thời gian
một chu kỳ tim này
xuống khoảng 0,35 giây thôi
rút ngắn đi đúng một nửa
thế thì khi đấy
thời gian đổ đầy thất lúc này chỉ khoảng 0,2 giây thôi
và thời gian tông máu lúc này
chỉ khoảng 0,15 giây
rõ ràng nó sẽ làm giảm thời gian
để nhận máu
giảm thời gian giãn thất để nhận máu về
tức là
nó giảm cái này này
tức là khi mà tầng số tim tăng lên
thì nó lại làm giảm cái tiền gánh
giảm tiền gánh
thì nó sẽ dân đến là
giảm cái cung lượng tim
đấy là lý do tại sao
khi tầng số tim tăng thì cổ tim lại nhận giảm
thế nên là những trường hợp mạnh vừa đấy
con nói là suy tim mà tăng cung lượng
nó chỉ là tăng
trong một giai đoạn nhất thời ban đầu
chứ còn sau này
chắc chắn là nó sẽ giảm
thế còn đương nhiên rồi
tất cả những yếu tố này
cũng cần thêm một cái tính nữa
đó là sự đồng bộ của tim
sự toàn vẹn của các buồng tim và các hoa tim
thì đấy nó sẽ tạo nên được cái giá trị
cung lượng tim là tốt nhất
thế còn đây là các yếu tố nguy cơ
dẫn đến suy tim và hậu quả của nó
thì
thực ra thì cái sơ đồ này
nó chỉ minh họa cho chúng ta một cái điển hình nhất
đó là
dẫn đến một cái tình trạng là nhiều máu cơ tim
từ đó gây ra suy tim thôi
chứ còn trực tế trên đâm sàng thì có rất nhiều
các vấn đề khác gây ra suy tim
chứ không chỉ có một vấn đề này
sơ này nó chỉ mang chất là minh họa
đây là quá trình tái cấu trúc cơ tim
khi mà có hiện tượng tăng gánh tim
đầu tiên là quả tim nó sẽ phỉ đạn
sau đấy nó sẽ bị giảm
và cuối cùng nó có hiện tượng
là tái cấu trúc
tức là các bạn hình dung là
một cái phần mô cơ tim
nó bị hủy hoại
và thay thế bảo đó bằng một cái mô sơ
nơi có mô sơ thì nơi đấy không có
chức năng có bóp gần như là nó bất động
nó chỉ di động theo
sự di động của các thành tim bên cạnh mà thôi
bản thân nó không có
khả năng có bóp
hoặc là có có bóp thì cũng rất yếu
gây ra một hiện tượng là cái buồng
vị trí mà có sự tái cấu trúc
các bạn thấy rằng nó bị giảm
nó cứ giảm thế thôi
nó dễ dàng để trưa máu thôi
chứ nó không có khả năng tông máu đi được
đấy là cái hợp phản
là lâu dần bệnh nhân sẽ rơi vào
tình trạng là gì
là giảm cái khả năng tươi máu ra ngoại vi
chính vì vậy trên nền
những bệnh nhân bị suy tim mạng tính
các bạn thấy thi thoảng người ta đã có cái đợt cấp
bởi vì là quá trình tích lưỡi này
nó cứ ứ chẹ lâu dài
cho đến khi bệnh nhân mất đi cái giá trị cung cộng tim
là người ta sẽ suy tim cấp để vào viện thôi
về phần loại suy tim
chúng ta có suy tim cấp và suy tim mạng
suy tim cấp thì bệnh lý đặc trưng của suy tim cấp
đó là giảm tê máu
trong hầu hết các trường hợp bệnh lý điển hình nhất của suy tim cấp
đó là giảm tê máu
thế còn suy tim mạng tính thì ngược lại điển hình nhất
đó là ứ chẹ máu
đối lại dựa theo vị trí là có suy tim trái
suy tim phải và suy tim toàn bộ
trên lâm sàng thì chúng ta hay phân loại nhất
là sữa và suy tim trái, tải và toàn bộ
tức là trái sữa dựa và triệu chứng
rồi giờ đấy chúng ta mới xác định về nguyên nhân
thông thường tư duy trên lâm sàng là như vậy
suy tim tâm thu hay tâm trương
tâm thu tức là giảm khả năng tầm máu
thường gặp trong suy tim cấp
suy tim tâm trương
tức là giảm khả năng
giảm khả năng trữ máu
thường gặp trong suy tim mạng tính
biểu hiện là bệnh nhân lấy xác vị ứ chẹ máu ngoại vì
suy tim giảm công lượng
là đại đa số các trường hợp
suy tim tăng công lượng là giai đoạn sớm
của một vài tình huống đặc biệt
ví dụ như là thiếu máu hay là cường rác
về các nguyên nhân gây ra suy tim trái
chúng ta có tăng áp động mạch
chúng ta có số các bệnh nghí van tim, tổn thương cướp tim
thì những này các bạn đọc thêm
ở đây chỉ có
một cái lưu ý với các bạn
đó là các dối lại nhịp tim
cái này trong Nhi Khoa đã từng nhắc đến cho các bạn rồi
đó là không phải dối lại nhịp tim nào
chúng ta cũng đổ đến nguyên nhân gây ra suy tim được
đúng không
ví dụ bây giờ một bệnh nhân khi người ta có suy tim
là người ta sẽ có nhịp nhanh
với một người bệnh nhân mà có một nhịp nhanh
120 lần 9 phút thì nó không đủ để gây ra suy tim
mỗi suy tim được
mà do nhịp nhanh thường nó phải có rung nghĩ
tức là tần số nó phải lên đến
hơn 200 lần
hoặc là có các
nếu như là nhịp chậm thì nó phải là block nhịp thất cấp 3
chẳng hạn
nó mới có khả năng gây ra suy tim
chứ không cần nếu nhịp chậm soan
ví dụ như là nhịp khoảng 50
hoặc là block nhịp thất cấp 1
cấp 2 không thể gây ra suy tim được
nên là các bạn phải lưu ý
trong vấn đề là khi chúng ta đánh giá một cái dấu đoạn nhịp
phải nghĩ xem là liệu
cái đấy nó có thể gây ra suy tim hay không
hay ngược lại là hậu quả của suy tim
và đây là triệu chứng
của bệnh nhân suy tim trái
thì ở đây người ta không nói đến
suy tim cấp hay suy tim mạng
nên là cái biểu hiện của nó là biểu hiện vừa có tình trạng
ưu trệ máu và vừa có biểu hiện giảm tươi máu
ưu trệ máu ở đây
các bạn sẽ nhìn thấy trong phổ
như thế này có tình trạng ưu động dịch
tức là có nguy cơ của phủ phổi cấp
có nguy cơ của cơn hen tim
cơn hen tim nó là cái gì
tức là buổi đêm khi chúng ta ngủ
tình trạng phó da cảm nó tăng lên
làm giảm hành động của tim nó sẽ tăng
cái nguy cơ ưu trệ máu ở trong phổ
gây ra phủ phổi cấp
phủ phổi cấp thoáng quá
bệnh nhân sẽ xuất hiện tình trạng khó thở đột ngột
và người ta bật dạy để thở
giống hết như là cơn hen vì nó hay xuất hiện
vào buổi đêm gần sáng
nên người ta gọi là cơn hen tim
nhưng bản chất nó khác nhau
bản chất của 2 bệnh nhân khác nhau
cơn hen thật là bệnh lý về được thở
còn cơn hen tim này là bệnh lý về suy tim
nó khác hẳn nhau
ưu trệ là biểu hiện có tình trạng suy tim trái
điển hình nhất là bệnh nhân sẽ có khó thở
và tăng dần lên theo thời gian
ngoài ra nữa thì các biểu hiện
có giảm tưởng máu ngoại vi
bệnh nhân sẽ có mệt mỏi, cảm giác yếu
đúng không
đây là những biểu hiện thường xuyên thường khắc nhất
bởi vì khi giảm cung lượng
cung cung tim giảm tưởng máu ngoại vi
thì sẽ không cung cấp đủ oxy
cho các cơ quan hoạt động
nên thường xuyên cảm thấy mệt mỏi
cảm thấy buồn ngủ
và không có sức lực để thực hiện
những hoạt động kháng sức
hoặc hoạt động trí ốc
đến mức độ nặng thì hầu như bệnh nhân chỉ có nằm 1 chỗ
đây là về các nguyên nhân gây ra suy tim phải
trong các nguyên nhân gây ra suy tim phải
thì các bệnh lý điển hình nhất
chúng ta nhắc đến trong các trường hợp
đó là các bệnh lý tâm phế mạng
đấy là bệnh lý thường gặp nhất
đôi khi chúng ta có thể gặp 1 tình huống
đó là bệnh nhân suy tim phải
nhưng lại có 1 biểu hiện
giống như suy tim trái
đó chính là bệnh lý hẹp 3 lá
3 lần nữa chúng ta sẽ được học
đây là triệu chứng của bệnh nhân suy tim phải
thể hiện cho tình trạng ứ trẹo ngoại vi
bạn sẽ nhìn thấy bệnh nhân có phủ
bệnh nhân có cổ trướng
bệnh nhân có gan to
có tinh mạch cổ nổ
thế còn triệu chứng liên quan đến giảm tầm máu phổ
thì nó sẽ không rõ ràng
các nguyên nhân gây ra suy tim tầm bộ
thì thường gặp nhất là suy tim trái
tiến triển thành suy tim tầm bộ
suy tim phải cũng có thể tiến triển thành suy tim tầm bộ
nhưng rất chậm và mất rất nhiều thời gian
đây các bạn hình dung là khi mà suy tim phải
nó sẽ cái hậu quả nó là giảm tầm máu lên phổ
bệnh nhân sẽ có biểu hiện còn thiếu oxy
thì khi đó nó sẽ có
rất đến một loạt những vấn đề
ví dụ như là
bệnh nhân sẽ có hiện tượng cô đọc máu
ra học cầu, tăng hoạt động cỏ tim
để bù trừ cho cái tình trạng
thiếu oxy do
hạn chế khả năng trao đổi khí
với tất cả những cơ chế như vậy thì dẫn đến
với cùng bệnh nhân bị suy tim trái
đấy như vậy là cái quá trình từ suy tim phải
chuyển thành suy tim trái là một quá trình cực kỳ lâu dài
khi mà bệnh nhân suy tim trái
thì tiến triển thành suy tim bên phải
thì rất nhanh
vì sao vậy? bởi vì khi bệnh nhân suy tim trái
ưu trệ máu phổi thì lập tức
nó sẽ cản trở sự lưu thông toàn hoàn của
hệ thống tiểu toàn hoàn
và nó sẽ làm tăng áp phổi
quả tim bên phải
bắt buộc là phải sử dụng một cái áp lực
mạnh hơn, lớn hơn để thắng được cái sức cản nó
thì nó dẫn đến rất nhanh là
quả tim bên phải thôi
bởi vì cái khối cơ tim phải nó rất yếu
nó không mạnh như khối cơ tim trái
nên chỉ cần một cái sức
các bạn thấy nhé
cái web đọc máy chủ ấy
140 trên 90
chúng ta mới chẳng đoán tăng áp phỏng khám
thế nhưng mà cái áp lực độc mạnh phổi chỉ cần trên
2 năm là chúng ta đã chẳng đoán tăng áp độc mạnh phổi rồi
và sẽ chứng tỏ là cái mức độ
khả năng chịu được gánh năng quả tim bên phải
là rất thấp, nên là suy tim trái
tiến triển đến quả tim bên phải là cực kỳ nhanh
nhưng ngược lại thì rất chậm
về các xét nghiệm thâm dò
cận lâm sàng, chúng ta có
những cái xét nghiệm cơ bản, đó là trụm ít
quả tim phổi, các bạn thấy cái bóng tim to
cái quy tắc là như sau
từ cái đường giữa của cơ thể
tức là các bạn kẻ 1 cái đường thẳng
đi qua chính giữa cơ thể
sau đấy từ cái đường giữa đó
thì các bạn sẽ lần lượt cho những cái đường vuông góc
sang bên trái
đến cái vị trí nào mà các bạn xoắn định
đấy là cái vị trí xa nhất của cái bóng tim bên trái
ví dụ ở đây chẳng hạn
tiếp lần bóng tim phải nó ở đây chẳng hạn
thì các bạn kẻ lần lượt 2 cái đường đấy
sau đấy các bạn sẽ cộng 2 cái giá trị đấy vào
và chia tỷ lệ
cho cái
cái đường kinh lớn nhất của cái lồng ngực
thì các bạn sẽ xoắn định
đấy là vị trí đỉnh của cái bóng
tức là cái phần thấp nhất của cái
vòng hoành phổi
các bạn kéo ra
thì các bạn sẽ chia tỷ lệ đấy nếu lớn hơn 15
tức là bệnh nhân đấy có bóng tim to
tránh một số trường hợp
là các bạn kẻ 1 đường thẳng vuông góc
cắt ngang qua đường giữa
đi qua 2 bờ của tim
các bạn xoắn định đây là
cái bờ bên trái
xa nhất đúng không
các bạn kẻ luôn 1 đường thẳng
đi từ bên đây sang bên đây
dừng lại ở đây
không phải cách tính như vậy là xa nhé
vì dù ở đây là xa nhất
ở đây là xa nhất
chúng ta phải cộng
cái đường thẳng dài nhất
tức là cái phép tính dài nhất đấy
nó có thể không cùng nằm trên 1 đường thẳng
ví dụ như ở đây chẳng hạn
ví dụ như ở đây nó có thể
cùng nằm trên 1 đường thẳng này
nhưng ở đây nó có thể nằm trên
2 đường thẳng khác nhau
đấy là 1 cái mà mong các bạn lưu ý
trong việc đánh giá chỉ sổ tim ngực
ngoài chỉ sổ tim ngực ra chúng ta có thể thấy
những hình ảnh có tình trạng ứ dịch
ở trong phổi, ví dụ như các đường keo lay
điện tâm đồi, siêung tim
siêung tim này đặc biệt là rất quan trọng
trong việc giúp chúng ta đánh giá được
cái chức năng tâm thu
chức năng tâm thu ở trái
và cũng như là có thể xác định được
rất nhiều các nguyên nhân gây ra suy tim
thông qua công cụ siêung tim này
chính vì công cụ siêu tim này nó quá mạnh rồi
nên bây giờ các bạn thấy cái giá trị
chẳng đoán suy tim dựa trên x-quang là
không còn nhiều ý nghĩa trên lông xàm nữa
nhưng mà nó vẫn có thể sử dụng
thì đây là hình ảnh
suy tim trái này, đây là suy tim phải
tại sao biết được như vậy
bởi vì các bạn sẽ dựa vào vị trí
của cái mỏm tim
suy tim trái thì cái mỏm tim sẽ bị trách xuống
bởi vì đây là diện thất trái
khi diện thất trái nó phi đạn
nó sẽ đẩy cái mỏm tim trách xuống
còn đây là diện thất phải
khi phi đạn thất phải nó sẽ đẩy cái mỏm tim hách lên
tim này người ta gọi là tim hình hya
tim hình hya giống như trăm tâm phế mạng
tim thẳng, tim hình hya các thứ đấy
các bạn nhìn thấy nó giống như cái mũi dày
đây chính là cái phần mũi dày
đây là cái đế dày, đây là cái cỏ dày
người ta gọi đấy là tim hình hya
còn đây là đường Kele
đường Kele về bản chất
bản chất nó là những cái
tình trạng có ứ dịch hoặc là viêm nhiễm
ở tổ chức kẽ và phổ
đường Kele nó chỉ thể hiện cho các bạn đi phổ kẽ thôi
đi phổ kẽ đấy có thể là viêm hoặc là ứ dịch
thì nếu mà là trường hợp ứ dịch
thì cái đường Kele điển hình nhất là đường Kele Bay
thường gặp nhất là các đường M
nó sẽ nằm ở vị trí ngoại vi của phổ này
đó
và nó gợi ý cho cái tình trạng
là liên quan đến
nguy cơ của phủ phổi cấp
tức là ứ động dịch ở khoảng kẽ
thế còn các đường Kele khác
thì đường Kele A
thì chúng ta hay gặp trong
tình trạng viêm, cũng có thể gặp
liên quan đến cái trạng ứ động dịch
ở khoảng kẽ trong tiền phủ phổi cấp
nhưng mà thường thì các bạn biết rằng là khi mà
phủ phổi cấp ý, người ta mô tả
chữ trứng là gì nhỉ, là thủy chiều dâng
nước dâng lên từ thấp cho đến
thấp dần cho đến cao dần
từ thấp đến cao
nên là cái đường Kele Bay thường
sẽ đặc hiệu hơn, còn vấn đề suy tin
thế còn đường Kele C hay đường Kele D
thực ra nó chỉ là những cái
sự trồng chéo của cái đường Kele
ở hai bên của phổi thôi
ví dụ như khi đường Kele B này, các bạn chiếu
sang cái đường Kele B của phổi bên đối diện
nó tạo ra những cái đường nó cắt nhau
thì đấy là trên cái phim trục nghiêng
chúng ta mới thấy được những cái đường Kele C và đường Kele D này
nhé
vậy đấy là nói một chút nữa cho các bạn
về cái khái nghiệm của đường Kele
ngày xưa thì mình cũng tìm hiểu về
cái thuật ngữ này
nhiều khi chỉ làm sáng
mình cũng không hiểu lắm nó là cái gì cả
tìm hiểu thêm một chút cho các bạn thôi
ví dụ như các bạn nhìn thấy
ở đây này
cái hình ảnh này không điển hình lắm
có, đây này
các bạn nhìn thấy có một cái đường
rạch mà mờ này không
ở đây chỗ này nhìn không được rõ lắm, chắc độ phân giả là thấp
đây là hình ảnh mà mình muốn chụp
để minh họa cho cái đường Kele B
nhưng mà hình ảnh không được sắc nét lắm
đây là điện tâm đồ
điện tâm đồ thì
chúng ta có một cái bài hôm sau chúng ta sẽ phân tích
xe ôm tim
đây là phác đồ để chẩn đoán suy tim
sau khi mà chúng ta đã làm
tất cả những thứ bên trên
đây là một cái phác đồ giúp chúng ta chẩn đoán suy tim
chúng ta sẽ dựa vào chữ chứng cơ năng
hoặc là chữ chứng thực thể của suy tim
do có bất thường về cấu trúc hoặc chữ năng gì đó
chúng ta đại khái đã chưa xác định nguyên nhân
chúng ta sẽ dựa vào các chữ chứng để khẳng định
bệnh nhân này có các chữ chứng của suy tim
sau đấy chúng ta sẽ
xác định bởi ít nhất một trong các dự kiện dưới đây
hoặc là bệnh nhân này còn tăng nầm độ
của peptide bài niệm
peptide bài niệm nó là cái gì
nó là cái chất mà do
cơ tim của chúng ta tiết ra
bản chất nó là một học môn
sau này có tác dụng là gây ra tăng thải nước
và thải muối ổng thận
để làm giảm cái lượng máu đổ về tim
tức là nó làm giảm tiền gánh
làm giảm mức độ hoạt động của tim
các bạn biết là khi
mà chúng ta bình thường
tiền gánh là cơ tố duy trì
công dụng tim nhưng khi
chúng ta bị suy tim rồi thì chúng ta phải cố gắng
làm sao để giảm mức độ hoạt động của tim
xuống thì chúng ta phải
tìm cách giảm
tiền gánh này
thì quả tim chúng ta nó cũng hoạt động theo cơ chế như vậy
nó giảm được ngay bằng cách tăng bài tiết
ra học môn này
hoặc là chúng ta có các trưng cư khách quan khác
hoặc là có tình trạng ưu huyết phổ
hoặc là ưu huyết hệ thống
cách quan khác nó là như nào
tức là cái mà ai cũng có thể đánh giá được
ví dụ các bạn có thể chụp phim
đi phổ nhé, đấy là bằng những khách quan
thế nhưng mà bây giờ các bạn bảo là các bạn nghe
phổ thì có ra nằm thì đấy là cái chủ quan của chúng ta
khác không đánh giá được
thậm chí là có 10 bác sĩ nghe
bảo đều có ra nằm ở phổ
nhưng đấy vẫn là cái chủ quan
và có thể một ông bác sĩ trả lời này nào
đấy ông bảo tôi không tin
nhưng mà khi chụp phim lên thì
ông bác sĩ trả lời này cũng phải tin rồi
vì đấy là trưng cư khách quan
thế còn đây là định nghĩa
đấy là cái định nghĩa toàn cầu về suy tim nhé
đấy là cái tiêu chuẩn này
tiêu chuẩn này đưa ra một trần đoán
là bây giờ này có hộ trứng suy
nó chỉ dùng lại với trần đoán hộ trứng thôi
chứ chưa xác định nguyên nhân
thế còn đây là nói về cái giá trị nồng độ
viếp thích bài niệm giúp trần đoán suy tim
thì đây chúng ta đề cập cái thuật ngữ
là tăng nồng độ đúng không
thì bây giờ mình biết thế nào nó tăng
tăng thì đối với những trường hợp
bệ nhân mà từ ngoại trú đi vào viện
tức là chúng ta chưa có
dữ liệu gì về bệnh sử chức đó
của bệ nhân này, chưa có
quá trình theo dõi về nồng độ của PNP
thì chúng ta sẽ xác định là như này
PNP lớn bằng 3 năm
hoặc là NTPP
tức là cái độ PNP này
thì nó là cái yếu tố tiền chất của PNP
nó tăng cái tính chất
tính chất đặc hiệu hơn so với PNP
thì cái giá trị của nó lần lượt
để chúng ta than chiếu là như thế
thế một khi bệ nhân đã nhập viện rồi
hoặc là bệ nhân này đã có
một cái bệnh sử trước đây mình biết được bệ nhân này là có
suy tim rồi, bây giờ bệ nhân đấy
vào viện vì một cái đợt cấp mới
thì cái ngưỡng để nó đưa ra trần đoán là nó phải
cao hơn, vì các bạn hình dung là
một bệ nhân bị suy tim mạng, thì vốn dĩ
cái nồng độ trước này nó luôn tăng
cao trong máu hơn so với
người bình thường, khi người ta xuất hiện đợt cấp
thì cái nồng độ trước này nó sẽ còn tăng
lên nữa, chính vì vậy nên là
cái giới hạn để trần đoán
một bệ nhân suy tim cấp trên nền
mạng tính dựa vào PNP
là nó sẽ cao hơn
so với bệ nhân mà chúng ta mới biết được là
suy tim lần đầu, đấy là
cái các bạn cần phải nhớ về
cái giá trị của PNP
tiếp vào đây là cái tiêu chuẩn trần đoán
suy tim nhưng mà đây là cái tiêu chuẩn
chúng ta sử dụng để sàng lọc
trong cộng đồng, khi chúng ta sử dụng
một cái gì đó để sàng lọc thì
thường là cái độ đặc hiệu của nó
thường độ đặc hiệu của nó không cao lắm
thường là không cao lắm
thế nhưng mà
khi mà bệ nhân đấy đã vào viện rồi
thì nó là rất đặc hiệu
các bạn hiểu không, tức là ngoài cộng đồng nhé
ví dụ bây giờ một bệ nhân mà có phù
chúng ta có quyền nghi ngờ là suy tim
nhưng mà khi chúng ta đã vào viện rồi
thì bệ nhân đấy không thể là chỉ có
một phù, người ta có thể kèm theo các triệu chứng khác
mà chúng ta có thể thăm khám được kỹ lượng hơn
chúng ta có thể tìm được các triệu chứng chính
của suy tim, thì cái tiêu chuẩn này
cho đến thời điểm hiện tại trên lâm sàng
người ta vẫn còn áp dụng rất nhiều
vì nó dễ nhớ
thì theo với tiêu chuẩn của Framingham
thì người ta chia thành hai nhóm là tiêu chuẩn chính
và tiêu chuẩn phù
tiêu chuẩn chính là gì và phù là gì
về cơ bản các bạn hiểu là
tiêu chuẩn chính là những tiệu chứng mà nó tương đối đặc hiệu cho suy tim
tức là cái mức độ đặc hiệu của nó là cao hơn
so với các tiêu chuẩn phù
chúng ta lấy ví dụ như này
giả sử bệnh nhân có khó thở kết khác với đêm
tức là cái cơn hen tim
thì rõ ràng cơn hen tim đấy
là một biểu hiện điển hình của suy tim trái
hoặc bệnh nhân này có tích mạch cổ nổi
tương đối điển hình của suy tim phải
đương nhiên là chúng ta vẫn có thể gặp trong những bệnh khác
ví dụ tích mạch cổ nổi có thể gặp
trong hội chứng chứa tích mạch chủ trên
cũng có tích mạch cổ nổi
nhưng mà tính chất đặc hiệu của nó là cao hơn
thế còn ví dụ bây giờ bệnh nhân chỉ có gan to
thì các bạn thấy
rất nhiều bệnh cảnh có gan to
bệnh nhân cung thư gan cũng có gan to
bệnh nhân thái lát xương mi cũng có gan to
bệnh nhân viêm gan cũng có gan to
suy tim thì cũng có gan to
tức là trực trứng của nó kém đặc hiệu hơn
so với các tiêu chuẩn chính
Với cách tư duy như vậy
thì trong đề thi giả sử
bây giờ người ta có hỏi các bạn
thì các bạn cũng phải tư duy theo kiểu như vậy
để xác định được nó là tiêu chuẩn chính hay tiêu chuẩn phụ
thay vì là chúng ta học thuộc
học thuộc thì nó tương đối phức tạp
vì các bạn thấy ở đây
mặc dù ta nói đến tiêu chuẩn chính
có 4 ý đúng không
nhưng trong mỗi 1 cái chính đấy nó lại gồm có nhiều ý nhỏ
nó lại gồm có nhiều ý nhỏ khác
nên là nếu như
chúng ta cứ mầy mò chúng ta học
thì khả năng cao sẽ rất dễ
rất dễ quen
thay vì thế thì các bạn hiểu
về bản chất của nó thì sẽ dễ nhiều hơn
Đây còn đây là về sơ đồ
trở nói suy tim mới
Cái dâm này thì cũng có trong sách học khoa của các bạn rồi
Về cơ bản thì nó khác biệt gì
Thứ nhất là nó sử dụng đến nhiều
xét nghiệm cận lâm sàng hơn so với tiêu chuẩn
Framingham
Các bạn biết tiêu chuẩn của Framingham nó đưa ra từ
những năm 1950
cách đây hơn 70 năm rồi
xong nó đưa ra được cái tiêu chuẩn đấy
thì trong cái tiêu chuẩn đấy các bạn thấy
về cơ bản là chỉ dựa vào lâm sàng và lâm sàng mà thôi
Đấy bây giờ chúng ta có
quá nhiều những cơ cụ hiện đại
ở trong tay. Chúng ta có trần đoán
nhảy, chúng ta có xét nghiệm về hormone
chúng ta có serum
tất cả những thứ đó
thì đặt ra một vấn đề là gì
dựa vào thăm khám lâm sàng
nó chỉ là một cái khâu trong trần đoán suy tìm mà thôi
hỏi tiền sử, yếu tố nguy cơ
thăm khám nhận chứng cơ năng
khám và phá hiện cái tiêu chuẩn thực thể
đo điện tâm đồ thấy bất thường
Khi chúng ta có những dấu hiệu này rồi
chúng ta sẽ đi làm những xét nghiệm truyền sâu hơn
Thứ nhất là chúng ta sẽ làm xét nghiệm PNP
hoặc là
PropinP
Nên thông thường thì không phải là cơ sở nào cũng có khả năng
làm được cái này
Bây giờ nếu chúng ta có thì làm được
và chúng ta thấy được kết quả của bệnh nhân này là
phù hợp
thì chúng ta tiếp tục đi theo cơ sở đồ là chúng ta sẽ cho bệnh nhân đi serum
Nếu không
hoặc là chúng ta không làm được
thì chúng ta sẽ
phải nhảy luôn sang bước này
Các bạn hiểu đúng không
Tức là khi bệnh nhân nghi ngờ suy tìm
mà không đo được PropinP này
thì các bạn phải nhảy qua đây luôn
chứ không phải đi theo con đường này
Nếu bệnh nhân không làm được là thôi
ít khả năng suy tìm là sai
thì chúng ta phải nhảy cốc, nhảy từ đây sang đây luôn
trên serum tìm mà có dưỡng bất thường
Nếu có
thì chúng ta sẽ xác định phân xuất tổng máu
để xác định tình trạng suy tìm
và nguyên nhân gây ra suy tìm
Nếu không thì khả năng cao là
ít có suy tìm
Tức là các bạn thấy
trong quy trình cho nó suy tìm mới
thì có vẻ như
cái xét nghiệm này
nó quan trọng hơn
cái lâm sàng này
nó chỉ là cái yếu tố dẫn khởi
để chúng ta đi làm những xét nghiệm này
Thế còn để chẩn đoán xác định có suy tìm hay không
thì chúng ta phải dựa rất nhiều
vào các bằng chứng về mặt xét nghiệm
và đặc biệt là
nên dựa vào cả 2 cái cùng lúc
Bây giờ ví dụ nhé
các bạn thấy trường hợp này này
chúng ta làm cái này có bất thường
nhưng không phải là chúng ta chẩn đoán được ngay bệnh nhân bị suy tìm
và chúng ta cần phải làm thêm serum tìm nữa
Serum tìm mà có thì cả khẳng định
Serum tìm mà không
thì ít có khả năng suy tìm
Thế thì giữa 2 xét nghiệm này
thì rõ ràng là serum tìm là cái quan trọng hơn
mấu chốt hơn
có nghĩa rằng là
độ đặc hiện của serum tìm là cao hơn
vì serum tìm rõ ràng là chúng ta đang đánh giá về tìm
Thế còn PNP này
các bạn nhớ giúp cho rằng là
tiền tố chứ P
nó là Brain
tức là não
Tức là đây không phải là hormone
mà chỉ do tìm bài tiết ra
Nếu như vậy, nó có thể là do não mộ bài tiết ra
Thế còn khi nào bài tiết ra thì mình chịu
Ngoài ra nữa nó có cơ chế
liên quan đến sự đào thải và thận
Bộ như suy thận thì những hormone này
cũng có thể tăng lên trong máu
Chính vì vậy nên là độ đặc hiện của serum tìm là cao hơn
Nên serum tìm nó sẽ là
cái thằng trốt dặn cuối cùng
để đánh giá rốt cuộc bệnh nhân đấy có suy tìm hay không
Và quan trọng hơn nữa
là nó có thể giúp chúng ta phân loạn được suy tìm
dựa trên phân suất tổng máu
Trên 50% là
phân suất tổng máu bảo tồn tức là suy tìm
bảo tồn EF
Từ 41 đến 49 là suy tìm giảm EF
mức độ nhẹ và từ 40 là giảm
EF mức độ nặng
Và sau đấy thậm chí là trên serum tìm
cũng có thể giúp chúng ta xác định được
cái nguyên nhân gây ra suy tìm là gì
Đấy là cái quy trình trận đoán suy tìm
Đó thì các bạn thấy rõ ràng là
trong tim máy mọi thứ
phức tạp đều được sơ đồ hóa lại
Và đây là về phân độ suy tìm
Phân độ suy tìm thì điển hình nhất
chúng ta ngày xưa đã sử dụng là phân độ NEHA
Cái nhược điểm lớn nhất của phân độ NEHA này
là nó chỉ phân độ
khi bệnh nhân đấy có triệu chứng
Nhưng mà chúng ta biết rằng là bệnh lý tim mạch
nó là một quá trình diễn biến kéo dài
nhiều tháng nhiều năm cho đến khi
bệnh nhân đấy có triệu chứng trên năm sáng
Chứ không phải ngày hôm qua bệnh nhân vừa hút thuốc
ngày hôm sau bệnh nhân bị suy tìm
Đó là một sự tiết lũy lâu dài
Để khắc phục được nhược điểm
của phân độ NEHA
thì Hiệp hội Tim Mạch Hoa Kỳ đã vương ra
một phân độ mới bao gồm 4 giai đoạn
là A, B, C, D
Nhưng vì người ta biết rằng là các bác sĩ
trên năm sáng vẫn thường xuyên sử dụng phân độ NEHA
vì nó quá kinh điển và quá lâu rồi
Nó giống như là rất nhiều bác sĩ
năm sáng vẫn có sử dụng tiêu chuẩn Framingham
trong trận đoán suy tìm
Thế thì người ta sẽ cố gắng đưa ra
mối liên hệ giữa phân độ mới
và phân độ cũ
Thế các bạn thấy về cơ bản là gì?
Nó có sự tương đồng tương đối lớn
Chỉ có điều là phân độ mới gần đây
của Hiệp hội Tim Mạch Hoa Kỳ
là người ta đưa thêm một giai đoạn đó là giai đoạn tiền triệu trứng
Với bệnh nhân này có các nguy cơ
cao bị suy tìm nhưng chưa có biểu hiện
tại thời điểm thăm khám
Ví dụ bệnh nhân này có đái đường
Bệnh nhân này có tam hát
Đấy là những bệnh nhân có nguy cơ
bị suy tìm trong tương lai
Nhưng tại thời điểm chưa có thì người ta vẫn
được xếp vào giai đoạn A
Khi đã xếp vào giai đoạn A rồi
thì các bạn cần hiểu là tại sao
không có suy tìm mà vẫn phải xếp vào
trong giai đoạn suy tìm
là để giúp cho người bác sĩ lập sản
cảnh giác về nguy cơ suy tìm
của tương lai
Ai biết đâu được một bệnh nhân có tam hát cấp cứu
người ta phải suy tìm cấp thì sao
Chúng ta phải cảnh giác về những điều đấy
Thế còn từ giai đoạn B cho đi
thì nó gần như tương đồng với giai đoạn A rồi
Tức là khi bệnh nhân này bắt đầu
có các triệu trứng thì chúng ta cũng phân loại
cũng giống như thế thôi
Bây giờ chúng ta nói về điều trị suy tìm
Điều trị suy tìm thì chúng ta chia ra
điều trị suy tìm cấp và điều trị suy tìm mạng
Điều trị suy tìm cấp thì nói thật
là không
không có đủ kinh nghiệm ở đây
để chia sẻ với các bạn về điều này
vì nó quá khó rồi
Nó vượt ngoài tầm hiểu biết của mình về
vấn đề điều trị suy tìm
nên đây chỉ là điểm một lại
những nội dung mà có trong sách khoa thôi
Và một cái nữa
Trong sách khoa
trong slide này đáng nghĩa
mình phải bổ sung thêm
Cây mất chưa đưa vào là phân loại
suy tìm
thì gồm có 4 tiếp
suy tần hoàng
Nói đúng hơn là phân loại suy tần hoàng
dựa theo các triệu trứng của
tên máu ngoại biên và ứ trệ máu
Đây là phân ra 4 nhóm
Các bạn thấy rằng ví dụ như ứ trệ có hay không
là được 2 tổ hợp
Giảm tên máu có hay không là được 2 tổ hợp
Còn nữa 22 sẽ có 4 tổ hợp
để phân loại
về hộ trứng forest
Cây mất thiếu sọt đây là chưa đưa
cái đấy vào trong bài giảng này
sẽ cung cấp cho các bạn trong bài triệu test
Đây là phát đồ điều trị cơ bản
Đầu tiên chúng ta cũng phải đánh giá toàn trạng
an thần, móc phi
hỗ trợ oxy, đánh giá huyết động
