UAE BƠM TIỀN CHO TRUMP, MỸ CHIẾM THẾ THƯỢNG PHONG TẠI TRUNG ĐÔNG!

Góc Nhìn Lê Minh
705 người theo dõi
766 Lượt xem video·24 thg 3, 2025
Chưa từng có một tổng thống nào đặt chân vào phòng bầu dục với tốc độ của một cơn lốc như Donald Trump,
và cũng chưa từng có một nhà lãnh đạo nào vừa tái đắc cử đã ngay lập tức khơi dậy những cơn địa chấn tài chính
trải dài từ Trung Đông đến thùng lũng Silicon.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, chỉ với một cái bắt tay tại Tòa Bạch Ốc,
ông Trump đã khiến cả thế giới sừng sốt 1,4 nghìn tỷ đô la, số tiền không lồ từ các tiểu vương quốc
Không phải hứa hẹn xuông, mà là một cam kết đã được chốt,
một bước đi không khác gì đòn phản công đầy tính toán sau 4 năm sóng gió dưới thời chính quyền Biden.
Đây không chỉ là tiền, đây là thông điệp, một thông điệp được viết bằng dầu mỏ, quyền lực và chiến lược.
Sau khi các đồng minh Trung Đông quay lưng vì sự mềm yếu và mâu thuẫn của chính quyền trước,
giờ đây họ đã trở lại, bởi vì người Đài Đông tóc vàng mà họ từng tin tưởng đã quay về.
Và lần này, ông không đến để đàm phán, ông đến để kết sổ, củng cố vị thế
và mở rộng tâm ảnh hưởng của Hoa Kỳ trên bàn cờ địa chính trị toàn cầu.
Ngày hôm nay, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu câu chuyện này thưa quý vị.
Hôm 21 tháng 3, Tổng thống Donald Trump đã đạt được cam kết từ các tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất UAE
về việc đầu tư 1,4 nghìn tỷ đô la vào Hoa Kỳ trong thập kỷ tới.
Thỏa thuận này được đưa ra sau khi các quan chức UAE gặp Trump vào tuần này tại Tòa Bạch Úc.
Đây có thể coi là một thành công lớn trong chính sách đối ngoại của ông Trump,
đặc biệt là trong việc khôi phục mối quan hệ chiến lược với các quốc gia Trung Đông.
Đây là một tín hiệu mạnh mẽ về sự trở lại của Tổng thống Trump với các đồng minh Trung Đông
sau một giai đoạn thách thức dưới thời Biden, làm tổn hại đến mối quan hệ đồng minh trong khu vực.
Một trong những quyết định quan trọng của chính quyền Biden là cố gắng tái gia nhập
thỏa thuận hạt nhân Iran-JCPOA mà chính quyền Trump đã rút khỏi vào năm 2018.
Đối với các quốc gia Trung Đông, đặc biệt là Ả Rập Saudi và UAE,
Iran là mối đe dọa lớn đối với an ninh khu vực.
Các quốc gia này lo ngại rằng việc dỡ bỏ các lệnh trừng phạt đối với Iran
có thể giúp nước này mở rộng ảnh hưởng và tài trợ cho các nhóm vũ trang
tại Yemen, Iraq và Syria, đầu thời đe dọa an ninh của các quốc gia vùng vịnh.
Các quốc gia Trung Đông cảm thấy rằng ông Biden không bảo đảm đủ sự cứng rắn đối với Iran.
Điều này làm suy yếu sự tin tưởng và cam kết của Hoa Kỳ
trong việc bảo vệ họ khỏi sự mở rộng của Iran trong khu vực.
Thêm vào đó, cuộc rút quân khỏi Afghanistan vào mùa hè năm 2021
là một trong những quyết định lớn nhất của chính quyền Biden.
Nhưng quá trình này đã diễn ra hỗn loạn và thiếu kế hoạch.
Sự vội vã trong việc rút quân đã gây ra tổn thất nhân mạng
và thiệt hại về mặt uy tín đối với Hoa Kỳ trên toàn thế giới.
Các đồng minh Trung Đông, đặc biệt là Ả Rập Saudi và UAE,
nhìn thấy một sự thiếu kiên quyết và không rõ ràng trong cam kết bảo vệ đồng minh của Hoa Kỳ,
đặc biệt là trong các cuộc khủng hoảng quân sự.
Điều này làm dấy lên lo ngại rằng Hoa Kỳ có thể rút lui khỏi khu vực Trung Đông
như đã làm ở Afghanistan, để lại các đồng minh phải đối phó
với các mối đe dọa trong khu vực mà không có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ Hoa Kỳ.
Cựu Tổng thống Biden đã đề cao các vấn đề nhân quyền
và chỉ trích các chính phủ có hồ sơ nhân quyền kém trong khu vực,
đặc biệt là đối với Ả Rập Saudi.
Điều này đặc biệt rõ ràng khi ông quyết định ngừng bán vũ khí cho Ả Rập Saudi
và lên án cuộc chiến Yemen mà nước này dẫn đầu.
Tuy nhiên điều này đã khiến Ả Rập Saudi và UAE cảm thấy bị bỏ rơi
và bị chỉ trích một cách không công bằng, nhất là khi họ coi Iran
và các lực lượng vũ trang do Iran hỗ trợ như là mối đe dọa chính trong khu vực.
Trong khi Biden vẫn duy trì cam kết với Israel, có những chỉ trích cho rằng
chính quyền của ông đã không có đủ sự mạnh mẽ trong việc bảo vệ
các quyền lợi của Israel tại Trung Đông.
Đặc biệt, thỏa thuận tái gia nhập JCPOA với Iran đã gây lo ngại cho Israel.
Quốc gia coi Iran là mối đe dọa trực tiếp với sự tồn vong của mình.
Các đồng minh Ả Rập như là UAE và Ả Rập Saudi cũng cảm thấy rằng Hoa Kỳ
dưới thời Biden có thể tạo ra sự chia rẽ trong quan hệ với Israel
và không bảo vệ các lợi ích an ninh của họ trong khu vực.
Điều này làm suy yếu mối quan hệ chiến lược giữa Mỹ với Israel
trong một số vấn đề quan trọng.
Dưới thời Biden, mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và các quốc gia vùng vịnh,
đặc biệt là Ả Rập Saudi và UAE, đã trở nên căng thẳng do một số vấn đề
như hành động quân sự tại Yemen và chính sách năng lượng.
Biden đã gọi Ả Rập Saudi là Periyar, tức là kẻ ngoài lề bị ruồng bỏ
sau vụ giết hại nhà báo Jamal Khashoggi vào năm 2018.
Điều này khiến Ả Rập Saudi cảm thấy bị xúc phạm.
Chính sách về năng lượng cũng là một vấn đề.
Khi Biden chỉ trích các quốc gia vùng vịnh về việc giữ giá dầu cao
và không hành động đủ mạnh mẽ trong việc giảm thiểu biến đổi khí hậu.
Có thể thấy, chính quyền Biden đã làm suy yếu nghiêm trọng quan hệ
giữa Hoa Kỳ và đồng minh ở Trung Đông trong 4 năm nhiệm kỳ của mình.
Nhưng khi ông Trump trở lại tòa Bạch Ốc, hành động cứng rắn của ông
đối với Houthi và Iran được coi là một phần trong lời hứa bảo đảm
đối với các đồng minh ở Trung Đông, đặc biệt là UAE.
Và đó là lý do giải thích tại sao Tổng thống Trump có thể kéo được UAE về phía mình
sau khi các mối quan hệ với đồng minh Trung Đông bị làm suy yếu
dưới thời Tổng thống Joe Biden.
Trong những ngày vừa qua, Tổng thống Trump đã rất mạnh tay với Iran
và các lực lượng do Iran hậu thuẫn.
Đó là lời bảo đảm an toàn cho các đồng minh của Mỹ ở Trung Đông,
đặc biệt là trong bối cảnh các mối đe dọa từ Iran và các nhóm vũ trang do Iran hỗ trợ.
Một ví dụ điển hình là việc Trump tăng cường hỗ trợ quân sự
và các hệ thống phòng thủ tên lửa cho Ả Rập Saudi và UAE trong cuộc xung đột Yemen,
nơi nhóm Houthi do Iran hậu thuẫn liên tục tấn công các cơ sở dầu mỏ
và cơ sở hạ tầng của các quốc gia này.
UAE đánh giá rất cao sự hỗ trợ quân sự và chính trị của Hoa Kỳ dưới thời Trump,
và điều này đã củng cố mối quan hệ chiến lược giữa hai nước.
Sự khẳng định mạnh mẽ về cam kết bảo vệ các đồng minh Trung Đông của Trump
giúp ông xây dựng được lòng tin từ UAE,
từ đó thúc đẩy các thỏa thuận đầu tư và hợp tác lâu dài giữa hai bên,
như việc UAE cam kết đầu tư 1,4 nghìn tỷ đô la vào Hoa Kỳ.
Không quá lời khi nói rằng, Tổng thống Trump đã ghi dấu ấn thành công trong chính sách đối ngoại
khi đưa UAE trở lại quỹ đạo thân Mỹ,
sau 4 năm mà dưới thời Tổng thống Biden, mối quan hệ này có phần nguyện lại.
Sự tái xuất mạnh mẽ của Hoa Kỳ tại Trung Đông dưới thời Trump
không chỉ làm xáo trộn cục diện địa chính trị khu vực,
mà còn tái khẳng định vị thế của Washington như một đối tác chiến lược đáng tin cậy.
Với những cam kết rõ ràng trong việc bảo vệ an ninh khu vực và thúc đẩy hợp tác kinh tế,
Tổng thống Mỹ đã khiến các quốc gia vùng vịnh, đặc biệt là UAE,
thêm phần tin tưởng và vai trò then chốt của Hoa Kỳ trong việc đối phó
với các mối đe dọa an ninh, đặc biệt là từ Iran.
Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và UAE vì thế không chỉ dựa trên nền tảng quân sự,
mà còn được nâng tầm qua hàng loạt thỏa thuận đầu tư và hợp tác kinh tế quy mô lớn,
củng cố thêm nền móng vững chắc cho liên minh này.
Việc củng cố mạng lưới đồng minh tại Trung Đông sẽ giúp Hoa Kỳ chiếm thế thượng phong
trong cuộc đối đầu dài dẳng với Iran, không chỉ về chương trình hạt nhân,
mà còn trong các cuộc can thiệp của Tehran vào những điểm nóng như Yemen, Syria và Iraq,
với sự hậu thuẫn từ các đối tác thân cận như UAE, Ả Rập Saudi và Israel.
Washington có thể gia tăng áp lực lên Iran bằng các biện pháp trừng phạt mạnh tay,
nhồng thời xây dựng một liên minh khu vực đủ sức đối chọng
với ảnh hưởng ngày càng lan rộng của Tehran.
Mỹ nhờ đó không chỉ giữ vai trò trung gian mà còn trở thành trụ cột
trong việc thiết lập các hệ thống phòng thủ tên lửa, hỗ trợ quân sự
và bảo vệ an ninh cho các đồng minh ở Trung Đông.
Từ vị thế đó, Hoa Kỳ có thể mở rộng ảnh hưởng vào các tranh chấp lãnh thổ
đầy nhạy cảm tại vùng vịnh, nơi Ả Rập Saudi, UAE và Qatar vẫn đang cạnh tranh
gây gắt về nguồn lực và quyền kiểm soát chiến lược,
có phần định hình lại cung diện an ninh khu vực theo hướng có lợi cho Washington.
Một ví dụ là trong cuộc tranh chấp giữa Qatar và các quốc gia vùng vịnh,
Ả Rập Saudi, UAE, Bahrain, Ai Cập, Mỹ có thể là người trung gian hòa giải
và giúp các bên đạt được các thỏa thuận an ninh và kinh tế.
Hoa Kỳ cũng sẽ tiếp tục nắm vai trò quyết định trong thỏa thuận hòa bình
giữa Israel và các quốc gia Ả Rập, như đã thấy trong thỏa thuận Abraham.
Hơn nữa, Hoa Kỳ sẽ nắm thế mạnh trong các cuộc tranh chấp về quyền kiểm soát năng lượng,
đặc biệt là về dầu mỏ và khi đốt tự nhiên trong khu vực vịnh Ba Tư.
Chẳng hạn việc sử dụng quyền kiểm soát các tuyến đường vận chuyển năng lượng
như là eo biển Hormuz để kiểm soát giá cả năng lượng toàn cầu.
Hoa Kỳ có thể tăng động đến các chính sách năng lượng của các quốc gia vùng vị,
chẳng hạn như các quyết định của OPEC và tạo ảnh hưởng
đến các thỏa thuận năng lượng quốc tế trong khu vực.
Như chúng ta đã biết, Trung Quốc đang tăng cường sự hiện diện ở Trung Đông
thông qua sáng kiến vành đài và con đường BRI.
Tuy nhiên, Trung Quốc không có sự hiện diện quân sự mạnh mẽ ở Trung Đông như Hoa Kỳ
và chưa xây dựng được liên minh chiến lược có thể bảo đảm lợi ích an ninh khu vực như Mỹ.
Còn Nga, mặc dù có ảnh hưởng lớn ở Syri và một số khu vực khác,
nhưng không thể so sánh với Mỹ về mức độ ảnh hưởng và sự cam kết quân sự trong khu vực.
Sự hỗ trợ của Nga đối với các đồng minh như Syri và các lực lượng chống Mỹ
ở Yemen không đủ để kiểm soát toàn bộ khu vực như Mỹ.
Do đó, khi Hoa Kỳ khẳng định lại vị thế mạnh mẽ ở Trung Đông,
điều này có thể áp đảo ảnh hưởng của Trung Quốc và Nga trong khu vực.
Quý vị có thể thấy rõ, Tổng thống Trump đã thành công
trong việc đưa Trung Đông trở lại quý đạo ảnh hưởng của mình.
Đây không chỉ là bước đi mang tính chiến lược nhằm khôi phục vai trò lãnh đạo toàn cầu,
mà còn mở ra cơ hội để Washington định hình lại các cuộc tranh chấp về năng lượng,
an ninh và chính trị trong một khu vực luôn biến động.
Nhờ vào sự trở lại đúng lúc này, Hoa Kỳ tiếp tục giữ vững ưu thế
trong các cuộc đối đầu quân sự và an ninh liên quan đến Iran,
Israel và các nước vùng vịnh, cũng như là các đối tác chiến lược quan trọng khác.
Sự hiện diện mạnh mẽ của Hoa Kỳ tại đây hoàn toàn có thể làm thay đổi
cán cân địa chính trị khu vực, đồng thời bảo vệ những lợi ích toàn cầu mà Washington theo đuổi.
Giải mã chiến lược dài hạn của chính quyền Trump
Tính đến thời điểm hiện tại, trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Donald Trump vào năm 2025,
ông đã triển khai hàng loạt chính sách mạnh mẽ nhằm thút dòng vốn đầu tư đổ về nước Mỹ,
với minh chứng rõ ràng là hàng loạt cam kết rót vốn quy mô lớn từ các tập đoàn hàng đầu thế giới.
Apple thông báo sẽ đầu tư 500 tỷ đô la trong 4 năm tiếp theo,
bao gồm việc mở rộng nhà máy sản xuất mới tại Houston và một học viện nhà cung ứng tại Michigan.
Dự án Stargate, liên doanh giữa Softbank, OpenAI và Oracle,
đã được thành lập với mục tiêu phát triển hạ tầng AI trên khắp nước Mỹ,
với kinh phí dự kiến 500 tỷ đô la trong 4 năm.
Riêng Softbank đã cam kết đầu tư 100 tỷ USD vào Hoa Kỳ trong 4 năm tới,
tập trung vào các lĩnh vực như bán dẫn AI, trung tâm dữ liệu và robot,
và như đã nói ở phía trên, vào ngày 21 tháng 3 vừa rồi,
UAE đã cam kết đầu tư 1,4 nghìn tỷ đô la vào Hoa Kỳ trong thập kỷ tới.
Đây là một khoản đầu tư vô cùng lớn.
Có không ít người thắc mắc là tại sao nước Mỹ giàu có như thế
mà lại cần phải có các khoản đầu tư nước ngoài đổ về?
Nó có đơn thuần chỉ là việc dành lại nhiều công ăn việc làm cho người Mỹ hay không?
Câu trả lời là không.
Có một học thuyết quan trọng trong kinh tế học toàn cầu cho rằng,
sự ổn định kinh tế và sức mạnh tài chính của một quốc gia
gắn liền với khả năng thu hút các dòng vốn đầu tư lớn.
Khi một quốc gia trở thành điểm đến hấp dẫn cho các khoản đầu tư chiến lược,
điều đó không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế,
mà còn nâng cao vị thế địa chính trị của quốc gia đó trên trường quốc tế.
Thụy Sĩ từ lâu đã là hình mẫu điển hình cho việc vận dụng thành công học thuyết này.
Và giờ đây, Hoa Kỳ, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Trump,
cũng đang tận dụng triệt đề nguyên lý ấy để củng cố nền tảng ổn định,
tăng cường nội lực tài chính và khẳng định vai trò dẫn dắt toàn cầu.
Như chúng ta đã biết, Thụy Sĩ nổi bật là một trong những quốc gia ổn định tài chính nhất thế giới
nhờ vào hệ thống ngân hàng cực kỳ vững mạnh và chính sách tài chính cởi mở.
Trong suốt nhiều thập kỷ, Thụy Sĩ đã thu hút các khoản đầu tư lớn từ khắp nơi trên thế giới,
chủ yếu là do sự ổn định về chính trị, luật pháp và tính minh bạch tài chính.
Quốc gia này là nơi trú ẩn đầu tư trong thời kỳ chiến tranh,
vì nhiều tập đoàn quốc tế, ngân hàng và các quỹ đầu tư lớn đều chọn Thụy Sĩ
làm nơi đặt trụ sở hoặc lưu trữ tài sản của họ,
đặc biệt là trong bối cảnh các cuộc chiến tranh và khủng hoảng tài chính.
Chính sự ổn định và bảo vệ tài sản giúp quốc gia này tránh được những tác động tiêu cực
từ các cuộc xung đột toàn cầu,
và cũng là yếu tố giúp Thụy Sĩ duy trì an toàn trong mọi cuộc chiến.
Hoa Kỳ, mặc dù là một nền kinh tế lớn nhất thế giới,
vẫn cần đầu tư nước ngoài vì các lý do chiến lược và phát triển kinh tế.
Một quốc gia như Mỹ không chỉ cần duy trì sự đầu tư vào cơ sở hạ tầng, công nghệ và năng lượng,
mà còn phải tạo ra các cơ hội việc làm cho người dân,
cũng như là duy trì vị thế kinh tế mạnh mẽ.
Các khoản đầu tư nước ngoài, như các cam kết từ Apple, ShopBank, UAE,
sẽ giúp Mỹ phát triển các ngành công nghệ tiên tiến,
đặc biệt là AI, năng lượng tái tạo hay là quân sự.
Bằng việc thu hút đầu tư từ các quốc gia giàu có,
Mỹ không chỉ duy trì sự phát triển nội bộ mà còn tạo ra sự ổn định tài chính
và gia tăng ảnh hưởng trong các cuộc chiến kinh tế và chính trị toàn cầu.
Hoa Kỳ trở thành nơi trú ẩn đầu tư vì có khả năng cung cấp một môi trường kinh tế vững mạnh,
nền tảng pháp lý ổn định và khả năng bảo vệ tài sản.
Nó giúp Mỹ củng cố sức mạnh tài chính, từ đó giảm thiểu các tác động của các cuộc xung đột toàn cầu.
Từ cuộc chiến thương mại với Trung Quốc đến các cuộc khủng hoảng chính trị và quân sự khác,
Hoa Kỳ tiếp tục giữ vững vai trò là công sưởng sản xuất,
người tiêu dùng và người bảo vệ tài sản của thế giới.
Đặc biệt, trong bối cảnh Mỹ muốn duy trì vị trí lãnh đạo toàn cầu và bảo đảm an ninh quốc gia,
việc trở thành nơi trú ẩn đầu tư cũng giúp nước này củng cố mối quan hệ với các đối tác chiến lược
và tăng cường sức mạnh quân sự và kinh tế trong các cuộc đấu tranh chính trị và quân sự toàn cầu.
Điều quan trọng nhất là việc trở thành cái dốn đầu tư toàn cầu
có thể giúp Mỹ duy trì sự ổn định và an toàn trong dài hạn.
Việc thú đầu tư và duy trì vị thế trú ẩn đầu tư toàn cầu không phụ thuộc vào một cá nhân cụ thể,
mà là vào một hệ thống tổng thể ổn định và mạnh mẽ của quốc gia này.
Do đó, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục duy trì vai trò lãnh đạo và bảo đảm sự an toàn trong mọi cuộc chiến,
ngay cả sau khi Tổng thống Trump không còn tại nhiệm.
Đó là lý do vì sao mà ngay từ nhiệm kỳ đầu tiên của mình,
ông Trump đã ban hành một số chính sách quan trọng nhằm thu hút đầu tư vào Hoa Kỳ.
Những chính sách này chủ yếu tập trung vào việc giảm thuế, cải cách hành chính
và hỗ trợ các ngành công nghiệp chiến lược.
Các chính sách này không chỉ giúp tăng trưởng kinh tế,
mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm và củng cố vị thế kinh tế của Hoa Kỳ trên toàn cầu.
Sang nhiệm kỳ thứ hai, ông Trump vẫn thu hút đầu tư bằng các chính sách này,
bao gồm việc tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, giảm thuế cho doanh nghiệp
và thúc đẩy các hiệp định thương mại quốc tế.
Những hành động thiết thực từ chính quyền Tổng thống Trump đã nhanh chóng mang lại kết quả rõ rệt
khi dòng vốn đầu tư lớn như chúng ta đã đề cập bắt đầu đổ vào Hoa Kỳ chỉ vài tuần
sau khi ông chính thức nhậm chức, bất chấp làn sóng chỉ trích gây gắt
và những chiêu trò hạ thấp từ truyền thông,
cho rằng các chính sách thuế quan sẽ đẩy nước Mỹ vào suy thoái hay gây ra huấn loạn toàn cầu.
Thực tế mà những người quan sát khách quan có thể thấy lại hoàn toàn trái ngược.
Sự thật đã chứng minh những nhận định bi quan đó không phản ánh đúng hiệu quả
và tầm nhìn của chính sách dưới thời chính quyền Trump.
Đến đây thì chương trình ngày hôm nay của chúng tôi cũng xin phép tạm dừng.
Xin mời quý vị chia sẻ quan điểm cá nhân ở phần dưới.
Lê Minh xin chào và hẹn gặp lại!
