DIỄU BINH Ở NGA – VIỆT NAM “RĂN ĐE” TRUNG QUỐC BẰNG HÀNH ĐỘNG CỨNG RẮN?

Góc Nhìn Lê Minh
705 Người theo dõi
2.8K Lượt xem video·10 thg 5, 2025
Thưa quý vị, ngay sau lễ Duyệt binh mừng đại lễ 30 tháng 4 của Việt Nam là đại lễ mừng chiến thắng ở quảng trường đỏ của Nga.
Những ngày đầu của tháng 5 xuất hiện những video của người dân đã quay lại hình ảnh quân đội Việt Nam tập dượt tham dự sự kiện lớn của nước Nga vào ngày 9 tháng 5 tới.
Đây là một sự kiện đặc biệt trong bối cảnh biến động địa chính trị mạnh mẽ diễn ra hiện nay.
Điều đáng chú ý nhất đó là quân đội Trung Quốc được Việt Nam mời tham gia Duyệt binh ở đại lễ của Việt Nam.
Nhưng ngay sau đó, ngày 5 tháng 5, Việt Nam đã đưa ra cảnh báo nghiêm khắc với Bắc Kinh và Manila về Biển Đông
sau khi cả hai nước này bị phát hiện tham gia vào các hoạt động vi phạm chủ quyền tại khu vực quần đảo Trường Sa.
Chú ý sự kiện này không phải là rơi rạc, nó đang hình thành một bức tranh tổng thể lớn hơn trong thời kỳ nhạy cảm.
Đây là chủ đề mà chúng ta sẽ thảo luận ngay hôm nay, thưa quý vị.
Quân đội Việt Nam tham gia lễ Duyệt binh mừng chiến thắng ở quảng trường đỏ của Nga
Vâng, việc quân đội Việt Nam tham gia diễu hành tại quảng trường đỏ Nga ngày 9 tháng 5 tới
để mừng ngày chiến thắng, kỷ niệm chiến thắng phát triển Đức mang nhiều tầng ý nghĩa,
nhất là trong bối cảnh quốc tế và khu vực hiện nay. Hãy cùng tìm hiểu.
Việc cử lực lượng tham gia một sự kiện mang tính biểu tượng cao như là diễu binh ở quảng trường đỏ
cho thấy Việt Nam vẫn coi Nga là một đối tác chiến lược quan trọng, đặc biệt trong lĩnh vực quốc phòng.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nga,
Việt Nam tiếp tục duy trì chính sách đối ngoại đa phương, đa dạng hóa, độc lập, tự chủ
và không nghiêng hẳn về bất cứ bên nào.
Việc tham gia sự kiện của Nga cũng không đồng nghĩa với việc ủng hộ toàn diện các chính sách của Nga,
mà là biểu hiện của sự khéo léo ngoại giao và giữ quan hệ quốc phòng thân thiện,
đồng thời vẫn giữ quan hệ tốt với Hoa Kỳ, EU, Nhật hay là Ấn Độ.
Việc được mời và tham gia diễu hành tại sự kiện mang tầm vóc quốc tế như vậy
cũng cho thấy vị thế ngày càng tăng của quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.
Nó có phần thể hiện hình ảnh một Việt Nam độc lập, hòa bình, sẵn sàng hợp tác quốc tế,
nhưng có bản lĩnh và định hướng riêng.
Sự hiện diện của lực lượng quân đội Việt Nam trong đội hình dưỡng binh
có thể được xem là một tuyên bố mềm về quá trình hiện đại hóa, chuyên nghiệm hóa quân đội.
Đây cũng là dịp để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm tổ chức
và thể hiện khả năng tham gia các hoạt động quân sự đa phương,
và liệu nó có tác động gì đến quan hệ Việt-Mỹ và Việt-Trung hay không.
Hoa Kỳ và phương Tây đang có lập trường đối đầu với Nga, nhất là sau xung đột Nga-Ukraine.
Việc Việt Nam công khai tham gia một sự kiện trọng đại ở Nga
chắc chắn sẽ không lọt khỏi tầm quan sát của Washington.
Tuy nhiên, phía Mỹ hiểu rõ chính sách đối ngoại của Việt Nam là không chọn bên,
độc lập, tự chủ, do đó việc này sẽ không gây giãn nứt quan hệ,
nhưng có thể khiến Mỹ theo dõi sát hơn các động thái của Việt Nam trong thời gian tới.
Mặc dù vậy, Hoa Kỳ sẽ nhìn nhận qua lăng kính chiến lược dài hạn.
Họ vẫn đánh giá cao vai trò của Việt Nam ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương,
đặc biệt là trong đối trọng với ảnh hưởng của Trung Quốc.
Do đó, họ có khả năng sẽ không phản ứng mạnh,
mà tiếp tục đẩy mạnh hợp tác với Việt Nam trong các lĩnh vực ít nhạy cảm hơn
như là kinh tế, công nghệ, năng lượng tái tạo hay là giáo dục.
Còn đối với quan hệ Việt-Trung thì cũng không gây căng thẳng,
thậm chí có lợi trong cân bằng chiến lược.
Trung Quốc luôn theo sát quan hệ quốc phòng của Việt Nam với các cường quốc khác,
đặc biệt là Mỹ và Ấn Độ, do lo ngại ảnh hưởng đế lưỡi của họ ở Biển Đông.
Việc Việt Nam thể hiện quan hệ gần gối với Nga thì lại không gây lo ngại lớn cho Bắc Kinh,
vì Moscow cũng là đối tác chiến lược của họ.
Thậm chí Bắc Kinh có thể dễ chịu hơn việc này so với việc là Việt Nam tập trận
hay là hợp tác quốc phòng sâu hơn với Mỹ.
Trên thực tế, Trung Quốc thường dùng sức mạnh kinh tế và quân sự để tạo ảnh hưởng trong khu vực.
Khi Việt Nam cho thấy mình vẫn giữ được quan hệ quân sự gần gối với Nga,
một đối trọng chiến lược có truyền thống, điều đó là một lời nhắn rõ ràng rằng
Việt Nam không phụ thuộc vào bất kỳ cường quốc nào, kể cả Trung Quốc.
Cho nên, việc quân đội Việt Nam tham gia diễu hành ở Nga là một nước đi thận trọng
nhưng khéo léo, giúp duy trì quan hệ truyền thống với Nga,
mà lại không gây tổn hại đáng kể đến quan hệ với Mỹ hay Trung Quốc.
Đây là biểu hiện rõ của chiến lược giống ba giây trong đối ngoại của Việt Nam,
duy trì thế cân bằng giữa các nước lớn để giữ vững chủ quyền, ổn định và phát triển.
Trong một diễn biến khác, ngày 5 tháng 5, Việt Nam đưa ra cảnh báo 7 chữ
với Bắc Kinh và Philippines về Biển Đông,
chỉ vài ngày sau khi cử quân đội diễu hành ở quảng trường đỏ của Nga.
Nếu đặt trong cùng bức tranh, sẽ cho thấy một chiến lược ngoại giao an ninh rất bài bản và chủ động.
Đây không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên,
mà có thể được hiểu là hai bước đi mang thông điệp bổ trợ lẫn nhau.
Đầu tiên là việc Việt Nam sử dụng cục từ không được phép sai lầm thêm nữa,
trong bối cảnh cả Trung Quốc và Philippines có hành động đơn phương ở trường xa.
Đây chính là một lời cảnh báo nghiêm khắc và mang tính gian đẻ.
Đây là bước hiếm thấy khi Việt Nam đồng thời nêu tên và cảnh báo cả hai bên,
chứ không chỉ Trung Quốc như thường lệ.
Thay vì đẩy căng thẳng bằng các hành động quân sự trên biển,
có thể gây xung đột ngoài ý muốn,
Việt Nam sử dụng ngoại giao quốc phòng thể hiện năng lực, bản lĩnh và vị thế quốc tế
qua việc xuất hiện trong sự kiện lớn tại Nga.
Điều này gửi đi thông điệp ngầm rằng Việt Nam có bạn bè,
có nền quốc phòng hiện đại, có bản lĩnh chiến đấu chứ không phải là bên yếu trong tranh chấp.
Trong khi Philippines nghiêng mạnh về Mỹ,
còn Trung Quốc thì ngày càng quyết liệt ở thực địa,
Việt Nam cho thấy mình không đứng về phe nào, nhưng cũng không đứng yên.
Việc giữ quan hệ tốt với Nga, một nước có tiếng nói tại Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc,
là cách để mở thêm một kênh cân bằng trong tranh chấp Biển Đông,
không để vấn đề bị chi phối bởi các phe đối đầu trực diện như Mỹ hay Trung Quốc.
Quý vị thấy đấy, Việt Nam đang thể hiện một thế đứng riêng,
không để mình bị kéo vào các liên minh quân sự hay căng thẳng giữa các cường quốc,
nhưng sẵn sàng phản ứng cứng rắn nếu chủ quyền bị xâm phạm.
Đây là lời nhắn rõ ràng với cả Trung Quốc, vốn quen sức ép,
và Philippines đang có xu hướng hành động độc lập với Mỹ.
Việt Nam không chấp nhận hành vi đơn phương, bất kể từ phía nào.
Như vậy, việc kết hợp diễu hành ở Nga, mềm về hình thức nhưng cứng về thông điệp,
và cảnh báo ngày 5 tháng 5, cứng về lập trưởng,
cho thấy Việt Nam đang tăng cường thế gian đe mềm trên trường quốc tế,
khẳng định chủ quyền một cách kiên quyết nhưng khéo léo,
gửi tin hiệu rằng Việt Nam không phải là bên yếu thế trong tranh chấp,
và luôn có cách để tạo thế lực mềm và thế lực chính nghĩa trước cộng đồng quốc tế.
Hai sự kiện lớn diễn ra chỉ cách nhau vài ngày.
Nếu nói về sự liền kề thời gian và thông điệp đồng bộ của hai hành động,
thì cho thấy đây không chỉ là hoạt động lễ nghi và phát ngôn đơn lẻ,
mà là một bước đi chiến lược có tính toán rõ ràng trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị hiện nay.
Tham gia giữa binh tại Nga, đồng thời phát đi tin hiệu mạnh mẽ về Biển Đông
là sự khẳng định chính sách đối ngoại 3-0, không liên minh quân sự,
không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự, và không dựa vào một nước này để chống nước khác.
Việt Nam cho thấy mình có thể duy trì mối quan hệ quốc phòng-an ninh với nhiều cường quốc
như Nga, Mỹ hay Ấn Độ mà không bị lôi kéo vào các liên minh đối đầu.
Việt Nam không muốn leo thang căng thẳng ở Biển Đông,
nhưng việc đưa ra lời cảnh báo rõ ràng mạnh mẽ cho cả Trung Quốc và Philippines
là một bước đi hiếm gặp, thể hiện sự kiên quyết về nguyên tắc chủ quyền,
đồng thời chủ động định hình lại luật chơi khu vực.
Việc này càng có trọng lượng khi Việt Nam đồng thời xuất hiện
trên sân khấu địa chính trị toàn cầu tại Quảng Trường Đỏ,
một diễn đàn gợi nhắc đến sức mạnh quân sự, lịch sử chiến thắng Fascist và thông điệp chính nghĩa.
Đối với Nga mà nói, trong bối cảnh họ tiếp tục bị bao vây
bởi các lệnh trừng phạt từ phương Tây do cuộc chiến ở Ukraine,
việc có sự tham gia của quân đội Việt Nam, một quốc gia ASEAN, trung lập,
có vị thế đăng lên là đòn phản tiên truyền có lợi cho Moscow.
Sự hiến diện của Việt Nam giúp Nga truyền tải thông điệp rằng họ không bị cô lập hoàn toàn,
vẫn có các đối tác chiến lược lâu dài và có uy tín trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Việt Nam là một trong những khách hàng quốc phòng lớn nhất của Nga tại Đông Nam Á.
Sự kiện diễu hành là dịp củng cố quan hệ quốc phòng,
đồng thời giúp Nga giữ vị thế nhà cung cấp an ninh truyền thống cho Việt Nam
giữa lúc Hoa Kỳ và phương Tây đang gia tăng tiếp cận.
Chúng ta cần phải nhấn mạnh rằng, mặc dù Hoa Kỳ đang nỗ lực kéo các quốc gia ASEAN về phía mình
trong cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc, đồng thời tìm cách cô lập Nga,
nhưng việc Việt Nam tham gia diễu hành tại Moscow cho thấy Hà Nội
không đi theo định hướng đối đầu, phân tuyến của Mỹ mà duy trì chính sách trung lập linh hoạt.
Điều này nhắc nhở Washington rằng Việt Nam không nằm trong phe nào
mà theo đuổi lợi ích quốc gia thực chất, không phải lợi ích phe phái.
Có một điều đáng suy ngẫm thế này.
Trong lễ diễu binh kỷ niệm ngày 30 tháng Tư, ngày Thống nhất đất nước,
Việt Nam đã mời Trung Quốc tham dự.
Sau đó, Việt Nam lại cử đại diện sang Nga để tham dự lễ duyệt binh kỷ niệm trên thác phát xít.
Nhưng đồng thời, Việt Nam cũng thề lập trường rất cứng rắn trong việc bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông,
đặc biệt là trước các hành vi lấn lướt của Trung Quốc.
Vậy thì chuỗi hành động này phản ánh điều gì?
Việc mời Trung Quốc tham dự diễu binh 30 tháng Tư là bước đi mang tính biểu tượng ngoại giao,
thể hiện thiện trí với láng giềng lớn, tránh tạo không khí đối đầu,
đặc biệt trong dịp kỷ niệm lịch sử dân tộc.
Đây cũng là phép thử để đo phản ứng của Bắc Kinh trước những bước đi kế tiếp của Việt Nam.
Tuy nhiên, ngay sau đó, Việt Nam lại tham gia diễu binh ở Nga,
một quốc gia cũng là đối tác của Trung Quốc nhưng độc lập về chiến lược.
Điều này cho thấy Việt Nam không bị ràng buộc hay phụ thuộc vào Bắc Kinh.
Điều này tạo ra thế đối trọng mềm, gửi tín hiệu tới Trung Quốc rằng
Việt Nam có quan hệ với nhiều đối tác khác nhau
và không chấp nhận sự áp đặt song phương trong tranh chấp biển đâu.
Việt Nam không chọn đối đầu trực tiếp nhưng duy trì thế đứng độc lập,
thể hiện bản lĩnh bằng hành động mang tính quốc tế như là xuất hiện trong các sự kiện quân sự toàn cầu,
chủ động ngoại giao khu vực nhưng cũng không ngần ngại phát ngôn cứng rắn khi lợi ích quốc gia bị xâm phạm.
Tức là hợp tác ở bề nổi nhưng quyết liệt ở lợi ích cốt lõi,
linh hoạt hình thức nhưng kiên định nguyên tắc.
Rõ ràng Việt Nam đang tự định hình vai trò nước trung tâm, không trung lập trong biển đông.
Thông điệp rõ ràng là Việt Nam không theo phe nào nhưng cũng không đứng ngoài cuộc,
sẵn sàng đối thoại và hợp tác với mọi bên, kể cả Trung Quốc,
nhưng không nhân nhượng chủ quyền, kể cả trước Philippines,
một bên có quan hệ gần gũi hơn với Hoa Kỳ.
Bằng cách đó, Việt Nam tạo dựng vai trò của mình như một trung tâm ổn định ở Đông Nam Á,
là một đối tác có bản lĩnh và là một quốc gia có tiếng nói riêng
trong bàn cờ Mỹ, Trung, Nga.
Do đó, giới quan sát cho rằng, việc mời Trung Quốc rồi lại sang Nga,
rồi mạnh mẽ ở biển đông không hề mâu thuẫn,
mà ngược lại là một chuỗi thông điệp ngoại giao, quốc phòng, chủ quyền nhất quán.
Việt Nam giữ kênh đối thoại, giữ quan hệ nhưng giữ bước lập trường.
Đó là hình mẫu ngoại giao bản lĩnh, khéo léo, hiện đại,
giúp Việt Nam giữ thăng bằng trong vùng nhiễu động chiến lược
mà không bị cuốn vào quỹ đạo của cường quốc nào.
Nhìn về một bức tranh rộng lớn thì chúng ta sẽ thấy thế này.
Mối quan hệ Việt Nam, Trung Quốc, Nga đang hình thành một thế chân kiểng kỳ lạ.
Mỗi bên đều tìm cách duy trì thế cân bằng chiến lược với hai bên còn lại,
nhưng không bên nào hoàn toàn tin tưởng hay hoàn toàn ràng buộc vào bên kia.
Trong tâm giác này, Việt Nam và Nga dường như có khả năng đồng hành chiến lược nhiều hơn,
trong khi mối quan hệ Nga-Trung lại mang tính đông sàng dị mộng,
tức là cùng nằm trung giường địa chính trị nhưng khác biệt về giấc mộng quyền lực.
Phân tích mối quan hệ này dưới lăng kính lịch sử, kinh tế và thực tiễn hiện tại
không chỉ giúp làm rõ vai trò của Việt Nam,
mà còn hẽ lộ những điểm giao cắt và va đập trong chiến lược khu vực của các cường quốc.
Trước tiên là mối quan hệ Việt Nam-Nga, trước đây là Việt-Xô,
khởi nguồn từ lòng tin chiến lược giữa một nước nhỏ đang đấu tranh giành độc lập
và một cường quốc xã hội chủ nghĩa đi đầu trong việc hậu thuẫn các phong trào giải phóng dân tộc.
Liên Xô là đối tác quân sự chính trị quan trọng nhất của Việt Nam
trong giai đoạn chiến tranh chống Mỹ,
đồng thời là trụ cột kinh tế công nghệ của Việt Nam thời bao cấp.
Mối quan hệ này, mặc dù có những lúc trồi sụt,
vẫn giữ được tính ổn định mang dầu ấn lịch sử.
Sau khi Liên Xô tan giá, Nga vẫn duy trì quan hệ quốc phòng,
chuyển giao công nghệ và hỗ trợ Việt Nam trong các lĩnh vực chiến lược
như dầu khí, hạt nhân, dân sự và đào tạo sĩ quan quân sự.
Còn mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, tuy là láng giềng nhưng không hề yên bình.
Hai nước có quan hệ văn hóa lịch sử lâu đời,
nhưng cũng chất chứa vô số cuộc xung đột,
từ các cuộc kháng chiến chống phương Bắc thời phong khiến cho tới cuộc chiến biên giới năm 1979.
Những mâu thuẫn những năm 1960-1970 cùng với cạnh tranh địa chính trị ở Đông Dương
đã đẩy hai bên vào thay đối đầu,
trong đó định điểm là xung đột vũ trang ở biên giới phía Bắc và tại quần đảo Trường Sa.
Cho tới ngày nay, mặc dù hai nước đã bình thường hóa quan hệ và phát triển giao thương mạnh mẽ,
Biển Đông vẫn là điểm nóng gây căng thẳng liên tục.
Trung Quốc ngày càng quyết đoán, còn Việt Nam thì kiên định với lập trường chủ quyền,
khiến quan hệ hai nước tồn tại song song giữa hợp tác kinh tế và cảnh giác chiến lược.
Mối quan hệ Nga và Trung Quốc thì lại là một cách nhìn nhận khác.
Họ liên minh do thời thế tạo thành, chứ thực sự không phải là bạn tâm giao.
Nga và Trung Quốc từng là đồng minh khăng khít trong giai đoạn đầu của chiến tranh lạnh,
nhưng sau đó giạn nứt nặng nề bởi tranh chấp biên giới,
khác biệt về mô hình cách mạng và vai trò lãnh đạo thế giới xã hội chủ nghĩa.
Sau khi liên xô sụp đổ, hai bên dần tái thiết lập quan hệ dựa trên đối kháng chung với phương Tây.
Tuy nhiên, hiện tại, Nga, Trung không phải là liên minh thực sự.
Trung Quốc là đối tác kinh tế lớn nhưng cũng là mối lo ngại dài hạn của Nga,
nhất là tại vùng Viết Đông, Siberia, nơi dân số Trung Quốc đang gia tăng ảnh hưởng.
Nga không thoải mái với sự lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc,
trong khi Trung Quốc xem Nga là một công cụ chiến lược hơn là một đối tác bình đẳng.
Đó là nói về yếu tố lịch sử, còn về yếu tố kinh tế và lợi ích thì các đường trục cũng không giao nhau.
Việt Nam, Nga hợp tác không lớn về quy mô nhưng mang tính chiến lược.
Kim ngạch thương mại Việt-Nga ở mức trung bình, khoảng từ 3-5 tỷ đô mỗi năm,
nhưng nổi bật trong các lĩnh vực chiến lược như quốc phòng.
Nga vẫn là nhà cung cấp vũ khí truyền thống và chủ lực cho Việt Nam,
bao gồm tàu ngầm Kilo, máy bay Su-30, radar hay tên lửa phòng không.
Các liên doanh dầu khí tại Biển Đông như Việt-Sô-Pê-Trô cũng là trụ cột hợp tác giữa hai nước.
Việc đào tạo nhân lực và công nghệ quân sự cũng đang được tiến hành.
Nga thì coi Việt Nam là cửa ngõ vào Đông Nam Á và là một trong số ít quốc gia
có chính sách đối ngoại độc lập, không theo Mỹ hay Trung Quốc.
Như chúng ta vừa nói ở trên, Việt Nam, Nga đồng hướng chiến lược trong một thế giới phân cực.
Cả Việt Nam và Nga đều theo đuổi chính sách đối ngoại đa phương và độc lập,
dè chừng Trung Quốc nhưng không đối đầu trực tiếp và không chấp nhận sự thống trị đơn phương của Hoa Kỳ.
Trong thế giới phân cực, hai nước tìm đến nhau như một cách để mở không gian địa chiến lược.
Nga cần Đông Nam Á, Việt Nam thì cần một đối tác lớn không giảng buộc.
Trong khi Việt Nam-Trung Quốc là mối quan hệ lệ thuật-kinh tế nhưng dè chừng chiến lược,
Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch hơn 170 tỷ USD năm 2023,
nhưng đằng sau đó là những mối lò. Cán cân thương mại đang lệch nghiêng về Trung Quốc.
Việt Nam phụ thuộc vào nguyên vật liệu linh kiện trung gian từ Trung Quốc,
dù dò từ hành vi kinh tế không minh mạnh và đòn bẩy chính trị cũng là một mối đe dọa.
Trong khi đó, các hành động đơn phương của Bắc Kinh trên Biển Đông,
nhất là trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam đã khiến mối quan hệ song phương luôn ở trạng thái cảnh giác.
Quan hệ Việt-Trung dù hợp tác nhưng không thể giấu được những mâu thuẫn câu trúc,
mâu thuẫn không thể gian xếp về chủ quyền Biển Đông,
mâu thuẫn chiến lược trong việc thiết lập ảnh hưởng ở Đông Dương và mâu thuẫn mô hình,
Việt Nam không muốn rơi vào quỹ đạo chính trị kiểu Bắc Kinh.
Tất nhưng, mối quan hệ Nga-Trung như chúng ta đã biết là do Hoa Kỳ giữa thời Biden
đã đẩy họ vào tình thế trung thuyền, tức là bị hợp tác bắt buộc nhưng không mềm vững.
Kể từ khi Nga bị phương Tây trừng phạt sau năm 2014, Trung Quốc trở thành đối tác thương mại số 1 của họ.
Tuy nhiên, Nga chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô, dầu khí, than, gỗ sang Trung Quốc
làm giấy lên lo ngại về vị thế thuộc địa kinh tế.
Trung Quốc lợi dụng thế yếu của Nga để đàm phán giá rẻ, kiểm soát đầu tư và hạ tầng.
Hai nước cạnh tranh ảnh hưởng ở Trung Á và Bắc Cực,
Nga đều phải để mắt canh chừng Trung Quốc bởi yếu tố địa lý trong cạnh tranh.
Trung Quốc cần Nga để phá thế bao vây của Mỹ, còn Nga thì cần Trung Quốc để thoát cô lập.
Thế nhưng, Trung Quốc mơ về trật tự mới do họ dẫn đầu,
Nga thì muốn khôi phục vị thế siêu cường kiểu Soviet.
Trung Quốc mở rộng quyền lực mềm toàn cầu, Nga thì sử dụng quyền lực cứng và hành động đơn phương.
Trung Quốc thích ổn định để phát triển, Nga tận dụng bất ổn để mặc cả chiến lược.
Rõ ràng, điều này làm sâu sắc hơn nhận định.
Mỗi bên lợi dụng bên kia, nhưng không ai thật sự tin nhau.
Sự đồng hướng giữa Việt Nam và Nga, trong khi Nga chung chỉ là đồng sàng dị mộng,
phản ánh rằng Việt Nam đang tận dụng khéo léo vị thế nước chung dung để giữ độc lập chiến lược.
Không nghiêng về Mỹ, nhưng không để Trung Quốc áp đặt giữ quan hệ với Nga như một đối trọng mềm
nhằm thoát thế kẹt ra hai siêu cường.
Nga cần Việt Nam như là một đồng minh tại Đông Nam Á, không phụ thuộc vào Mỹ hay Trung Quốc.
Việt Nam là quốc gia hiếm hoi, vừa duy trì hợp tác quốc phòng với Nga, vừa giữ tiếng nói chính nghĩa ở khu vực.
Trung Quốc ngày càng bị cô lập về chiến lược, dù tỏ ra là trung tâm của trật tựa mới.
Ngay cả với Nga, Bắc Kinh cũng không đạt được lòng tin dài hạn.
Với Việt Nam, Trung Quốc đang đánh mất dân khả năng ảnh hưởng mềm.
Vâng, quý vị thế đấy, mối quan hệ tam giác Việt Nam-Trung Quốc-Nga phản ánh một xu thế đang nổi bận.
Thế giới hậu chiến tranh lạnh không còn phân chia theo phe, mà được cấu trúc lại theo lợi ích, sự dè chừng và quyền năng mềm.
Trong tam giác ấy, Việt Nam nổi lên như một điểm tựa chiến lược cân bằng.
Nga chơi trò đi dây giữa cô lập và can dự, Trung Quốc dù mạnh nhưng ngày càng khó được tin tưởng.
Thế chân kiềng không vững nếu một chân đổ.
Nhưng khi cả ba chân đều giữ thế dè chừng, không dồn ép nhau quá mức, thì đó chính là cơ chế cân bằng mềm của khu vực.
Nơi Việt Nam không chỉ đứng giữa, mà còn giữ vai trò điều tiết không gian địa chính trị đang thay đổi nhanh chóng.
Đó cũng chính là bài toán chiến lược mà Việt Nam đang giải một cách tỉnh táo, linh hoạt và đầy bản lĩnh.
Sẽ không trọn vẹn nếu như chúng ta không đề cập tới Hoa Kỳ trong bức tranh này.
Chúng ta biết rằng, dưới thời tổng thống Obama, Hoa Kỳ đã yếu trên nhiều mặt trận.
Đến thời Biden, thì Mỹ vẫn tiếp tục mộng du trong chính sách đối ngoại.
Mỹ dưới thời Biden đã sai lầm chiến lược một cách nghiêm trọng, chọn đối đầu với Nga và thả cửa cho Trung Quốc.
Chính điều này đã khiến Hoa Kỳ dưới thời Trump bị rơi vào mớ hỗn độn.
Khác với các đời tổng thống trước như là Obama, ưu tiên xoay trục hay Biden để cao liên minh dân chủ,
chính quyền Trump trong nhiệm kỳ 2 xác định Trung Quốc là đối thủ chiến lược duy nhất ở cấp toàn cầu,
không chỉ về kinh tế, mà cả về công nghệ, an ninh và trật tự quốc tế.
Chính sách thuế quan phủ đầu, hạn chế đầu tư và tách rời chuỗi cung ứng là biểu hiện rõ nét.
Tuy nhiên, Trump không muốn chiến đấu trên quá nhiều mặt trận cùng lúc.
Và đây là điểm mẫu chốt để hiểu lý do ông mở cửa đối thoại với Nga,
đồng thời tạo thêm không gian chiến lược cho các nước chung dung như là Việt Nam.
Trump nhìn nhận rằng việc dồn Nga và Trung Quốc lại gần nhau là sai lầm chiến lược lớn nhất của Mỹ thời hậu Obama.
Bằng việc mở lại các kênh đối thoại nhiều tầng với Moscow,
Trump hy vọng giảm phụ thuộc chiến lược của Nga và Trung Quốc,
nhất là trong lĩnh vực năng lượng và công nghệ,
kích hoạt bản năng cạnh tranh Á-Âu truyền thống của Nga để làm lệch trọng tâm của liên minh Nga chung,
sử dụng Nga như một đối trọng tạm thời trong bàn cờ Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương,
hoặc ít nhất khiến Nga đứng ngoài cuộc khi Mỹ tăng cường áp lực với Bắc Kỳ.
Chiến lược này mang tính chia để trị,
nhưng hiệu quả là khoét tách mối liên kết thay vì đối đầu trực diện.
Với Việt Nam, Trump đã nhìn thấy Việt Nam là một quốc gia có độc lập,
có lập trường, có chủ quyền rõ ràng, nhưng có tiềm năng hợp tác kinh tế và an ninh lớn.
Có vị thế then chốt tại Biển Đông, gần Trung Quốc nhưng không phải đồng minh Trung Quốc,
là một nút điều tiết trong chiến lược kiểm soát chuỗi không ứng ngoài Trung Quốc.
Vì thế, thay VF Việt Nam chọn phe, Trump áp dụng chiến lược Mở Âu cửa chiến lược,
không tạo sức ép liên minh quân sự nhưng mở rộng hợp tác quốc phòng,
chia sẻ radar, đào tạo hay là tuần tra chung, không ràng buộc với dân chủ, nhân quyền,
nhưng thúc đẩy đầu tư và chuỗi cung ứng bán dẫn, không trừng phạt hay gây bất ổn,
mà tạo không gian để Việt Nam tự điều chỉnh thế cân bằng giữa Mỹ, Trung, Nga.
Rõ ràng đây là một chiến lược khôn ngoan, vì một Việt Nam tự do hành động
nhưng ngả dần về phía Mỹ trong thực tế,
hiệu quả hơn là một Việt Nam bị ép buộc rồi phản kháng bằng cách co cụm chiến lược.
Vâng thưa quý vị, nhìn chung giữa thời Trump không xây dựng liên minh kiểu NATO mới,
mà Hoa Kỳ đã xếp lại bàn cờ châu Á-Thái Bình Dương với các quân cờ linh hoạt.
Ở đó, Nga không là bạn, nhưng cũng không phải là kẻ thù bắt buộc.
Việt Nam không phải đồng minh theo hợp ước, nhưng là đối tác mặn cả đáng giá.
Nhưng Trung Quốc thì là đối thủ cố định và phải bị đánh bằng cách cô lập,
chia tách và kiềm chế đa hướng.
Đây là chiến lược kết hợp, thực dụng, linh hoạt, phi thể chế rất đặc trưng của Trump.
Nó đang thể hiện tính hiệu quả trong môi trường thế giới không ổn định.
Thú thực, chúng ta vẫn không thể phủ nhận vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ trong câu chuyện toàn cầu.
Bức tranh toàn cầu đang hiện rõ, Trung Quốc mới là mục tiêu trọng tâm của Mỹ hiện nay.
Nó kéo theo hàng loạt những quốc gia liên đối trong cỗ máy đó như là Nga hay là Việt Nam.
Điều gì sẽ xảy ra nếu Việt Nam, Nga cũng lại đứng bên cạnh Mỹ để đối phó với Trung Quốc?
Đây là sự bao vây và cô lập toàn diện phải không quý vị?
Do đó, Bắc Kinh cần phải thay đổi chiến lược ở Biển Đông
và cần coi trọng Việt Nam hơn trong cán cân quyền lực.
Chúng ta hãy cùng chờ xem!
Đến đây, chương trình ngày hôm nay của chúng tôi cũng xin phép tạm dừng.
Xin mời quý vị chia sẻ quan điểm cá nhân ở phần dưới.
Chúng tôi luôn tôn trọng mọi sự khác biệt.
Lê Minh xin chào và hẹn gặp lại!
