TẠI SAO AUSTRALIA BỎ HOANG 99 DIỆN TÍCH ĐẤT NƯỚC

Jack
19 người theo dõi
6 Lượt xem video·28 thg 3, 2025
© Nội dung do 5 PHÚT THÔI tổng hợp và biên tập
© Một số hình ảnh/cảnh quay trong video này không thuộc sở hữu của 5 PHÚT THÔI. Mọi thắc mắc về bản quyền, các chủ sở hữu có thể liên hệ với kênh qua email [email protected]. 5 PHÚT THÔI chân thành cảm ơn!
© Some images and footage in this video are not owned by 5 PHUT THOI. Any questions about copyright, owners can contact the channel: [email protected]. Thank you!
Comments are disabled for this video.
Xin chào các bạn!
Australia là quốc gia duy nhất trên thế giới sở hữu riêng cho mình cả một lục địa.
Nhưng trái với kích thước khổng lồ, mảnh đất này lại cực kỳ thơ thớt dân cư.
Phần lớn dân số tại đây chỉ tập trung ở khu vực ven biển,
trong khi vùng nội địa rộng lớn lại chẳng có mấy bóng người.
Nguyên nhân cho hiện tượng này đến từ nhiều yếu tố,
bao gồm cả địa lý, văn hóa và lịch sử.
Để khắc phục vấn đề,
Vậy kế hoạch đó là gì?
Và tại sao phần lớn lãnh thổ Australia lại thơ thớt dân cư?
Trong video ngày hôm nay, các bạn hãy cùng 5 phút thôi tìm hiểu về chủ đề này nhé!
Đất nước thơ dân bậc nhất thế giới
Thịnh vượng Trung Australia là một quốc gia nằm ở châu đại dương,
với phần lớn lãnh thổ thuộc về lục địa Úc,
trong khi phần còn lại là các hòn đảo xung quanh,
lớn nhất là đảo Tasmania.
Australia sở hữu diện tích lên tới 7.688.287 km2 và rộng thứ 6 thế giới,
nhưng quốc gia này lại có dân số rất khiêm tốn,
chỉ khoảng 27 triệu người vào năm 2023, xếp hạng 54 trên toàn cầu.
Như vậy thì mật độ dân cư ở đây cực kỳ thơ thớt,
chỉ khoảng 3,5 người trên 1 km2, thấp thứ 2 trong số các quốc gia
và chỉ đứng sau Mông Cổ với 2,2 người trên 1 km2.
Để so sánh, hiện tại trên thế giới có tới 51 đơn vị hành chính cấp 1
có dân số đông hơn Australia, phần lớn trong số đó nằm tại Ấn Độ và Trung Quốc,
thậm chí hiện tại có đến 3 siêu đô thị có dân số đông hơn cả một châu lục,
đó là Đại Tokyo, 43,5 triệu người, Đại Thượng Hải, 37,8 triệu người
và Đại Manila, 29 triệu người.
Ngược lại, Australia có tiểu bang Tây Úc với diện tích lên tới 2.527.013 km2,
nó là đơn vị hành chính cấp 1 lớn thứ 2 thế giới,
và nếu là một quốc gia độc lập, nó rộng thứ 10 toàn cầu.
Dù vậy thì nơi đây lại rất thừa thớt dân cư khi chỉ có hơn 2,9 triệu người sinh sống,
tức là một độ dân số chỉ đạt 1,15 người trên 1 km2.
Trên thực tế, Australia có 5 thành phố lớn và tất cả đều nằm ven biển,
bao gồm Sydney, Melbourne, Brisbane, Perth và Adelaide.
Nhưng thành phố này là nơi sinh sống của khoảng 2,3 dân số cả nước,
do đó đây là một trong những quốc gia có tỷ lệ đô thị hóa cao nhất trên thế giới.
Thậm chí có tới 90% dân số Australia sống trong các đô thị,
nhưng tất cả chúng chỉ chiếm 0,22% tổng diện tích địa lý của đất nước,
một con số cực kỳ tranh lệch.
Ngược lại, vùng nội địa của quốc gia này dù rộng lớn,
nhưng chỉ chiếm một số lượng dân cư rất nhỏ, với khoảng 15%,
trong khi 85% còn lại trong tổng dân số Australia cư trú trong phạm vi 50 km tính từ đường bờ biển.
Sự khác biệt to lớn này chủ yếu đến từ các tăng nhân địa lý.
Vùng nội địa khắc nghiệt
Có thể tưởng tượng rằng đường xích đạo tức vị tuyến không độ giống như một đường kẻ thẳng
chia thế giới của chúng ta thành hai phần bằng nhau do cấu trúc hình cầu và độ nghiêng nhẹ của trái đất
nên đây là khu vực nhận được cường độ ánh sáng mặt trời cao nhất.
Nhưng vùng xích đạo lại không phải là nơi có nhiệt độ cao nhất trên thế giới,
nó là do sự khác biệt giữa sức nóng của không khí khô và không khí ẩm.
Ánh sáng mặt trời với cường độ cao chiếu vào vùng xích đạo tạo ra các luồng không khí dâng cao
giúp hình thành các đám mây mật độ dày đặc trên bầu trời,
sau đó gây ra mưa và rông bão.
Điều này có nghĩa là những người sống tại các khu vực trên đường xích đạo
sẽ được cảm nhận bầu không khí ẩm do mây và mưa tạo ra,
dù đây là nơi hấp thụ ánh sáng mặt trời nhiều nhất.
Không chỉ vậy, khối không khí nóng được bốc lên cao từ vùng xích đạo
sẽ có chiều hướng bay về phía hai cực.
Tuy nhiên, chúng bị đổi hướng do hiệu ứng Coriolis
và bay ngược lại khu vực xung quanh các đường trí tuyến.
Lúc này khối không khí nóng ẩm càng trở nên khô hơn và bay thấp hơn so với ban đầu.
Kết quả là những vùng đất nằm xung quanh trí tuyến mới là nơi nóng nhất trên trái đất,
trong đó vị tuyến 23 độ 26 phút 22 giây Nam,
tức đường trí tuyến Nam đi thẳng qua trung tâm của lục địa Úc.
Do đó, Australia nắm giữ nhiều kỷ lục liên quan đến nhiệt độ,
bao gồm vùng mở rộng nóng nhất quanh năm,
các khu vực có khí hậu mùa hè nóng nhất và thời gian nắng dài nhất.
Nhìn chung, quốc gia này có thời tiết cực đoan
với mùa hè nắng nóng và nhiệt độ giao động từ 32-40 độ C
trong khi mùa đông ấm áp từ 18-23 độ C.
Đặc biệt, nhiệt độ tối đa trung bình vào tháng 1
vượt qua 30 độ C trên hầu hết diện tích đất liền,
trong đó có nhiều địa điểm ở Australia có nhiệt độ cực đại
từ 43-48 độ C.
Chính vì vậy, lục địa Úc là lục địa khâu hạn thứ 2 trên trái đất,
chỉ đứng sau lục địa Nam cực với khí hậu siêu lạnh giá.
Hiện nay, lượng mưa trung bình hàng năm trên toàn bộ diện tích Australia
là dưới 500mm trên một năm.
Nếu theo định nghĩa chính xác thì có khoảng 18% lãnh thổ quốc gia này là sa mạc
với lượng mưa ít hơn 200mm trên một năm.
Nhưng trên thực tế, khoảng 35% diện tích Australia
nhận được rất ít mưa, do đó 1 phần 3 đất nước là sa mạc
với nhiệt độ 3 ngày mùa hè giao động từ 32-50 độ C
và nhiệt độ tối đa vào mùa đông trung bình từ 18-23 độ C.
Đồng thời, luồng khí khô và bầu trời trong xanh
đã tạo ra sự khác nhau rất lớn giữa ngày và đêm
với biên độ nhiệt giao động 15 độ C là điều bình thường
và 20 độ C cũng không hẳn là bất thường.
Trong khi Darwin, thành phố lớn nhất trên bờ biển phía bắc của Australia
có lượng mưa trung bình hàng năm lên tới 1832mm
tuy nhiên đô thị này lại có khí hậu sa vang nhiệt đới
do đó phần lớn những cơn mưa chỉ diễn ra trong 4 tháng
kéo dài từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau
còn vào mùa khô từ tháng 5 đến tháng 9
lượng mưa trung bình hàng tháng chỉ rơi vào khoảng 5mm.
Sự khác biệt to lớn này là do khu vực phía bắc Australia
có lượng mưa thất thường nhất từng được ghi nhận trên trái đất
nguyên nhân là bởi ảnh hưởng của gió mùa đi kèm với thời tiết nhiều mây
thời gian mưa lớn kéo dài, dông bão từng cơn
và gió giật cực mạnh thường dẫn đến lũ lụt.
Đặc biệt, lượng mưa hàng ngày cao nhất của Darwin
được cục khí tượng xác minh là 367,6mm
khi bão Cát Lốt đổ bộ vào khu vực này trong ngày 16 tháng 2 năm 2011.
Thực tế thì nơi đây có lượng mưa chỉ tập trung vào một thời gian ngắn
trong những cơn bão nhiệt đới không thể dự đoán trước
và gây ra không ít thiệt hại cho người dân.
Trong khi mùa khô thì lượng nước lại cực kỳ ít
và mọi hoạt động đều gặp phải nhiều khó khăn, nhất là canh tác nông nghiệp.
Kết quả là Darwin, dù là thành phố đông dân nhất trên bờ biển phía bắc của Australia
với dân số khoảng 148.000 người
thì khi đứng trên toàn quốc, nó chỉ xếp hạng thứ 17.
Trái lại, khu vực phía Tây Úc có khí hậu khô hạn nhất cả nước
đó là do dòng hải lưu lạnh Tây Australia
Nó bắt nguồn từ Nam Bang Dương lạnh giá ở xung quanh lục địa Nam Cực
đi về phía Bắc và uốn lượn dọc theo đường bờ biển phía Tây của lục địa Úc
khiến cho nơi đây thiếu đi độ ẩm và lượng mưa rất thấp
do đó ngày càng khô hạn hơn nhiều.
Trong khi dòng hải lưu nóng đông Australia
bắt nguồn từ vùng xích đạo chảy về phía Nam
dọc theo đường bờ biển phía Đông của lục địa Úc
từ đó cung cấp cho khu vực này nhiều độ ẩm hơn và cũng có nhiều mưa hơn.
Đặc biệt, dãy núi Great Diving với chiều dài hơn 3.500 km
và chiều rộng từ khoảng 160 đến hơn 300 km
đã tạo ra một lớp lá trắng ngăn cản luồng không khí ẩm
đi vào sâu bên trong nội địa.
Kết quả là khu vực ven biển nằm ở phía Đông có lượng mưa cao hơn
trong khi vùng đất ở phía Tây có lượng mưa thấp hơn hẳn.
Không chỉ vậy, lục địa Úc là khối đất liền thấp nhất, bằng phẳng nhất
và lâu đời nhất trên trái đất do nơi đây có lịch sử địa chất tương đối ổn định.
Mặc dù điều này giúp Australia ít bị ảnh hưởng
bởi động đất, sóng thần và núi lửa
nhưng nó cũng khiến quốc gia này bị thiếu đi các con sông lớn.
Thực tế thì những dòng chảy vĩ đại trên thế giới đều có một điểm chung
đó là chúng đều xuất phát từ các ngọn núi hùng vĩ.
Với độ cao tuyệt vời, đây là nơi mà tuyết được tích tụ
trong suốt mùa đông. Để rồi đến mùa xuân, tuyết bắt đầu
tan đi và tạo thành các dòng chảy xuống vùng đồng bằng.
Những dòng sông không chỉ mang nước để tươi tiêu
mà còn đem đến phủ sa, một loại phân bón tự nhiên
cung cấp dinh dưỡng cho các loại cây trồng.
Vì vậy, nếu như không tính lục địa Nam Cực lạnh giá
thì lục địa Úc khô cản là nơi có đất đai kém mẩu mỡ nhất
trên thế giới. Ngay như Australia, thì dãy
núi Great Daviding cũng là nguồn cung cấp nước chính.
Mặc dù chảy dài khắp miền đông đất nước nhưng nó chỉ có
chiều cao khiêm tốn từ 300 đến 1.600 mét.
Trong đó địa điểm cao nhất là núi Kosciuszko với
phần đỉnh nằm cách mực nước biển là 2.229 mét.
Đây là ngọn núi cao nhất của lục địa Úc nhưng lại là thấp nhất
trong danh sách các ngọn núi đứng đầu các lục địa.
Để so sánh thì nó chỉ là gã tí hòn khi đặt lên bàn cơn
với Everest, Aconcagua hay là Denali.
Dù vậy thì nơi mà núi Kosciuszko tọa lạc
tức là cao nguyên Đông Nam vẫn là khu vực cao nhất của Australia.
Đây gần như là nơi duy nhất của lục địa Úc có tuyết vào mùa đông
với tuyết rơi dày thường xảy ra ở độ cao khoảng 900 mét
đặc biệt là ở khu vực phía Tây.
Khu vực này cũng là nơi khởi nguồn của sông Murray
là con sông dài nhất Australia với chiều dài là 2.508 km
và lưu lượng trung bình là 767 m3 trên 1 giây.
Trong khi dòng chảy quan trọng khác là sông Darling
nó là con sông dài thứ 3 ở Australia với chiều dài 1.472 km
đồng thời là phụ lưu lớn nhất của sông Murray
với lưu lượng trung bình là 100 m3 trên 1 giây.
Chúng hợp nhất để tạo thành lưu vực Murray-Darling
có diện tích lên tới 1.061.469 km2.
Nơi đây có địa hình bằng phẳng, trũng thấp và nằm sâu trong đất liền
nên nhận được rất ít lượng mưa trực tiếp.
Thực sự thì lưu lượng của cả 2 con sông Murray và Darling
là rất khiêm tốn nhưng vẫn thuộc loại lớn
nếu xét theo tiêu chuẩn của lục địa Úc.
Vì vậy mà lưu vực này là một trong những vùng nông nhập
quan trọng nhất của đất nước cung cấp 1 phần 3 nguồn cung cấp lương thực cho Australia.
Bên cạnh đó còn nhiều con sông nhỏ hơn
bắt nguồn từ dạy núi Great Diving đi về phía đông
cung cấp nguồn nước quan trọng cho các đô thị lớn.
Có thể nói đây chính là nơi tạo ra phần lớn dòng chảy quan trọng của Australia
qua đó duy trì cơ cấu dân số.
Dù vậy thì lượng mưa hạn chế cùng hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu
đã khiến cho sứ sở chuột túi gặp phải nhiều khó khăn
như vào mùa hè năm 2013 được gọi là mùa hè giận dữ
khi nó đã phá vỡ 123 kỷ lục thời tiết
trong khoảng thời gian 90 ngày
bao gồm ngày nóng nhất từng được ghi nhận trong tháng 1
nhiệt độ trung bình mùa hè nóng nhất từng được ghi nhận
và kỷ lục 7 ngày liên tiếp khi toàn bộ đất nước có nhiệt độ trung bình trên 39 độ C
Vào lúc đó có đến 70% diện tích Australia
bị ảnh hưởng bởi đợt năng nóng
hình thành sau một khối không khí nóng dài dẳng bao phủ trung tâm lục địa
thậm chí tại một số khu vực của tiểu bang Queensland
nhiệt độ ban đêm không giảm xuống dưới 35 độ C
Australia cũng thường xuyên gặp phải hiện tượng cháy rừng
và một trong những thảm họa lớn nhất đó là mùa hè đen
kéo dài từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020
Các đám cháy đã thiêu dụi 243.000 km2 đất
phá hủy 9.352 công trình
và khiến cho 479 người thiệt mạng
với tổng thiệt hại ước tính lên đến 69-159 tỷ USD
và trở thành thảm họa thiên nhiên tốn kém nhất trong lịch sử đất nước đến thời điểm đó
Đồng thời khói của đám cháy đã di chuyển lên
trên 11.000 km qua Nam Thái Bình Dương
ảnh hưởng đến điều kiện thời tiết ở các lục địa khác
Đây cũng là một thảm họa sinh thái khi cướp đi mạng sống của 3 tỷ động vật có sương sống trên cạn
trong đó có nhiều loài đã bị tuyệt chủng do thảm họa này
Khí hậu của Australia cũng thường xuyên gặp phải những bất ổn
do hiện tượng El Nino và La Nina diễn ra đàn sen
Hai hiện tượng này xuất hiện ở Thái Bình Dương theo một chu kỳ
khiến cho nhiệt độ của nước biển tăng lên và hạ xuống
từ đó tạo ra thời tiết cực đoan tại nhiều nơi
trong đó có phần phía đông của Australia
còn phía tây của sứ sở chuột túi chịu ảnh hưởng của lưỡng cực Ấn Độ Dương
Đây là hiện tượng nước biển ở Ấn Độ Dương nóng và lạnh theo chu kỳ
từ đó tác động đến khí hậu của toàn bộ khu vực xung quanh
Đặc biệt là trong năm 2023, Australia phải đối mặt với
cả hai hiện tượng thời tiết cực đoan là El Nino và lưỡng cực Ấn Độ Dương
Hệ quả là mùa hè năm đó rất ít mưa, nhiệt độ cao hơn bình thường
nhiều đợt nắng nóng và nguy cơ cháy rừng tăng cao
Nhưng lần này, người dân đã đề cao cảnh rác
và có sự chuẩn bị tốt hơn nên thiệt hại được giảm thiểu
Dù diện tích khu vực bị cháy lên đến 960.819 km2
nhưng chỉ có hơn 170 công trình bị phá hủy
và 10 người thiệt mạng
Với tình trạng nóng lên toàn cầu như hiện nay
thời tiết tại Australia ngày càng khô hạn hơn và sóng nhiệt
tức một giai đoạn thời tiết nóng một cách quá mức cũng ngày càng phổ biến hơn
Đây là thảm họa thiên nhiên chết chóc nhất tại Sứ Chuột Túi
gây ra nhiều ca tử vong hơn cả cháy rừng, lốc xoáy
động đất, lũ lụt và bão lớn cộng lại
Cách đây 50.000 năm trước, khi mà trái đất còn đang trong thời kỳ Băng Hà
con người đã di cư từ lục địa Á-Âu qua Đông Nam Á Hải đảo
để đến đảo New Guinea và đặt chân tới lục địa Úc
Sau đó họ dần lan tỏa xuống phía Nam
tới Devole ở cực Tây Nam vào khoảng 47.000 năm trước
và Tasmania vào 39.000 năm trước
Nhưng khoảng 19.000 năm trước, nhiệt độ tăng khiến cho băng tan
và nước biển cũng bắt đầu dâng lên
Cuối cùng thì lục địa Úc tách biệt hẳn với phần còn lại của thế giới
Trong hàng chục nghìn năm, sự lan rộng của con người đã làm thay đổi hoàn toàn môi trường tự nhiên
Họ đốt rừng để dọn sạch các loại cây cối
giúp cho việc đi lại dễ dàng hơn
và tạo ra những đồng cỏ rộng lớn với nguồn thực phẩm dồi dào
Điều này cũng khiến cho khu vực nội địa của lục địa Úc ngày càng khô hạn hơn
do thiếu đi sự che phủ của thảm thực vật
Cuộc sống của những người thổ dân cứ thế mà trôi qua cho đến đầu thế kỷ 17
khi người châu Âu bắt đầu khám phá vùng đất ở phương Nam
Vào năm 1606, người Hà Lan thực hiện chuyến đổ bộ đầu tiên lên lục địa Úc
Sau đó họ đã nhiều lần tiến hành khám phá khu vực xa xôi này
Nhưng các ý tưởng về việc thành lập thuộc địa đều bị bác bỏ
vì chi phí tốt kém mà lợi ích đem lại là không đủ để bù đắp
Trong khi vào nửa sau thế kỷ 18
Anh và Pháp là các thế lực khác đến từ châu Âu
cũng thực hiện các cuộc thám hiểm tại lục địa Úc
Vào ngày 29 tháng 10 năm 1770, tàu Endeavour của thuyền trưởng người Anh James Cook
đã đến vịnh Botany
Không lâu sau đó, vào ngày 19 tháng 4 năm 1775
Cư dân ở 13 thuộc địa Bắc Mỹ đã quyết định đứng dậy đấu tranh đòi độc lập
để thành lập nền hợp Trung Quốc-Hoa Kỳ
Một vấn đề đối với đế quốc Anh lúc này
là họ đang mất đi các nhà tù ở tân thế giới
Trong thời gian từ năm 1718 đến năm 1775
đã có 50.000 tù nhân được gửi đến đây
Giải pháp thay thế đó là vịnh Botany ở lục địa Úc
hoặc các địa điểm ở bờ biển Tây Phi
Cuối cùng phương án phù hợp nhất chính là vịnh Botany
Bên cạnh đó, đế quốc Anh cũng đang tăng cường các hoạt động thương mại tại Thái Bình Dương
Vì vậy, họ mong muốn thiết lập một căn cứ ở phía đông lục địa Úc
bằng cách xây dựng một hải cản chiến lược trong khu vực
nhằm đảm bảo nguồn cung cấp gỗ và lanh cho hải quân
Cuối cùng, vào tháng 5 năm 1787
hạm đội bao gồm 11 con tàu đã xuất pha từ cảng Port Mert
để đến vịnh Botany
Sau khi đặt chân đến vùng đất mới, họ khám phá gia vịng Sydney ở gần đó
là địa điểm thuận lợi hơn với nguồn cung cấp nước ngọt
và là một bến cản an toàn
Kể từ lúc này, lục địa Úc trở thành một chạy giam của đế quốc Anh
Cụ thể thì từ năm 1788 đến năm 1792
khoảng 3.546 nam và 766 nữ tù nhân đã được đưa đến Sydney
Nhưng trong thời kỳ này, do trang thiết bị kém
đất đai không màu mỡ và khí hậu khác lạ đã ngăn cản việc mở rộng hoạt động nông nghiệp
Phải đến năm 1803, thô địa này mới có thể tự cung tự cấp ngũ cốc
Bên cạnh đó, dù ban đầu tù nhân và canh ngục chiếm phần lớn dân số
nhưng số lượng những người tự do cũng bắt đầu tăng lên nhanh chóng
Họ bao gồm những tù nhân được thả, trẻ em sinh ra tại địa phương
những người lính đã hết thời hạn nghĩa vụ quân sự
và những người đến từ quần đảo Anh
Đến năm 1830, những người định cư tự do
và những người sinh ra tại địa phương đã vượt qua số tù nhân
Đồng thời, họ đã vượt qua dạy núi Great Daviding
để tiến hành chăn thả và canh tác quy mô lớn trên các đồng cỏ
có nhiều cây cối ở phía Tây
Nhưng điều này cũng gây ra xung đột với những người bản địa
Do tách biệt với phần còn lại của thế giới trong hàng nghìn năm
Tù nhân ở lúc địa Úc không có kháng thể chống lại các căn bệnh
như đậu mùa, cúm và lao
khiến cho dân số của người bản địa suy giảng nhanh chóng
Còn những người sống sót dù đã cố chống trả
nhưng họ lại bị áp đảo bởi công nghệ của thực dân phương Tây
với súng ống và trang thiết bị hiện đại
Kết quả là hoạt động chăn thả gia súc ngày càng mở rộng ở Australia
trong đó cừu là vật nuôi chủ yếu
Và đến năm 1844
Len chiếm đến một nửa sản lượng xuất khẩu của thuốc địa này
Tới thập niên 1850
các mỏ vàng bắt đầu được tìm thấy
thu hút một số lượng lớn người nhập cư
Dân số Australia tăng từ 430.000 người vào năm 1851
lên đến 1.170.000 người vào năm 1861
Đồng thời, những cải tiến trong công nghệ canh tác
và việc đưa vào các loại cây trồng thích nghi
với điều kiện của lúc địa Úc
đã dẫn đến sự mở rộng diện tích đất ở vùng nông thôn
Khi mà nền kinh tế ngày càng phát triển
thuốc địa này ngày càng đòi hỏi nhiều quyền lợi
Đến năm 1901
Australia trở thành một quốc gia
và có một hiến pháp riêng
Trong đó có đạo luật hạn chế nhập cư
nhằm duy trì dân số người da trắng áp đảo
và ngăn cả những người nhập cư đến từ châu Á
Tới thời chiến thứ 2
Australia và Nhật Bản đụng độ nhau
tại mặt trận Thái Bình Dương
Những trận chiến thảm khốc tại đây
khiến cho chính phủ Canberra có quan điểm mới
Với dân số rất nhỏ
chỉ khoảng 7.465.000 người vào năm 1946
Trong khi số lượng người nhập cư châu Á
Các chính trị gia ở Australia đã đem ra chính sách
sinh sôi hoặc diệt vong
nhằm khuyến khích người da trắng đến đây định cư
Chỉ trong vòng một thập kỷ
đã có một triệu người di cư tới xứ sở chuột túi
khiến dân số nước này tăng lên
thành 9.425.000 người vào năm 1956
Mãi tới năm 1973
chính sách Australia da trắng
mới được bãi bỏ
Theo đó trao thêm quyền lợi cho người bản địa
trong khi trào đón những người nhập cư
đến từ khắp nơi trên thế giới
Điều này khiến cho xứ sở chuột túi
ngày càng đa dạng với sắc tộc và văn hóa
Hiện nay
có khoảng 30% dân số Australia
là người sinh ra tại nước ngoài
Và vào năm 2023
có khoảng 152.200 người nhập cư đến xứ sở chuột túi
Như điều này cũng từng gây ra
không ít những tranh cãi
Như vào ngày 7.8.2018
Đồng hồ dân số của Cục Thống kê Australia
đã đạt 25 triệu người
sớm hơn 33 năm so với dự đoán
Với 62% mức tăng trưởng
trong một thập kỷ trước đó là kết quả của nhập cư
Tới năm 2019
theo một cuộc thăm dò của viện Lowy
49% người dân xứ sở chuột túi
cảm thấy tổng số người di cư
đến Australia mỗi năm là quá cao
Trong khi chỉ có 13% cho rằng là quá thấp
cho thấy mức tăng 10%
trong sự phản đối nhập cư kể từ năm 2014
Nhìn chung, xã hội xứ sở chuột túi
vẫn chấp nhận người nhập cư
Mà một trong những lý do quan trọng nhất là phần lớn họ đến từ châu Á
Chủ yếu là từ các nước như Trung Quốc
Ấn Độ, Philippines và Việt Nam
Trong khi những người di cư tới từ những khu vực
bất ổn như Trung Đông, Bắc Phi
và châu Phi hạ Sahara là rất thấp
Do vị trí xa xôi
nên họ ít khi lựa chọn Australia là điểm đến phù hợp
thay vào đó là châu Âu và Bắc Mỹ
Bên cạnh đó
dân số Australia đang thu hẹp
do tỷ lệ sinh quá thấp
khi chỉ là 1,5 trẻ em trên 1 phụ nữ
thấp hơn nhiều so với mức sinh thay thế là 2,1 trẻ em
trên 1 phụ nữ
Điều này là do sự suy giảm vai trò của tôn giáo
Khi số người không theo bất kỳ một tôn giáo nào
tại Australia hiện là 38,9%
Cùng với đó là các quan điểm mới
về hôn nhân và gia đình
khiến cho tỷ lệ sinh suy giảm
Do đó, việc khuyến khích nhập cư giúp nền kinh tế
xứ chuột túi, duy trì đá tăng trưởng
Kế hoạch tạo ra biển nội địa
Do vùng nội địa khô hạn
nên Australia có dân số rất thơ thớt
Để giải quyết triệt để vấn đề này
Tiến sĩ John Bradfield
một kỹ sư xây dựng sinh ra ở Queensland
đã đề xuất một kế hoạch cực kỳ điên rồi
Vào năm 1938
ông đưa ra ý tưởng vẽ biển hồ
ER thành một biển nội địa
Đây là hồ lớn nhất của Australia
bao phủ một diện tích lên đến 9.500 km2
Nhưng thực tế
nó thường xuyên rơi vào tình trạng khô hạn
do lượng mưa trung bình trong khu vực
là 100-150 mm trên một năm
Do đó hồ đạt độ sâu khoảng
1,5m 3 năm một lần
4m mỗi thập kỷ và đầy nước một vài lần
trong một thế kỷ
Trong khi ở phía bắc tiểu bang Queensland
là các con sông Turley, Herbert
và Burdekin
chúng được cung cấp nước bởi gió mùa
và chảy về phía đông đến biển Sanho
Kế hoạch của Bradfield
là xây dựng một hệ thống bao gồm các đường ống
đường hầm, máy bơm và đập
để đưa nước từ thượng nguồn của các con sông
thuộc địa phận Queensland đến sông Thompson
rồi dẫn tới sông Cooper
với điểm kết thúc là hồ ER
nhằm lấp đầy vùng hồ luôn khô cạn này
Có đó sẽ biến nó thành máy điều hòa nhiệt độ không khí
trong khu vực bằng cách hấp thụ ánh sáng mặt trời
của nước thay vì bức xạ nhiệt từ đất khô
Nước sẽ giúp tạo ra một thẳng thực vật
ở vùng nội địa và có thể dẫn đến
những thay đổi lớn về khí hậu
Quan trọng nhất là làm tăng lượng mưa
từ đó bổ sung thêm nước vào hệ thống sông Murray-Darling
Bên cạnh đó, dự án của Bradfield
sẽ cung cấp nước tới cho 7.800 km
vuông đất nông nghiệp ở Queensland
từ đó làm giảm vấn đề xói mòn tự nhiên
Kế hoạch này cũng có khả năng tạo ra
370 MW điện
thậm chí gấp đôi con số đó
Tuy nhiên nó cũng vấp phải nhiều sự phản đối
bởi theo ước tính
dự án sẽ thư tốn khoảng 20 tỷ USD
Nhưng vấn đề nghiêm trọng nhất
là do nhiệt độ ở vùng nội địa rất cao
nên nước trên đường vận chuyển đến hộ ER
sẽ bị bốc hơi phần lớn
Hơn nữa, việc lấy bớt nước từ các con sông
có thể làm giảm nguồn thủy sản ven biển
Với tất cả yếu tố đó
kế hoạch Bradfield đến nay vẫn không thể đi vào hiện thực
và vùng nội địa của sứ rở chuột túi
vẫn tiếp tục khô hạ
làm cho khu vực này cực kỳ thơ thất dân cư
Và đây là lý do tại sao
Nếu muốn chúng mình làm thêm về đề tài nào
các bạn hãy để lại bình luận ở bên dưới nhé
Xin chào và hẹn gặp lại các bạn trong những video tiếp theo
