Mỹ Nhân Khuynh Thành Người Khiến Cả Ba Cha Con Tào Tháo Say Đắm

Dxyz Du Lịch - Lịch Sử
45 người theo dõi
2 Lượt xem video·5 thg 4, 2025
Mỹ Nhân Khuynh Thành Người Khiến Cả Ba Cha Con Tào Tháo Say Đắm
Đệ nhất mỹ nhân Tàm Quốc khiến ba cha con họ Tảo đem lòng si mê.
Ngoài điều thuyền còn có người khác xứng danh là đệ nhất mỹ nhân thời đại này, khiến ba cha con Tảo Tháo si mê.
Lạc thần Trân Mật được coi là đệ nhất mỹ nhân Tàm Quốc.
Tên gọi khác của nàng là Trân Phục hoặc Trân Lạc.
Vẻ đẹp của nàng đã trở thành cảm hứng cho nhiều tác phẩm nghệ thuật.
Trong đó, tác phẩm điện ảnh nổi tiếng nhất là Lạc thần của TVB kể về cuộc tình của Trân Hoàng Hậu với Tảo Thực.
Vài diễn về mỹ nhân này cũng từng được tái hiện trong các vở diễn Tảo Thực giữ Trân Lạc, Lạc thần, Kim lũ ca, Yến ca hành.
Dân giang lưu chuyển Trân Phu nhân có sắc đẹp lộng lẫy và tài năng văn học siêu Việt.
Nụ cười mỹ nữ Trân Mật từng làm ngất ngây biết bao người.
Cả ba cha con nhà họ Tàu là Tảo Tháo, Tảo Phi và Tảo Thực đều si mê.
Sắc đẹp của nàng được người đời miêu tả là giang nam hữu nhị kiểu, hạ bắc Trân Phục tiếu.
Tảo Tháo dù si mê Trân Mật nhưng buộc phải nhường con trai Tảo Phi.
Cha Trân Mật mất sớm nhưng gia đình họ Trân vẫn còn khá già.
Một lần, Trương Phu nhân đưa các con đến gặp một thầy bói tên là Lưu Lương xem cướng.
Ông ta chỉ bảo Trân Thị mà nói, mai này cô bé này sẽ trở thành một người tôn quý.
Từ nhỏ đến lớn, Trân Thị đối với chuyện xem bói toán này không mảy may thích thú.
Khi lên 8 tuổi, có những người múa tạp kỹ cưới ngựa trước sân nhà.
Các anh chị em của bà đều thích thú trèo lên mái nhà mà nhìn.
Riêng Trân Thị không đi.
Thấy làm lạ, các chị của bà đều hỏi nguyên do.
Trân Thị ung dung đắt, mấy cái này chỉ có trẻ con mới thích xem thôi.
Khi lên 9 tuổi, Trân Thị đã rất thông minh, đam mê đọc sách.
Nàng chỉ cần nhìn qua tiêu đề là đã lĩnh hội được các ý nghĩa.
Do vậy bà hay cùng các anh trai học chuyện bút nghiên.
Xã hội loạn lạ, thiên tài liên tục, dân chúng đói khổ.
Trước tình hình đó, Trân mật với mẹ rằng, loạn thế cầu bảo, thật sự không phải thượng sách.
Thất phù vô tội, hoải bích có tội.
Đây là tham của hại thân.
Hiện tại dân chúng đều đang cực kỳ đói khát.
Chi bằng nhà ta đem ngô cốc dự trữ khai ra cứu tế.
Vào lúc này việc ấy mới chính là ban ơn đức hạnh.
Cả nhà đều thấy lời nói có lý.
Nên đem toàn bộ lương thực dự trữ trong nhà tiến hành phân phát cho nạn dân.
Khi đến tuổi thành thân, Trân Lạc được bá chủ phương Bắc đơn thời là nhà quân Việt Viên Thiệu cưới về cho con trai Viên Hy.
Năm 204, quân Tảo Tháo chiếm được thủ phủ của Ký Châu.
Trân mật phu nhân đã lọt vào tay của quân Tảo.
Ai cũng biết Tảo Tháo có sở thích đặc biệt là hứng thú với vợ thiền hạ.
Hơn nửa nhàng sắc của Trân mật đã được vang xa từ lâu.
Sau khi đánh bại Viên Thiệu, Tảo Tháo đã hạ lệnh không cho phép ai động đến ra quyến nhà họ Viên.
Khi Tảo Phi sông vào nhà họ Viên thì thấy cảnh vợ Viên Thiệu và Trân mật đang ôm nhau khóc, đầu bù tóc dối, mặt nhọc.
Ngay lập tức, Tảo Phi kéo nàng lại gần, lấy ống tay áo nhẹ nhàng lau mặt cho nàng thì thốt lên rằng, thật là một tiên nữ.
Sau khi kết hôn, Trân mật hạ sinh cho Tảo Phi một con trai đặt tên là Tảo Duệ.
Khi Tảo Tháo qua đời và Tảo Phi sưng đế, ông bắt đầu lạy nhạc với Trân mật,
sùng ái quý tận quách nữ vương cùng cấp lý quý nhân, rồi âm quý nhân, sau đó lại nạp thêm hai con gái của hán hiến đế.
Quách nữ vương luôn ghen tức quyết tâm tiêu diệt Trân mật để trở thành chủ hậu cung.
Quách thị bày độc kế để bùa trong phòng của Tảo Phi rồi tố cáo Trân thị yểm bùa hám hại chồng.
Tảo Phi cho người điều tra và quả nhiên tìm thấy cưỡng gỗ có khắc tên mình trong phòng của Trân mật.
Nàng bị Tảo Phi ra lệnh cho uống thuốc độc tự tử.
Khi chết, nàng còn bị nhét đầy cám vào mồm, rũ tóc trè khuất mặt mới được mai táng.
Cuộc đời mỹ nhân lừng danh thời 3 quốc kết thúc, bị thảm ở tuổi 39.
Sau khi Tảo Phi qua đời, Tảo Duệ nối ngôi, Trân mật mới được con ruột của mình truy phong làm hoàng hậu.
Trưởng lễ quan sau đó dân sớ tấu liền dân thị hiệu thêm cho Trân hậu,
lấy chữ văn trong thị của tiên đế cùng một chữ mang tính diễn tả, nên là văn chiều hoàng hậu.
Về mối quan hệ tạo thực, em trai Tảo Phi với Trân mật,
nhiều sách vở chép lại rằng, từ lâu họ đã có tình cảm sâu nặng nhưng không dám vượt qua danh giới.
Tạo thực hoàn toàn siêu lỏng trước sắc đẹp, vẹ diệu dài, hiền hậu của chị dâu và với tài văn thơ của mình,
ông đã lay động tâm hồn của mỹ nữ.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân tạo thực bị anh trai ghét cay ghét đắng, ra sức chẻn ép.
Nhàn sắc ngất ngây của nàng Trân mật khiến ba cha con tạo tháo si mê.
Nụ cười mỹ nữ Trân mật từng làm ngất ngây biết bao người,
đến nỗi cả ba người đàn ông nhà họ tạo là tạo tháo, tạo phi và tạo thực đều ngất ngây.
Đến nay, người ta vẫn đánh giá Trân mật là một trong 15 người đẹp nhất lịch sử Trung Hoa.
Điêu thuyền, nhân vật mà đến nay sự tồn tại thực tế vẫn bị nghi ngờ,
được văn hóa dân gian Trung Quốc xếp vào tứ đại mỹ nhân trong lịch sử quốc gia này,
bên cạnh Tây Thi, Vương Chiêu Quân và Dương Ngọc Hoản.
Tuy nhiên, cho dù Điêu thuyền là một mỹ nhân có thực và có sắc đẹp như Trầm Ngư Lạc Ngạn,
thì nàng vẫn chưa đủ tầm để xứng danh là Tam Quốc đệ nhất mỹ nhân.
Trên thực tế, bên cạnh Điêu thuyền và Đại, Tiểu Kiểu, thời đại Tam Quốc còn một mỹ nhân danh tiếng khác.
Người này từ nhỏ là một thần đồng, lớn lên được cả cho một vị khai quốc hoảng đế.
Tài năng văn học của nàng được đánh giá là siêu Việt,
khiến cho ba cây đại thụ trong văn đàn Tam Quốc là tạo tháo, tạo phi và tạo thực phải như mình tháng phục.
Con trai của mỹ nhân này về sau kế vị Ngai Vản, trở thành minh quân của ngụy triều.
Đại mỹ nhân này không ai khác ngoài Văn Chiêu Trân Hoàng Hậu của ngụy văn đế Tàu Phi.
Nhàn sắc của nàng lộng lấy đến nỗi thời Tam Quốc có câu,
đồng ngồi hữu nhị kiểu, bắc phương Trân Mật Tiếu.
Đương thời, khi còn sống, bà chưa từng được phong làm hoàng hậu mà chỉ được gọi là Trân Phu Nhân.
Vị hiệu hoàng hậu là do Tàu Duệ truy tôn bà khi làm hoàng đế.
Bắt đầu cuộc đời đầy sóng gió của mỹ nhân quốc sắc thiên hương.
Văn Chiêu Trân Hoàng Hậu sinh năm 182 còn được gọi với cái tên Trân Mật và Trân Lạc.
Thời Hán Linh đế, người quận Trung Sơn, này là chính địch tỉnh Hà Bắc, Trung Quốc.
Cha của Trân Lạc mất năm nàng 3 tuổi.
Đến 9 tuổi, Trân Lạc trở nên vô cùng thông minh, biết cách tự học chữ đọc sách.
Sau này, khi đến tuổi thành thân, Trân Mật được bá chủ phương Bắc.
Nhiều sách kể rằng, họ viên dần dần bị Tàu Tháo triệt hạ.
Năm 204, quân Tàu Tháo chiếm được thủ phủ của Ký Châu.
Trân Mật đã lọt vào tay quân Tàu.
Khi thắng trận, Tàu Phi, con trai Tàu Tháo, dẫn quân sông thẳng vào nhà họ viên
thì thấy vợ viên thiệu và Trân Mật đang ôm nhau khóc.
Thấy đầu bù, mặt nhỏ, Tàu Phi đã kéo nàng chân lại gần,
dùng ống tay áo nhẹ nhàng lau mặt cho nàng
và tự nhiên xúc động thốt lên thật là một tiên nữ.
Sau đó, Tàu Phi hứa sẽ bảo toàn cho cả gia đình.
Nhiều chính sách khác lại kể rằng, vì nghe đồn về nhan sắc kiểu diễm của Trân Thị,
chính Tàu Tháo rất thèm khách nên khi đem quân triệt hạ,
họ viên đã có ý định chiếm lấy nàng về mùa vui cho mình.
Vì thế, ông ta ra lệnh không ai được xâm phạm đến ra quyến nhà họ viên.
Thật không may là cậu con trai nhanh chân hơn đã chiếm được người đẹp,
khiến Tàu Tháo Phi tiếc đức ruột vẫn phải cưới nàng cho con trai mình.
Sau khi kết hôn với Tàu Phi, quốc sắc thiên hương Trân Mật hạ sinh con trai đặt tên là Tàu Tuấn.
Nhưng vì sinh non nên nàng bị diệm pha rằng đó là con của viên hy chứ không phải giọt máu nhà họ Tàu.
Chính những thị phi đó đã dần khiến Trân Mật bị thất sủng,
dù cho sau khi Tàu Tháo mất, Tàu Phi lên môi và nàng trở thành vợ vua, mẹ của thái tự Tàu Tuấn.
Tàu ra sóng gió vì người đẹp.
Riêng về mối quan hệ giữa Tàu Thực, em trai Tàu Phi với Trân Mật,
nhiều sách vợ cho biết từ lâu họ đã có tình cảm sâu nặng song mặt ngoài quần e.
Không ít sách vợ viết rằng giữa Tàu Thực và Trân Thị từ lâu đã có tình cảm sâu nặng nhưng không ai nói ra,
chỉ để lộ qua ánh mắt.
Đây là một trong những nguyên nhân khiến Tàu Thực bị Tàu Phi ghét cay ghét đắng, ra sức chẻn ép.
Sẵn có tài văn thơ, lại là người học rộng biết nhiều, Tàu Thực dễ khiến tâm hồn Trân Mật rung động,
còn Tàu Thực thì siêu lỏng trước sắc đẹp và vẻ dịu dàng.
Hiền hậu của chị dâu lại sot thương cho tình cảnh bất hạnh của Trân Mật nên hai người đã cảm mến nhau.
Lạc Thần Phú được Tàu Thực sáng tắc khi Trân Hoàng Hậu, chị dâu của ông, đã qua đời.
Tàu Thực dùng hình ảnh ẩn rụ của Mật Phi, thần của Lạc Thủy để nói về vẻ đẹp của nàng Trân Mật.
Người đời sau thậm chí đã nghi ngờ giữa Tàu Thực và chị dâu đã có một cuộc tình lãng mạn nhưng không thành,
khiến em trai Nguy Văn Đế một đời đau khổ.
Tuy nhiên, thông tin này vẫn chưa được kiểm trứng.
Hồng Nhan Bạc Mệnh, cuộc hôn nhân của Trân Mật với Tàu Phi có vài năm hạnh phúc.
Trân Hoàng Hậu sinh cho Phi một con trai và một con gái.
Con trai bà chính là Nguy Minh Đế Tàu Rệ mà kẻ diệt Nguy Tư Má Ý rất e sợ và khâm phục.
Một trong những tình dịch ghê gớm nhất của Trân Mật là Quách Thị.
Vì Trân Mật là vợ cả lại là người có sắc đẹp hơn người nên Quách Thị luôn tỏ ra ghen tức,
quyết tâm tiêu diệt Trân Mật để trở thành chủ hậu cung.
Như tính kế chán chê nhưng không hại được Trân Mật nên Quách Thị đã sử dụng chiêu bài đọc
để bùa trong phòng của Tàu Phi rồi tố cáo Trân Thị Yểm bùa hám hại chồng.
Vốn tính đa nghi, Tàu Phi cho người điều tra và quả nhiên tìm thấy tượng gỗ có khắc tên mình trong phòng của Trân Mật.
Chứng cứa rành rành, nàng bị Tàu Phi ra lệnh cho uống thuốc độc tự tử.
Thạm thương hơn, khi chết, nàng còn bị nhét đầy cám vào mồm, dũ tóc che khuất mặt mới được mai phán.
Vậy là kết liễu cuộc đời mỹ nữ lừng danh thời Tam Quốc ở tuổi 39.
Mãi tới khi Tàu Phi qua đời, Tàu dậy lên ngôi thì Trân Mật mới được truy phong làm Văn Chiêu Hoàng hậu.
Là thần phú mà Tàu thực biết về mỹ nhân này cũng trở thành tác phẩm nổi tiếng Trung Quốc suốt hàng nghìn năm.
Ngoài Văn Chiêu Trân Hoàng hậu thời kỳ này còn có hai vị quốc sắc thiên hương nữa là Đại Kiều và Tiểu Kiều.
Đại Kiều được miêu tả có vẻ đẹp như mỹ, đôi mắt diễm lệ nhưng luôn chất chứa âu sầu.
Bản tính hiền hậu, nhút nhát, sống nổi tâm yêu thích theo thùa, nấu ăn, chăm sóc hoa lá.
Ngược lại Tiểu Kiều du mạo xinh đẹp, thông minh hơn người, đa tài đa nghệ, hà mê đọc sách, đánh đạn, ngắm hoa, làm thơ.
Khi Tồn Sách và Chu Du đến thăm Kiều ra trang đã mê mẩn trước sắc đẹp của hai nàng.
Tồn Sách đã cưới Đại Kiều còn Chu Du cưới nàng Tiểu Kiều.
Về mối ưu tình của Tảo Thực với người trị dâu.
Vào thời tiền kỳ, Tảo Phi với Tảo Thực là những nhân vật chủ yếu tập đoàn văn nhân của Nhật Thành,
chuyên du sơn ngoạn thủy, làm thơ ngâm vị, viết những bài văn, bài phú nói lên cái lý tưởng chính trị của mình,
khai sinh ra những tác phẩm phản ánh những tình thế động đáng thời cục, những nỗi cực khổ trong đời sống của nhân dân.
Còn về thời hậu kỳ, chủ yếu thơ văn của Tảo Thực đa số mô tả nỗi bì phẫn,
Bài Cảm Trân Phú là đại biểu tác phẩm của ông thời kỳ thứ hai này.
Bài Cảm Trân Phú được các nhà phê bình văn học Trung Quốc xưng tụng là một tác phẩm kiệt xuất của Tảo Thực.
Nếu đem so sánh với bài Kiều Ca của Quốc Nguyên thì có thể ngang ngửa.
Bài phú này là bài phú đại biểu cho thời kỳ văn học kiến an.
Theo bài tự của tác giả trong sách văn tuyển thì vào năm Hoàng Sơ Tàm Niên,
tức năm 222, tác giả từ Kinh Sư trở về Phong Điện,
trên đường đậu thuyền nghỉ đêm bên bờ sông Lạc Thủy,
đã thông qua sự tưởng tượng mộng ảo, cấu tứ ly kỳ, lời văn mỹ lệ,
viết bài Cảm Trân Phú, mô tả sự tương ngộ của tác giả với nữ thần sông Lạc Thủy là Mật Phi,
rồi hai người yêu nhau, nhưng cuối cùng vì thần và người khác biệt nhau,
không thể sống với nhau được, đành phải chia ly đau xót.
Cảm Trân Phú tuy chiêu ảnh hưởng của thần nữ phú của Tống Ngọc,
nhưng về kỹ thuật thì tỉ dụ sinh động, tiến bộ, đẹp đẽ hơn,
tỉnh tiết như sóng gợi giạc rào, lúc lên lúc xuống,
ngôn ngữ cấu tứ ly kỳ diễm tuyệt,
người đọc xong vẫn còn cảm thấy dư vật lan man vất tận.
Có thuyết cho rằng tạo thực viết Cảm Trân Phú là vì thương nhớ nàng Trân Thị,
người chị dâu, vợ Tảo Phi.
Sau đó hơn 400 năm, vào năm Hiển Khánh Tàm Niên,
đời đường Cao Tông, tức năm 658,
Lý Thiện, một văn học ra đời đường,
làm chú giải sách văn tuyển có viết như sau.
Đồng A Vương, tạo thực, cuối đời nhà Hán muốn lấy con gái Trân Giật,
tức Trân Thị, nhưng không tội nguyện.
Khi Tảo tháo hội binh,
đem Trân Thị gã trong ngũ quan Trung Lan tướng Tảo Phi,
khiến cho tạo thực hết sức bất bình.
Ngày đêm tơ tưởng, đến bỏ cả ăn ngủ.
Sau khi Trân Thị chết được 2 năm,
đến năm Hoàng Sơ Tứ Niên, tức năm 223,
tạo thực đến Lạc Dương để chiều kiến ngụy văn đế Tảo Phi.
Phi có lẽ như hối hận,
sai con là thái tử là Tảo Duệ,
người con do Trân Thị sinh ra, mở tiệc và bổi tiếp tạo thực.
Tạo thực nhìn thấy cháu, tưởng nhớ đến Trân Thị,
lòng đau xót miên man, bất giác rơi lẻ.
Sau bữa ăn, tạo thực được Tảo Phi ban cho di vật của Trân Thị.
Đó là một chiếc gối đầu có rác ngọc và đai bằng vàng.
Tạo thực mang chiếc gối đầu của người Trân Thị trở về phong địa của mình.
Trên đường vẻ, thực đậu thuyền bên bờ sông Lạc Thủy.
Nhân vì lòng quá bi thống thương nhớ Trân Thị,
lại thêm đường trường lao lị mệt mỏi,
thậm chí mông lung hoảng hốt, đứng ngồi không yên.
Tạo thực bỗng mơ mà cảm thấy bóng Trân Thị
yểu điệu thướt tha từ xa lướt gió xuất hiện,
nói lòng thiếp vốn phó thác cho chàng mà không được tọi nguyện.
Chiếc gối đầu này là của thiếp mang theo khi lấy ngũ quan trung lang tướng,
chức của Tảo Phi khi chưa cướp ngôi nhà hán,
nay xin hiến tặng chàng.
Sau đó nàng sai người đem châu báu tặng cho thực,
thực cũng đem ngọc bội tặng lại,
rồi cùng nhau hoan lạc,
cả hai vừa sót xa vừa bi thống,
xong thì biến đi.
Lúc tạo thực hoảng hốt tỉnh dậy,
té ra chỉ là một giấc ngam kha.
Khi về đến phong địa của mình ở chân thành,
hình ảnh ao ngộ trong mộng với Trân Thị bên bờ sông Lạc Thủy vẫn còn làm cảm kích.
Tâm hồn, đầu óc tạo thu,
lại thêm văn tứ dồi dào,
nhân thế tạo thực mới viết cảm chân phú.
Về sau, ngụy minh đế tạo ruệ,
con của Trân Thị,
lên nối nghiệp tạo phi,
tránh tiếng cho mẹ,
mới đổi cảm chân phú thành Lạc Thần Phú.
Từ bài viết của Lý Thiện,
người đời sau mới đạt thành nghi vấn tạo thực vì quá yêu Trân Thị mà viết Lạc Thần Phú.
Phải chăng vì yêu người chị dâu mà tạo thực viết Lạc Thần Phú?
Sau khi bài Lạc Thần Phú ra đời khoảng 300 năm,
đến đời nhà Lương,
con của Lương Võ Đế,
là Thái tử Tiêu Thống,
cùng với các văn nhân đương thời soạn một tuyển tập thi văn đầu tiên của Trung Quốc,
đem bài cảm chân phú của tạo thực,
xếp vào hạng tình loại,
rồi mãi đến thời nhà đường,
Lý Thiện,
như đã thuật ở trên,
viết chú dẫn về văn tuyển,
thuật lại tạo thực có ý muốn lấy Trân Thị,
không thành,
đến nối bỏ ăn mất ngủ,
rồi sau,
tạo phi lại đem gối đầu của Trân Thị ban cho tạo thực.
Như vậy,
có thật tạo thực vì yêu người chị dâu họ chân của mình mà viết cảm chân phú không?
Câu hỏi này đã trở thành một đề tài tranh luận kéo dài cả ngàn năm nay,
vẫn chưa có câu trả lời dứt khoát.
Trên diễn đàn Văn học Trung Quốc,
có hai quan điểm chống đối lẫn nhau.
Những lý luận phủ nhận tạo thực yêu Trân hậu,
Trân Thị là vợ tạo phi,
mà tạo thực là em của tạo phi,
em mà dám ngang nhiên yêu chị dâu mình,
cho dù yêu lén,
đứng về mặt đạo lý anh em,
đó là điều bất nghĩa,
đứng về mặt quân thần,
đó là điều bất trung,
một tội mà cổ nhân thường gọi là đại nghịch bất đạo.
Dựa trên lý luận như thế,
các nhà nho xưa,
nổi tiếng trên diễn đàn Văn học,
đã đua nhau đứng lên phản bác,
đà kích,
đại khái.
Những lập luận của phe phản đối,
có thể tóm vào những điểm sau đây.
Một bản chú thích văn tuyển của lý thiện,
không có lời chú dẫn như trên đây,
mà do vưu mậu,
người đời tống nhầm lẫn khi săn đính lại.
Hai không thể nào có khả năng xảy ra việc tạo thực yêu chị dâu mình được.
Tạo thực phải lo giữ thủ cấp của mình,
không thể có đủ can đảm,
dám viết một cách bộc bạch,
rõ ràng nối cảm nhớ chân hậu.
Vì khi đó tạo thực đang bị tạo phi ép bức,
nhân có sự tranh chấp về quyền hành chính trị và quyền nối ngôi báu.
Ba làm em mà muốn chiếm vợ của anh mình,
đó là hành vi ôn ngược của cầm thú.
Và,
kẻ làm anh,
tạo phi,
lẽ nào an nhiên để cho em làm bôi nhọ vợ mình sao?
Rồi kẻ làm con,
tạo duệ ngụy minh đấy,
lẽ nào lại an nhiên chịu để cho người thú ruột làm mất danh dự của mẹ mình sao?
Nên tạo duệ đã đổi tên bài phú từ cảm chân phú thành lạc thần phú.
Và lại chữ chân còn có nghĩa là chân thành,
phong địa của tạo thực.
Bốn khi làm chú giải,
văn tuyển lý thiện THUAT lại rằng,
tạo phi đem chức gối đầu của chân thị đưa cho tạo thực coi,
rồi đem gối đó ban cho tạo thực.
Đó chẳng qua chỉ là một sự bịa đặt,
không hợp lý.
Cho dù lão lý đình dùa cũng chẳng làm,
huống hồ là một bậc văn nhã vương hầu như tạo thực.
Năm tạo thực sinh năm 192 công nhận,
còn chân thị sinh năm 182 công nhận.
Luận về tuổi tác thì tạo thực ít hơn chân thị 10 tuổi.
Khó có khả năng tạo thực.
Lúc 12 tuổi cầu xin cha mình là tạo tháo,
cưới một người thiếu phụ đã 20 tuổi,
đã có chồng,
tức viên hy,
để làm vợ.
Do lạc thần phú là một bài phú hay,
có nhiều ảnh hưởng trên văn đàn.
Thêm vào đó là sự cảm động về bi kịch luyến ái của chân thị và tạo thực,
nên người đời chuyên tụ bảo nhau,
và nhất định coi là nữ thần lạc thủy là chân thị.
Những lý luận đồng tình cho tạo thực viết lạc thần phú là vì yêu chân hậu.
Năm 204,
sau khi tạo tháo phá vỡ nghiệp thành,
tạo phì lấy được chân thị,
tạo tháo chẳng những không được nghỉ ngơi,
mà còn bất vả hơn vì phải lo sửa soạn chiến tranh,
chinh phục miền Nam.
Tự nhiên, tạo phì ở địa vị là con trường,
cũng vì thế,
luôn thường phải xa nhà,
đi ra chiến trường.
Vì thế,
chân thị trở thành phòng không lạnh giá.
Trái lại,
tạo thực còn ít tuổi,
bản tính lại không thích chiến tranh giết chóc.
Vì được ở nhà,
tạo thực thường có cơ hội ở bên người chị dâu chân thị,
tình cảm dần dần sinh sôi nảy nở.
Lúc đó chân thị mới có 20 tuổi,
tạo thực mới lên 10.
Rồi thời gian trôi đi,
tạo thực cũng trưởng đại dần.
Dù có đem lòng yêu người chị dâu có nhan sắc phong hoa tuyệt đại,
biến nàng thành nữ thần trong tâm hồn của mình,
là một điều rất có khả năng xảy ra.
Tài tử ra nhân,
từ ngàn xưa muôn đời vốn là hay duyên nợ.
Và lại,
người đời thường có câu nói,
yêu nhau ai tính tuổi bao giờ?
Ngoài ra,
đứng về mặt ái tình tâm lý,
chẳng có gì để quả quyết khẳng định rằng
vì cách biệt tuổi tác thì không thể yêu nhau được.
Bằng cớ,
ngay tạo phi cũng kém chân hậu 5 tuổi,
mà vẫn lấy chân hậu làm vợ.
Và nhà thơ Hoàng Cầm,
ông đã chẳng từng kể lại rằng lúc chỉ mới 12 tuổi,
ông đã phải lòng
yêu một cô láng giềng xinh đẹp lớn hơn mình 8 tuổi.
Rồi vất vả ngược xuôi,
từ đồng chiều cuốn dạ,
đến nắng vãn bên sông,
ông cố đi tìm một thứ lá gọi là lá diêu bông,
không biết là lá gì,
để mong được làm chồng người chị hàng xóm xinh đẹp đó.
Nhưng khi tìm được lá rồi,
thì người chị hàng xóm đã đi lấy chồng.
Ông thiết công mình,
chỉ biết buôn tiếng thở dài não nuội.
Diêu bông hởi,
ới diêu bông.
Và,
bài thơ Lá Diêu Bông được ra đời năm 1959,
trở thành một bài thơ được nhiều người yêu thích ngâm ngợi,
và được nhiều nhạc sĩ phổ thành những bản nhạc trữ tình.
Thật đẹp!
Nhưng nhắc đến Lạc Thần Phú,
tất nhiên không thể không nhắc đến chủ nhân công,
những nhân vật chính,
của bài phú này,
Trân Hậu,
và Tảo Thực.
Bài thơ Luật về Trân Hậu.
Trân Thị Hay Trân Hoàng Hậu,
vợ Nguyễn Văn Đế Tảo Phi,
không rõ tên,
sinh năm qua hòa ngũ niên đời Hán Linh Đế,
tức năm 182,
mất năm 221,
người Vô Cực Trung Sơn,
nay thuộc huyện Vô Cực, tỉnh Hà Bắc,
là con gái của Thượng Phái Lệnh là Trân Giật,
mẹ là Trương Thị.
Theo kể lại,
khi Trương Thị lâm bồn,
thấy một ông tiên vào trong phòng,
lấy ngọc y đắp lên người bà,
ít lâu sau sinh ra Trân Thị.
Lúc Trân Thị lên 3 tuổi thì cha qua đời,
có viên thầy cướng là lưu lương xem cướng Trân Thị nói,
đứa con gái cướng quý không thể nói hết được.
Trân Thị từ bé đến lớn,
tính tỉnh rất là điềm đạm trầm tĩnh.
Lúc Trân Thị lên 8 tuổi,
ngoài cửa có biểu diễn trò mã hí,
mọi người trong nhà cùng tất cả các chị em,
đều kéo nhau lên lầu để xem.
Duy có một mình Trân Thị không đi,
mọi người đều lấy làm lạ hỏi,
thì Trân Thị trả lời,
trò đùa đó,
há lại để cho đàn phụ nữ coi hay sao?
Lên 9 tuổi, Trân Thị học đọc,
học VF,
nên mượn bút của người anh để dùng.
Người anh mới hỏi,
em đàn bà nhìn nữ thì nên học nữ công,
chứ học chữ để làm gì?
Không lẽ để ra làm nữ quan hay sao?
Trân Thị đác,
cổ xưa có bậc thiền giả nào không lấy những thất bại,
và thành công của tiền nhân để kiểm nghiệm mình?
Nếu không biết đọc sách thì làm sao mà biết được?
Bây giờ,
gặp lúc thiên hạ đại loạn,
thêm liên tiếp nhiều năm mất mùa đói kém.
Ai ai cũng đem kim ngân,
trâu bảo,
báu vật để đổi lấy thức ăn.
Trân Thị bảo với mẹ,
lúc này loạn lạ,
phà mẹ không đem ngọc ngà, bảo vật ra bán đi,
giữ lại trong nhà sẽ mang họa đấy.
Kẻ vô tội,
nhưng đeo ngọc ngà mà trở thành có tội.
Lại thêm hàng xóm, họ hàng đều đói kém cả,
khi bằng đem thóc ra mà phát trận cho họ,
mà lấy chút ân huệ.
Cả nhà nghe Trân Thị nói thế đều khen là hiền thộc.
Đến tuổi cập kề,
Trân Thị lấy con dài viên thiệu là Viên Hy.
Viên Hy tuy thuộc loại quý công tử,
nhưng chắc không phải là kẻ biết thương hoa tiếc ngọc,
nên Trân Thị có tả một bài thơ thuộc loại quê quán,
kể cuộc sống buồn chán của mình,
trong bài đường thượng hành.
Bây giờ viên thiệu chiếm cứ 4 trâu là ký,
tinh,
ụ,
thanh,
bình lực rất là hùng hậu,
oai trấn cứ hải.
Nhưng năm 200 công nhân,
xảy ra trận chiến quan độ,
viên thiệu bị Tào Tháo đánh cho cho đại bại Thê Thản.
Sau viên thiệu bị xấu hổ,
quất ức sinh bệnh mà chết,
2 người con của thiệu là Viên Thượng và Viên Đàm tranh quyền kế vị,
đem bình đánh lẫn nhau,
làm tiêu hao thế lực của viên thiệu còn lại.
Tào Tháo thừa cơ tấn công Lê Dương,
Viên Đàm,
Viên Thượng chống đỡ không nổi,
bỏ chạy đến nghiệp hành.
Nhưng 2 anh em nhà họ Viên Thế bất lưỡng lật,
tìm đủ cách tiêu diệt lẫn nhau.
Sau Viên Đàm phải chạy sang cầu cứu Tào Tháo,
cuối cùng Tháo tiêu diệt được toàn bộ lực lượng của viên thiệu.
Năm 204,
Tào Phi mới có 18 tuổi,
cùng theo cha đánh đông dẹp bắt.
Sau khi phá vỡ được nghiệp hành,
Tào Phi từng ái mộ tiếng chân thị là người Mỹ lệ,
xông thẳng vào phủ của họ Viên,
rút kiếm,
ngảy xuống ngựa đi tìm.
Lúc tiến vào hậu đường,
Tào Phi chỉ thấy một phụ nữ vào tuổi trung niên,
ngồi khóc một mình ở đấy.
Có một thiếu phụ cũng đang run dậy sợ hãi ôm chân mà khóc.
Người đàn bà trung niên ấy chính là vợ của viên thiệu,
người họ Liêu.
Còn người thiếu phụ là con dâu của viên thiệu,
vợ Viên Hy,
chính là chân thị,
bị Viên Hy bỏ lại khi vội vã đem đám tàn binh bãi tướng chạy đến Liêu Tây.
Chân thị tuy mặt mũi đẫm lẹ,
son phấn nhạt nhòa ngọt ngọt,
nhưng trùng vẫn sinh đẹp chẳng khác gì như phù dung xuất thủy,
liên hoa đậm xương,
giánh giấc e lệ hái hùng,
càng làm cho vẻ đẹp diễn kiểu của chân thị thêm não nuột.
Tào Phi không cầm nổi lòng đám đuối,
bèn tiến lại gần,
vén tay áo lau những hạt lệ đang lăn trên gỏ máu của chân thị.
Quả nhiên,
thấy chân thị bậc tuyệt thế dai nhân,
sắc diện như hoa đảo,
lóng lánh như hoa hạnh.
Tào Phi vội vã tự sưng tên họ của mình,
Vợ viên thiệu nghe nói là thế tử con của Tào Tháo,
liền bảo với chân thị vái trào.
Chân thị e ấp thi lễ,
khẽ đưa mắt kín đáo nhìn Tào Phi,
thấy Tào Phi nghi biểu phong lưu anh Tuấn,
trong lòng cũng bất lo lắng.
Còn Tào Phi lúc đó cũng nghe người ra,
lòng bàng hoàng mừng rỡ.
Chợt có tiếng người lao xáo từ ngoài bước vào,
té ra Tào Tháo.
Tào Tháo cũng từng nghe người ta nói đến sắc đẹp của chân thị,
nên hỏi ngay đến gia quyến thân thuộc của viên thiệu.
Tào Phi bèn vào trong hậu đường dẫn lưu thị và chân thị ra.
Tào Tháo nhìn thấy chân thị quả là ngư trầm lạc ngạ,
tuyệt thế gian nhân,
trong lòng cũng cảm thấy rung động,
bèn hỏi lưu thị.
Tào nhà chỉ có hai người thôi à?
Lưu thị đáp.
Các con tiếp đều đã bỏ chạy cả.
Duy còn lại có người con dâu thứ hai này ở lại hầu hạ mà thôi.
Ngay nhờ thế tử ra ân bảo toàn,
thật là vạn hạnh.
Tào Tháo nhìn sang bên cạnh thế Tào Phi hai mắt cứ đâm dâm nhìn chân thị,
trong lòng thầm hiểu Tào Phi muốn gì.
Tào Phi bèn vội vã thưa với Tào Tháo.
Đời con chẳng mong gì khác,
chỉ xin được người con gái này làm vợ,
được như vậy là đủ mãn nguyện rồi.
Xin cha nghĩ cái phận con chưa có gia đình mà thành toàn cho.
Tào Tháo không thể từ chối,
miễn cưỡng đồng ý,
liền nhờ mai mối hỏi chân thị,
vợ của viên thi,
làm vợ cho Tào Phi,
rồi chọn ngày lành tháng tốt làm lễ thành hôn.
Nhất quyết lấy bằng được một người đã có chồng để làm vợ chứ không phải làm thiếp,
lại hơn mình năm tuổi,
đủ cho thấy Tào Phi rất là ái mộ sắc đẹp của chân thị.
Năm sau, chân thị sinh ra Tào Rệ,
tức Nguyễn Minh Đế sau này.
Chân thị có thói quen kết tóc mỗi ngày một kiểu.
Tương truyền rằng chân thị mỗi buổi sáng đều theo tư thái của một con rắn lục để kết kiểu.
Các kiểu tóc của chân thị được người gọi là Linh Sả Kết.
Năm khiến An Nhị thật ngũ niên,
tức năm 220,
Tào Tháo qua đời.
Tào Phi lên kế vị Nguyễn Vương.
Cùng năm, Tào Phi ép Hán Hiến Đế nhờ ngôn cho mình,
đoạt ngôi nhà Hán,
chính thức Sựng Đế,
đặt tên nước là Nguy,
đô ở Lạc Dương,
phong chân thị là phu nhân.
Trong hậu cung,
Tào Phi có khá nhiều nội sủng.
Trong đó phải kể đến Quách thị là người được sủng ái nhất,
lại là người nhiều miêu kế,
giỏi nịnh ngọt.
Tào Phi có ý muốn phong làm hoàng hậu,
nhưng vì còn có chân thị là vợ chính thức,
nên không phong nhanh.
Do Quách thị giảm phà,
chân thị bị thất sủng và bị Tào Phi lưu ở nghiệp thành.
Được một năm sau Phi lên ngôi,
năm 221,
lúc đó chân thị sau nhiều năm dài làm vợ Tào Phi,
cũng đã phấn nhạt hoa tàn,
thương sắc không còn làm Tào Phi đắm đuối như buổi ban đầu nữa.
Thì Phi bắt đầu giở trứng tráng cơm mê phở,
sủng ái Quách thị,
rồi nhân vì mấy câu thơ của chân thị viết
để hoài niệm phút sơ kiến ban đầu lưu luyến ấy.
Khi Tào Phi gặp nàng,
này không còn nữa,
nàng tự ví mình bây giờ chỉ như chiếc quạt hoa,
khi gió thù vẻ,
bị cắt vào kho,
không được sử dụng.
Nhân sinh nhợt chỉ sơ kiến,
khả sự tay phong bị họa phiến.
Cuộc đời nếu chỉ như gặp nhau lúc đầu,
thì chiếc quạt hoa kia đâu phải chịu cảnh phũ phảng
khi gió thù vẻ.
Với lời thơ ví von thương cảm ấy,
chân thị bị Tào Phi gán cho tội là có lời oán trách,
phải xứ giả đến tử tử,
tức ban ẩn cho cái chết,
bắt ép nàng phải tự tử,
đúng vào lúc chân thị 39 tuổi.
Tương truyền rằng,
khi chết chân thị không có người lo tán liệm,
lại còn bị Tào Phi nhẫn tâm,
nhỏ nhen ra lệnh không cho phép phủ mặt bằng gấm lụa
như tập quán thời bấy giờ,
mà chỉ cho phép phủ trên mặt nàng,
bằng chính tóc của nàng,
và phải trôn úp sấp,
cho không hưởng được áng dương.
Còn miệng thì ngét đầy cám bã,
không dùng ngọc ngà trấu báu như nghi thức trôn cất
của các vật quý phi vương hầu thời bấy giờ,
vì sợ nàng ái hồi dương thế.
Hoàn toàn trái với những nghi thức trong lễ tán
của người Trung Hoa thời đó,
gọi là Phạm Hàm.
