Trình diễn nghề làm giấy bản từ nguyên liệu rơm của người Dao ở Hà Giang

Nghề Truyền Thống
340 Người theo dõi
53 Lượt xem video·19 thg 4, 2025
Comments are disabled for this video.
Thưa quý vị và các bạn, dân tộc Giao là một cộng đồng có đời sống tin ngưỡng vô cùng độc đáo
và được bảo tồn nguyên vẹn qua nhiều thế kỷ khác nhau.
Trong tất cả các nghi lễ tin ngưỡng của người Giao như lễ cấp xác, Tết nhảy, lễ khai quang,
bà con người Giao thường sử dụng rất nhiều giấy bản,
một sản phẩm được làm thủ công với những đặc tính ưu việt được bà con ưu chuộng.
Chính vì vậy, giấy bản xuất hiện và gắn bó từ rất lâu đời
với đời sống của hầu hết đồng bào các dân tộc thiểu số.
Cũng nhờ đó mà người làm giấy bản vẫn lặng lẽ tồn tại theo thời gian,
thể hiện những giá trị văn hóa tâm linh độc đáo của đồng bào.
Trong chung một cộng đồng các dân tộc Việt Nam hôm nay,
mời quý vị cùng tìm hiểu về nghề làm giấy bản của bà con dân tộc Giao tỉnh Hà Giang
vừa trình diễn tại Bảo tàng các dân tộc Việt Nam.
Lần đầu tiên, anh Triệu Lồng Kinh, bà Phượng Mùi Ngoan ở xóm Vấn Xà Tìn,
xã Nậm Ti, tỉnh Hà Giang, nơi địa đầu tổ quốc về đến thành phố Thái Nguyên.
Trong ba ngày ở lại đây, anh Kinh và bà Ngoan trình diễn một nghề thủ công
đã có từ lâu đời của địa phương mình, giấy bản được làm từ nguyên liệu dơm.
Tôi cũng rất là phấn khởi và vui mừng đến đây trình diễn
để quảng bá các nghề thủ công truyền thống của dân tộc mình
để còn phát huy, bảo tồn giá trị văn hóa của dân tộc mình không bị mai một.
Đây là một trong số các nghề thủ công truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số
được giới thiệu trong chương trình trưng bày trải nghiệm với chủ đề
bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc trong cuộc sống đương đại
do Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam tổ chức.
Ngoài nghề làm giấy, còn có nghề in hoa văn bằng sáp ong của dân tộc Mông
và nghề nhuộm vải bằng màu tự nhiên của dân tộc Thái.
Mục đích của hoạt động trình diễn các nghề thủ công này
nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của cộng đồng dân cư
trong việc bảo vệ môi trường, sử dụng nguyên liệu tự nhiên
trong sản xuất, nghề truyền thống để phát triển bền vững.
Điều này được thể hiện ngay từ nguyên liệu
và các bước sản xuất các nghề thủ công của đồng bào.
Đối với nghề làm giấy bản của người dao,
nguyên liệu chính để làm giấy là dơm, mà phải là dơm nếp.
Sau khi thu hoạch lúa nếp, tách bỏ phần lớp áo ngoài của cây,
người dao sẽ giữ lại phần dơm bên trong,
đem cắt gốc, cắt ngọn, chỉ lấy thân dơm để làm giấy.
Nói chung là nghề làm giấy này là nghề thủ công truyền thống từ ngày xưa rồi.
Này, ai cũng biết làm thôi, mà cũng là cái...
cũng là cái truyền miệng, lại cũng không có sổ sách để ghi.
Phần nguyên liệu là dơm nếp, dơm nếp cái.
Dơm tẻ thì nó không... nó hơi giòn, không có độ kết dính như kiểu dơm nếp.
Ngoài dơm, ở một số vùng, người dao còn dùng cây vầu để làm giấy.
Nếu như dơm tạo ra sắc vàng cho giấy,
thì vầu lại cho ra những mẻ giấy trắng tinh.
Vì thế, giấy của người dao có hai loại.
Một màu trắng, một màu vàng.
Sau khi xử lý ban đầu nguyên liệu dơm,
người dao cho vào đun nhiều tiếng đồng hồ để làm mềm dơm.
Có khi bà con cũng ngâm dơm để đủ độ mục,
rồi vứt lên cho vào cối dã nát.
Những cuộn dơm sau khi dã nát,
bà con thả vào trậu nước để nguấy lấy phần bột mịn.
Một trong những công đoạn quan trọng của việc làm giấy bản,
đó là hòa nước kết dính.
Một loại cây rừng, thân neo,
được bà con đập dập rồi ngâm nước vài ngày
để có một thứ nước kết dính sền sẹt như thế này.
Cây này gọi là cây mỏ
vì phải lấy cái nhựa của cây này,
mình trộn hốn hợp với cái bột dơm này,
thì nó mới có chất dính.
Mình mới tưới lên cái phên giấy,
thì nó mới dính ở trên đấy,
và khi bóc ra thì nó mới dễ bóc.
Sau khi hòa xong hỗn hợp nước giấy,
có đủ chất kết dính,
người dao làm tiếp đến công đoạn đổ buôn.
Nước bột dơm được tráng đều lên bề mặt khung vải,
thành một lớp mỏ.
Công đoạn này đòi hỏi sự tinh tế và khéo léo,
bởi nếu đổ mỏng quá,
thì giấy dễ dách và không bóc được.
Dày quá thì giấy sẽ thô.
Tráng giấy xong,
bà con để nguyên khoảng 30 phút sau cho dao bớt nước,
rồi lại dự nghiêng.
Phần còn lại phụ thuộc vào thời tiết
để có được những mảnh giấy đạt tiêu chuẩn.
Gặp thời tiết thuận lợi,
thì đỡ tốn công, tốn thời gian hơn.
Tờ giấy thì mình cứ làm mỏng,
làm tốt, có chất lượng.
Nắng tốt mà làm có chất lượng được.
Không tốt, không nắng thì không được.
Trải nghiệm các công đoạn nghề làm giấy của người dao
đối với các du khách là điều hết sức thú vị.
Họ chưa tưởng nghĩ để có được những tờ giấy như thế này
mà cha ông ngày xưa phải vất vả đến như thế.
Và sự sáng tạo của người xưa
khi biết tận dụng những nguyên liệu từ thiên nhiên
để phục vụ đời sống của mình
là điều đáng được trân trọng cho đến hôm nay.
Dù cuộc sống đã trở nên hiện đại hơn.
Em cảm thấy là nó làm những nguyên liệu của nó rất là,
rất là đơn giản.
Mà em không nghĩ đến sẽ lấy cái đấy làm giấy.
Là một dân tộc có số dân đứng hàng thứ 9
trong số 54 dân tộc ở Việt Nam
với gần 1 triệu người,
người dao có một đời sống tín ngưỡng,
đậm đà bản sắc truyền thống.
Từ thuở xa xưa, người dao không chỉ dùng giấy bản
đóng thành từng quyền để viết chữ
mà còn dùng để vẽ chanh,
đục hoa văn để sử dụng trong các nghi lễ truyền thống
như lễ tết, ma chay, cưới hỏi.
Đặc biệt trong các lễ, lễ cức sắc,
tết ngày, cầu mùa, thanh minh
đều không thể thiếu giấy bản để vẽ,
viết lên đó những điều dân dạy con cháu
làm điều lành, tránh điều ác.
Tương tự với tục hóa giấy vàng của người kinh,
người dao cũng dùng giấy bản
để cắt tiền vàng, hình nhân
để làm lễ vật dâng lên thần linh tổ tiên
người đã quất.
Còn tiền thì người ta lại không dùng
cái đồng tiền y nến ngoài.
Ngoài thị trường thì không dùng
người làm. Mua cái xong ngay,
kể cả có tiền triệu ra đặt xong ngay.
Nhưng đây là nhờ bà con để làm nó mới thật chất
tức là giấy của mình ra, y nến của mình
thành đồng tiền như thế này
xong đó là phải đủ bộ lệ thế.
Mảnh giá to nhất gọi là 120.
Mảnh giá 120,
xong đến 60, xong đến 36,
xong đến lại loại 24.
Hiện nay, nghề làm giấy bản
vẫn được những gia đình người giàu
như anh Triệu Long Kinh ở Hà Giang
duy trì và phát triển.
Tuy không còn thiện hành như trước,
nhưng họ vẫn tiếp tục giữ huynh lễ nghề truyền thống
bởi ngoài phục vụ nhu cầu của mỗi nhà,
bà con còn làm giấy
để bán đến nhiều vùng
đồng bào dân tộc thiểu số.
Hiện nay trong xóm tôi
thì có khoảng
20 hộ vẫn duy trì
làm cái nghề này để
cung cấp,
thứ nhất là để phục vụ cho gia đình
là mình húng các lẽ
trong gia đình mình
cũng tổ tiên cấp sắc
rồi nói chung là sử dụng
giấy này rất là nhiều.
Giấy bản là sản phẩm khá độc đáo
với đặc tính là giấy dai và thấm mực
chữ viết trên giấy bản sắc nét.
Và việc còn tồn tại những làng nghề
thôn bản giữ được nghề làm giấy bản
như sóng tấn xà phìn
của anh Kinh, bà Ngoan
khiến những nơi ở đó
càng trở nên đặc biệt hơn.
Đó không chỉ là nơi lưu giữ
nghề truyền thống là nghề đem lại
nguồn thu đáng kể cho bà con
mà còn là địa chỉ bảo tồn văn hóa
trong đời sống hiện đại ngày ngày.
Thưa quý vị và các bạn
Nghề làm giấy bản của người Giao
có từ lâu đời, truyền từ thế hệ này
qua thế hệ khác. Tuy không phát triển
theo quy mô làng nghề truyền thống
như các nghề thủ công Mỹ nghệ khác
nhưng sản phẩm của đồng bào làm ra
giấy bản còn mang giá trị
tôn nghiêm trong các phong tục văn hóa
tin ngưỡng của đồng bào dân tộc.
Giấy bản đã đi vào đời sống tâm linh
và như lời nhắc nhở bà con
luôn nhớ về Tổ tiên, nguồn cội.
Chính vì tính chất quan trọng như vậy
mà nghề làm giấy bản vẫn còn tồn tại
và được xem như một nghề thủ công
một nét văn hóa đặc sắc ở vùng cao.
Thưa quý vị và các bạn
chuyên mục cộng đồng các dân tộc Việt Nam hôm nay
về nghề làm giấy bản của người Giao
Xin được tạm dừng tại đây
Cảm ơn sự quan tâm theo dõi của quý vị
Xin kính chào tạm biệt và hẹn gặp lại
