VŨ KHÍ TRUNG QUỐC THỰC CHIẾN BẰNG MÁU, BIỂN ĐÔNG BÁO ĐỘNG ĐỎ!

Góc Nhìn Lê Minh
705 Người theo dõi
763 Lượt xem video·18 thg 5, 2025
Thưa quý vị, Kashmir giựt lửa, một cuộc xung đột tưởng chừng chỉ mang tính cục bộ
thế nhưng lại trở thành vái thử nghiệm quân sự lớn nhất của Trung Quốc trong hơn một thập kỷ qua.
Lần đầu tiên, vũ khí Made in China không còn nằm trong phòng triển lám hay sa bản quảng cáo
mà được đối đầu trực diện với những vũ khí tinh hoa đến từ phương Tây
từ máy bay Rafale đến Mateo, Su-30MKI hay là hệ thống S-400.
PL-15 đã làm Lumer AMRAAM, J-10C thì khiến Rafale không còn là bất khả xâm phạm
và hàng loạt UAV, tên lửa, hệ thống phòng không Trung Quốc đã vượt qua thử thách thực chiến
với độ chính xác, sát thương và hiệu quả khiến cả Washington, New Delhi và Paris phải cảnh giác.
Thế nhưng điều đáng sợ hơn không nằm ở đòn đánh mà ở hệ quả của nó,
sự thay đổi cán cân công nghệ, thị trường và tư duy chiến lược toàn cầu.
Trong video ngày hôm nay, chúng ta hãy cùng bóc tách những vũ khí nào đã thực sự vượt qua được
bài thi máu lửa và tại sao cả thế giới, đặc biệt là Đông Nam Á và khu vực Biển Đông
cần bắt đầu cảm thấy lo ngại.
Vũ khí Trung Quốc vượt qua bài thử, mở ra trật tự mới
Ngày 14 tháng 5, truyền thông Pháp đã đăng tải một bài báo với tiêu đề
Vũ khí Trung Quốc vượt qua thử nghiệm chiến đấu trong cuộc đụng độ Ấn Độ-Pakistan.
Nếu coi cuộc xung đột Ấn Độ-Pakistan năm 2025 là một bái thử nghiệm chiến trường
cho vũ khí Trung Quốc, thì đây là một thành công chiến lược không tiếng súng đối với Bắc Kinh.
Nó bằng lại 3 giá trị cốt lõi, kiểm chứng công nghệ, quảng bá vũ khí và làm thay đổi
cán cân nhận thức toàn cầu về hệ sinh thái quân sự Trung Quốc.
Trước tiên thì chúng ta hãy điểm danh những thành công cụ thể của vũ khí Trung Quốc
trên chiến trường Pakistan.
Đầu tiên đó là PL-15, tên lửa không đối không thế hệ mới.
Theo tuyên bố của Pakistan, PL-15 đã bắn rơi ít nhất 2 máy bay Su-30MKI
và 1 Rafale trong các đòn không chiến ngoài tầm nhìn.
Đây là cuộc đối đầu không chiến ngoài tầm nhìn đầu tiên giữa PL-15 và Meteor của châu Âu.
Và PL-15 không bị lấn át về tầm bắn, tốc độ hay điều hướng.
Nó mang lại tầm chiến lược cho Trung Quốc, vì đây là lời khẳng định rằng nước này
có thể sản xuất ra tên lửa không chiến ngoài tầm nhìn hiện đại không thua kém phương Tây,
khiến các quốc gia châu Á, châu Phi phải cân nhắc mua thay thế AM-120 AMRAAM của Mỹ.
Thứ 2 đó là máy bay J-10C và JF-17 Block III chiến đấu cơ nội địa.
J-10C phối hợp cùng JF-17 Block III áp sát biên giới Kashmir, tổ chức đánh trạng hiệu quả,
đồng thời có khả năng tích hợp vũ khí số hóa và radar AESA.
Đây là lần đầu các mẫu máy bay nội địa của Trung Quốc đối đầu trực tiếp với máy bay NATO,
Rafale, mà không bị áp đảo hoàn toàn.
Từ đây, Bắc Kinh chứng minh có thể xuất khẩu chiến đấu cơ thế hệ 4 cộng với chi phí thấp hơn,
nhưng năng lực gần ngang bằng, đe dọa thị phần của F-16, Mirage và MiG ở thị trường thứ 3.
Thứ 3 là HQ-9, hệ thống phòng không tầm xa. Dù chưa có xác nhận rõ ràng, HQ-9 được Pakistan
sử dụng để đánh chặn một số UAV tấn công từ Ấn Độ và làm nhiều radar máy bay đối phương.
HQ-9 không bộc lộ điểm yếu rõ ràng và giữ vững tuyến phòng không Pakistan trong các đợt tập kích ban đầu.
Điều này giúp Trung Quốc có thể quảng ba nó như là một S-400 phiên bản châu Á,
cạnh tranh trực tiếp với Nga và Israel ở thị trường phòng không.
Thứ 4 đó là Bayraktar TB-2 và UAV Winglong-2, vũ khí live chung Thổ Nhĩ Kỳ.
Các UAV này đã thực hiện nhiều đòn tấn công chính xác vào các kho hậu cần,
trạm tiếp tế và đơn vị cơ động của Ấn Độ, gây khó khăn cho tuyến sau.
Điều này cho thấy Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ đang tiến vào cuộc chơi UAV vũ trang,
trước kia vốn bị Mỹ và Israel thống trị.
Điều này đã tạo ra UAV dành cho thế giới thứ ba, rẻ, dễ dùng và vẫn đủ hiệu quả thực chiến,
thay đổi toàn bộ khái niệm về chiến tranh giá rẻ.
Trong bối cảnh Nga đang bị trừng phạt và bị cuốn vào cuộc chiến ở Ukraine,
thì Trung Quốc đã tận dụng xung đột Pakistan-Ấn Độ như một sân khấu để thay thế vai trò của Nga
trong việc cung cấp vũ khí cho thế giới đang phát triển.
Sau thành công này, các quốc gia như Ai Cập, Nigeria, Indonesia, Algeria hay Myanmar
sẽ nhìn Trung Quốc với con mắt nghiêm túc hơn về năng lực quân sự.
PL-15, ZF-17 và Wing Long đã có các đơn đặc hàng mới, với các thỏa thuận thăm dò hoặc ký kết
dự kiến tăng đến 40-60% sau cuộc xung đột.
Như vậy, xung đột Ấn Độ-Pakistan lại trở thành một nơi để vũ khí Trung Quốc được kiểm nghiệm trên chiến trường thật
với chi phí chính trị bằng không.
Bắc Kinh vừa thu được thông tin kỹ thuật, vừa có dữ liệu quân sự, vừa thúc đẩy hợp đồng mới mà không phải đổ máu.
Một chiến thắng chiến lược kiểu tàng binh dưỡng chúng.
Khi vũ khí Trung Quốc được chứng minh hiệu quả thực chiến như trong xung đột Ấn Độ-Pakistan,
thì làn sóng xuất khẩu vũ khí là điều tất yếu.
Vũ khí ngon bổ rẻ, cộng chiến trường thực tế, bằng công thức xuất khẩu vũ khí hoàn hảo.
Như chúng ta đã biết, các nước thế giới thứ ba thường rất nghi ngờ tính hiệu quả thực sự của vũ khí Trung Quốc,
coi đó là hàng copy của Nga giá trung độc.
Thế nhưng khi PL-15 hạ Su-30, J-10C kẹp Rafale, UAV Bayraktar vượt phòng khẩu Ấn Độ,
thì lập tức đẩy niềm tin tăng mạnh và quyết định mua được rút ngắn.
Các nước đang phát triển không đủ tiền mua F-16V, Rafale, Patriot nên họ đã chuyển sang các lượng
chọn của Trung Quốc như Z-17, J-10C, Wing Long II, HQ-9, radar cảnh giới, UAV cảm tử, pháo tự hành, v.v.
Trung Quốc sẵn sàng tài trợ tiến dụng, truyền giao công nghệ một phần, hỗ trợ chính trị,
thứ mà Mỹ hay EU hiếm khi làm với các nước nhỏ.
Hơn nữa giá mua vũ khí lại rẻ hơn từ 30-50% so với phương Tây, bảo trí linh hoạt, ít ràng buộc chính trị.
Và tất cả những điều này đã mang lại doanh thu trực tiếp cho Trung Quốc,
vì nước này vẫn là nước xuất khẩu vũ khí lớn thứ tư thế giới, trị giá từ 11-13 tỷ USD mỗi năm.
Sau năm 2025, có thể tăng thêm 30-50% nữa. Đó là con số hoàn toàn có thể đạt được.
Điều này sẽ tạo ra việc làm trong lĩnh vực sản xuất công phòng.
Khi các quốc gia mua vũ khí của Trung Quốc thì sẽ phải phụ thuộc hậu cần, linh kiện và huấn luyện.
Nó làm tăng quyền lực mềm và ảnh hưởng chính trị toàn cầu.
Đặc biệt là khi Bắc Kinh kiểm soát toàn bộ chuỗi từ linh kiện radar, sợi carbon, đạn dược đến công nghệ AI.
Cảnh báo nghiêm trọng cho các cường quốc xuất khẩu vũ khí
Vâng thưa quý vị, với những gì mà vũ khí Trung Quốc đã thể hiện,
thì bây giờ Trung Quốc đang phá thế độc quyền của Mỹ, Pháp và Nga.
Những hệ thống từng là tiêu chuẩn như F-16, Mirage, MiG-29, Buk, Pantsir đang bị đe dọa nghiêm trọng
khi các nước có thể mua JF-17, J-10C, H-QI, UAV vũ trang Trung Quốc với giá rẻ hơn từ 30-50%.
NATO sẽ buộc phải đẩy nhanh thế hệ tên lửa mới,
AIM-260, UAV cảm tử thông minh, radar tàng hình thế hệ 6 nếu không bị muốn là mất vị thế
trước những bản sao cải tiến từ Trung Quốc.
Càng nhiều quốc gia trang bị vũ khí Trung Quốc thì càng ít phụ thuộc vào huấn luyện,
hậu cần và chuẩn liên kết của NATO.
Điều này làm suy yếu khả năng thiết lập liên minh quân sự kiểu phương Tây
trong các khu vực chiến lược như Ấn Độ Dương, Đông Phi hoặc Trung Á.
Do đó, Cuộc Đồng độ Ấn Độ Pakistan năm 2025 là một bản demo quy mô lớn
của ngành công nghiệp quốc phòng Trung Quốc.
Với chi phí thấp và hậu quả bằng không, Bắc Kinh đã kiểm chứng năng lực vũ khí thế hệ mới,
kích hoàn hiệu ứng thị trường toàn cầu, đánh đòn phụ đầu lên vị thế xuất khẩu vũ khí
của Mỹ, Nga và châu Âu.
Và đây rõ ràng là báo động đỏ cho các cường quốc quân sự truyền thống,
đồng thời là một tín hiệu cho một trật tự quân sự đa cực hơn,
nơi Trung Quốc có vai trò ngày càng rõ nét không chỉ về kinh tế mà còn về cả sức mạnh cứng nữa.
Khi vũ khí Trung Quốc lần đầu tiên được kiểm nghiệm trên chiến trường quy mô thực sự
chống lại các hệ thống vũ khí phương Tây, thì phản ứng của các cường quốc này không chỉ mang tính kỹ thuật
quân sự mà còn gắn với lợi ích, thị trường, vũ khí toàn cầu, ảnh hưởng địa chiến lược
và uy tín công nghiệp quốc phòng.
Mỹ đã phản ứng kỹ thuật ngay lập tức, PL-15 gây lo ngại cao độ.
Theo báo cáo của Justin Brant thuộc Viện các lực lượng Thống nhất Hoàng gia Russia nhật định,
tên lửa ngoài tầm nhìn BVR-PL-15 của Trung Quốc có hiệu suất tương đương với tên lửa AIM-120 AMRAAM
của Hoa Kỳ và vượt trội hơn tên lửa R-77 của Nga và áp đảo mọi chiếc đấu cơ F-16 mà Mỹ xuất khẩu sang châu Á.
Việc UAV Trung Quốc thổ những khi vượt qua phòng không Ấn Độ cho thấy cần phải nâng cấp hệ thống chống UAV giá rẻ
quy mô lớn cho đồng minh của Mỹ.
Sau đó mới là phản ứng chiến lược từ Hoa Kỳ.
Họ khởi động nhanh các chương trình tên lửa mới như AIM-260, JATM, tên lửa thay thế cho AMRAAM, để đối chọn với PL-15.
Đẩy mạnh thỏa thuận F-15 với các đồng minh châu Á như Singapore, Hàn Quốc hay Nhật nhằm giữ vững ưu thế không quần
thế hệ 5, tạo ra màn trắn công nghệ chống lại các bước tiến của J-10C.
Tăng cường chiến dịch marketing cho F-16V, Patriot PAK-3 và NATO Arms, định vị như phòng thủ NATO thực sự.
Thúc đẩy các hiệp định công nghệ quốc phòng với Ấn Độ để khóa chặt New Delhi trong chục vũ khí Mỹ, Israel,
châu Âu, ngăn ảnh hưởng của Trung Quốc và Nga.
Sau đó là phản ứng của Pháp, vì họ rõ ràng đang đánh mất ánh hào quang của Rafale và lo ngại thị phần tại châu Phi.
Báo cáo của Defense Security Asia ngày 16 tháng 5 viết rằng, Rafale bị bản dụng, danh tiếng chiến đấu của máy bay phản lực Pháp
bị chỉ trích khi Indonesia đánh giá lại thỏa thuận trị giá hàng tỷ đô la của mình.
Các chuyên gia quân sự cho rằng, Rafale bị áp sát công nghệ một cách đáng bó động bởi J-10C,
đặc biệt ở khả năng tương tác radar và tích hợp vũ khí.
Tên lửa Meteor vẫn giữ lợi thế về điều khiển, nhưng bị nghi ngờ về hiệu suất thực chiến sau tuyên bố bị PL-15 vượt qua.
Trước tình hình này, Pháp đang yêu cầu cấp ngân sách châu Âu để nâng cấp Rafale thành phiên bản F-5, F-6
nhằm cạnh tranh với chiến đấu cơ thế hệ thứ năm của Trung Quốc và Nga,
thúc đẩy hợp tác quân sự sâu hơn với Ấn Độ và UAE nhằm bảo vệ thị trường xuất khẩu, tránh bị Trung Quốc xâm nhập.
Pháp cũng đang lo sợ mất thị trường chiến lược tại châu Phi như các nước Senegal,
Ai Cập, Maroc và Đông Nam Á như Malaysia, Indonesia về tay Trung Quốc.
Họ cũng đang phải điều chỉnh chính sách bán hàng như tăng cường hậu mãi, bảo hành và đào tạo kiểu châu Âu
để phân biệt với vũ khí giá rẻ Trung Quốc.
Tiếp theo là Israel.
Nước này cảnh báo về độ chính xác và tầm tấn công của UAV Trung Quốc,
đặc biệt khi đối đầu với UAV cảm tử Harov do họ phát triển.
So sánh thực chiến giữa Bayraktar, Winglong và UAV của Israel như Heron, Harov
cho thấy là vũ khí Trung Quốc tuy không mạnh bằng nhưng quá rẻ và lại dễ sử dụng.
Israel cũng đẩy nhanh việc tích hợp AI và cảm biến điện tử cho UAV cảm tử thế hệ mới
để giữ ưu thế công nghệ, tăng cường hợp tác UAV với Ấn Độ
và Đài Loan, chia sẻ dữ liệu chống UAV Trung Quốc.
Israel cũng lo sợ Bayraktar và Winglong cướp đi thị phần UAV tầm trung
ở châu Phi và Trung Đông, và để đáp trả thì họ đã phát triển UAV mini
có thể chống UAV cảm tử nhằm đến giải pháp phòng thủ giá rẻ cạnh tranh trực tiếp.
Thế còn Nga thì sao? Họ cũng ngạc nhiên, lo Âu và sợ bị mất thị trường.
Nga xứng sở khi mà Su-30MKI phiên bản xuất khẩu của họ bị PL-15 tấn công hiệu quả
và điều này làm tổn hại nghiêm trọng đến danh tiếng của vũ khí Nga.
J-10C với radar AESA và tên lửa PL-15 đã vượt qua MiG-35 và Su-35 trong mắt
nhiều nước đã phát triển.
Do đó, Nga buộc phải đẩy nhanh Su-75 Checkmate và UAV Okhotnik-B
nhưng thiếu tài chính do bị trừng phạt, tăng cường bán vũ khí giá rẻ
cho Iran, Venezuela hay Myanmar để giữ vòng đai ảnh hưởng còn lại.
Rõ ràng, Nga đang mất dần thị trường truyền thống tại châu Phi và Nam Á
về tay Trung Quốc, điều chưa từng xảy ra trong thập kỷ qua.
Cạnh tranh với Trung Quốc không còn là về chất lượng, giá mà là về cả uy tín
cũng như là niềm tin chiến lược nữa.
Bộ Quốc phòng Pakistan ngày 15 tháng 5 đưa tin rằng EZ-12B, tên lửa hành trình
siêu thanh của Trung Quốc đạt tốc độ lên tới Mach 3 với tầm bắn khoảng 500km,
nhanh hơn BrahMos của Ấn Độ.
EZ-12B có sẵn ở các biến thể trên bộ, trên không và trên biển,
cung cấp các tùy chọn triển khai linh hoạt.
Pakistan nên theo đuổi việc mua lại bằng cách chuyển ra công nghệ
để tăng cường khả năng tấn công trên bộ và tấn công chống tàu.
Điều này phản ánh một thực tế đó là Pakistan đang trở thành người dùng quảng bá
lăng xê cho vũ khí Trung Quốc, điều này đặc biệt có lợi cho Bắc Kinh.
Nước này đang dùng vũ khí để xây dựng trục chiến lược Bắc Kinh-Islamabad,
mở rộng ảnh hưởng ra Ấn Độ Dương.
Đồng thời, cán cân tên lửa trong khu vực đang thay đổi, với việc Trung Quốc
mang công nghệ siêu thanh ra khỏi nội địa, tạo áp lực lên cả New Delhi
lẫn các đồng minh Mỹ.
Và rõ ràng, Pakistan không còn chỉ là người tiêu dùng vũ khí mà đang trở thành
căn cứ công nghệ quân sự của Trung Quốc tại Nam Á.
Vũ khí Trung Quốc gây ra áp lực cho Đông Nam Á và Biển Đông
Thưa quý vị, chiến trường Kashmir chính là mô hình thu nhỏ của Biển Đông.
Kashmir và Biển Đông đều là vùng tranh chấp nóng, nơi diễn ra các va chạm
vũ trang quy mô giới hạn nhưng chiến lược.
Trong xung đột Ấn Độ-Pakistan, Trung Quốc không trực tiếp tham chiến,
nhưng đẩy vũ khí, công nghệ và chiến tranh mạng cũng như UAV vào tay Pakistan,
tương tự như cách Bắc Kinh đang vũ trang các thực thể dân quân biển,
lực lượng bán quân sự ở Trường Sa và Hoàng Sa.
Như vậy, Bắc Kinh đang thử nghiệm chiến tranh ủy nhiệm,
cộng vũ khí thế hệ mới và Biển Đông có thể là điểm tiếp theo.
Với năng lực J-10C và tên lửa PL-15, cộng virada AESA đã được kiểm nghiệm hiệu quả.
Trung Quốc hoàn toàn có thể triển khai J-10C tại các đường băng
ở quần đảo Trường Sa như Chữ Thập, Subi hay Vành Khăn để khống chế toàn bộ không phận Biển Đông.
PL-15 có thể khóa mục tiêu ngoài tầm radar của F-16V của Philippines hoặc Su-30 của Việt Nam.
Nếu tên lửa FATA-2 của Pakistan được Trung Quốc nâng cấp để thử nghiệm,
thì phiên bản nội địa của Trung Quốc như CZ-10 hay Đông Phong-17 hoàn toàn có thể triển khai
từ bờ biển Hải Nam hoặc các đảo nhân tạo để tấn công các căn cứ hải quân
của Việt Nam, Philippines hay Malaysia.
Trung Quốc đã thử nghiệm UAV Bayraktar Wing Long trong xung đột Kashmir.
Giờ đây thì có thể triển khai tại Trường Sa và khu vực Biển Đông để do thám tàu chiến của Việt Nam.
Philippines tấn công radar mặt đất hoặc là kho tiếp tế phần biển, tạo sức ép liên tục trong thời bình sám.
Với các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam, nguy cơ bị UAV giám sát, gây dối hoặc tấn công
không tuyên bố chiến tranh ngày càng hiện hữu.
Như chúng ta đã biết, Trung Quốc đang củng cố vai trò trung tâm chỗ cung ứng vũ khí cho châu Á lục địa.
Campuchia, Myanmar, Lào, thậm chí cả Indonesia đang dần chuyển dịch sang mua UAV, radar, xe tăng, pháo tự hành
từ Trung Quốc. Phía Nam và Philippines bị cô lập nếu không có liên kết chặt với Mỹ, Ấn Độ, Israel hay EU.
Sau cuộc xung đột tại Ấn Độ và Pakistan, nhiều nước ASEAN đã ngại lên tiếng về Biển Đông,
do lo sợ gây tổn hại tới hợp đồng vũ khí hoặc đầu tư từ Trung Quốc.
Những nước này cũng thấy rõ là Bắc Kinh sẵn sàng tác chiến điện tử kết hợp với UAV và tên lửa chính xác cao
để răn đe các quốc gia nhỏ.
Chính vì vậy, cuộc xung đột Ấn Độ-Pakistan là lời cảnh báo rõ ràng cho Đông Nam Á, đặc biệt là Biển Đông.
Vũ khí Trung Quốc không còn là bản sao mà là mối đe dọa nghiêm túc về công nghệ và chiến lược.
Biển Đông có thể trở thành mặt trận thử nghiệm tiếp theo của chiến tranh công nghệ thấp cộng UAV,
cộng tên lửa chính xác cao và áp chế điện tử do Trung Quốc triển khai.
Việt Nam, Philippines, Malaysia cần nhanh chóng đánh giá lại toàn bộ hệ thống phòng thủ
và lựa chọn liên minh chiến lược nếu muốn giữ vững thế cân bằng trong 5-10 năm tới.
Hiện đây thì thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt trong việc bảo vệ lãnh hải và chủ quyền trên Biển Đông,
đặc biệt là sau khi Trung Quốc ngày càng mạnh tay thử nghiệm và triển khai các loại vũ khí thế hệ mới
như đã chứng minh trong xung đột Ấn Độ-Pakistan, thực sự là rất lớn.
Đầu tiên là thách thức về quân sự, mất ưu thế và nguy cơ bị đánh phủ đầu.
Lực lượng hải quân, không quân của Việt Nam đáng chứng lại.
Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các máy bay như Su-30Mk2, MiG-21 cũ, không có radar AESA,
tầm bắn ngoài tầm nhìn thì kém.
Tàu Gepard, tàu pháo PS-500 cũng không đủ sức đương đầu với tàu Type 055 hoặc Type 052D của Trung Quốc.
Trong khi đó, Bắc Kinh đã triển khai J-10C, J-16, J-20 trang bị tên lửa PL-15,
hạm đội tàu Type 052D, Type 075, UAV tàng hình, radar vượt đường chân trời
và có thể triển khai tên lửa hành trình từ đảo nhân tạo.
Do đó, Việt Nam đang ở thế phòng thủ bị động và thiếu chiều sâu,
dễ bị đánh phủ đầu nếu Trung Quốc áp dụng mô hình tập kích bất ngờ,
chiến tranh ngắn hạn, kiểm soát thực địa.
Một thách thức nữa mà Việt Nam đang phải đối mặt đó là thách thức về công nghệ, thưa quý vị.
Công nghệ thì chúng ta đang tuột hậu so với chiến tranh hiện đại.
Tranh lịch lớn về khả năng cảm biến, dẫn đường, điện tử.
Trung Quốc kiểm soát toàn bộ chỗi cung cấp radar, tín hiệu vệ tinh bắt đầu,
hệ thống định vị hải quân nội địa, trong khi Việt Nam thì phụ thuộc vào Nga
và không có chủ quyền cảm biến độc lập.
Bắc Kinh đã triển khai chiến tranh điện tử trên đảo nhân tạo,
đủ khả năng làm nhiễu liên lạc, vô hiệu hóa radar phòng không ven biển,
đánh sập hệ thống định vị GPS nếu chiến sự nổ ra.
Việt Nam lại thiếu UAV trinh sát và UAV cảm tử chiến thuật,
không có khả năng theo dõi tàu Trung Quốc 247,
và cũng không có năng lực đánh phủ đầu ngầm bằng UAV như Harov Winlock.
Chưa dừng lại ở đó, Việt Nam còn chịu thách thức về địa lý,
chiến trường hở không có vùng đệm.
Biển Đông là vùng biển nửa kín, không đủ chiều sâu chiến lược
như Ấn Độ Dương hay Đại Tây Dương.
Việt Nam không có căn cứ sa bờ đáng kể,
còn Trung Quốc thì có 3 căn cứ đảo nhân tạo vững chắc
tại Đá Chữ Thập có đường bằng 3.000m,
Đá Suby, Đá Vành Khăn,
có cả radar, hầm chứa tên lửa hay là UAV.
Trung Quốc đã kiểm soát hơn 7 thực thể lớn
và đang chiếm ưu thế về diện tích, độ cao, năng lực chiến đấu từ xa.
Dù Việt Nam giữ được một số đảo có lực lượng đồn trú,
nhưng không có hệ thống phòng thủ tầm xa tương ứng.
Đặc biệt là thế cân bằng ngoại giao Mỹ-Trung quá mong manh,
Việt Nam đang đi theo chiến lược không chọn phe, phù hợp với đối ngoại,
nhưng khi chiến lược của Trung Quốc chuyển từ sâm lẫn ngầm
sang răn đe cứng như tại Kashmir,
thì áp lực sẽ vượt ngưỡng ngoại giao đơn phương có thể chịu được.
Cuối cùng đó là thách thức về chiến lược dài hạng,
chống lại chiến tranh ngầm và chiến tranh không tiếng súng.
Trung Quốc đang thử nghiệm chiến tranh vùng sám hiệu quả,
sử dụng dân quân biển, tàu khảo sát, UAV, tên lửa và chiến tranh mạng
để kiểm soát và không cần nổ súng.
Mỗi lần xâm nhập thì Trung Quốc đã gài thêm hệ thống giám sát
và tạo ra sự hiện diện thương trực.
Việt Nam thì khó phản ứng vì không có đủ bằng chứng để lên án,
trong khi dư luận dễ bị nhiễu loạn bởi truyền thông Trung Quốc.
Nếu Việt Nam không hành động kịp thời,
thì Bắc Kinh có thể ép các quốc gia ASEAN khác trung lập hoặc im lặng,
cô lập Việt Nam trong vấn đề Biển Đông
như họ đã từng làm với Philippines trước thời ông Marcos Guerra.
Vậy nên, Việt Nam rõ ràng là cần phải có nhiều giải pháp đầu tư nhanh
vào các hệ thống UAV, tên lửa chống hạm và phòng không thông minh,
ưu tiên độ cơ động và khả năng đối phó chiến tranh điện tử,
thiết lập liên minh công nghệ quốc phòng với các nước như Pháp, Israel,
Ấn Độ, Hàn Quốc, bổ sung cho thế thiếu hụt công nghệ từ Nga.
Cũng cần phải tái câu trúc chiến lược phòng thủ chủ động,
bao gồm các hệ thống giám sát biển sâu,
radar dọc bờ biển và đảo, phòng không tầm thấp phân lớp,
hệ thống tác chiến điện tử di động.
Còn phải tận dụng địa chính trị mới có thể là đẩy mạnh ngoại giao chiến lược
với Hoa Kỳ, Nhật Bản hay EU, bảo đảm thế đứng tập thể nếu có khủng hoảng xảy ra.
Vâng, như quý vị đã thấy, sự lớn mạnh của vũ khí Trung Quốc,
từ tên lửa PL-15, máy bay J-10C cho đến tên lửa EZ-12B,
không đơn thuần là thành tiệu công nghệ hay là dấu mốc tự hào nội địa.
Nó chính là dấu hiệu rõ ràng cho thấy một cường quốc đang chuyển mình
từ trỗi dậy hòa bình sang tư thế sẵn sàng áp đặt sức mạnh,
không chỉ tại eo biển Đài Loan hay Biển Đông,
mà còn cả ở Nam Á, Trung Đông, Châu Phi,
Điều đáng lo ngại không phải là việc Trung Quốc lớn mạnh,
mà là một Trung Quốc mạnh nhưng thiếu giới hạn đạo lý,
thiếu ràng bộ thể chế và đầy toàn tính bành trướng,
đang dùng vũ khí làm đòn bầy cho ảnh hưởng địa chính trị toàn cầu.
Thế giới không thiếu những quốc gia có sức mạnh,
nhưng khi sức mạnh đi cùng giã tâm thì nó không bảo đảm hòa bình,
ổn định hay thịnh vượng, mà chỉ gieo thêm nghi ngờ,
xung đột và bất chắc cho toàn nhân loại.
Một kẻ mạnh có giã tâm không phải là người bảo vệ trật tự,
mà là mối đe dọa của chính trật tự đó.
Và khi vũ khí là tiếng nói chính, thì sự im lặng của pháp luật,
đạo lý và lòng tin là cái giá quá lớn mà thế giới không thể trả thêm lần nữa.
Vũ khí Trung Quốc càng mạnh, thế giới càng phải cảnh giác,
không phải vì công nghệ, mà vì mục đích bá chủ toàn cầu mà họ vẫn theo đuổi.
Xin được nhấn mạnh rằng, khi vũ khí lên tiếng thì hòa bình lặng câm,
và một Trung Quốc có giã tâm chính là nguy cơ toàn cầu.
Đến đây thì chương trình ngày hôm nay của chúng tôi cũng xin phép tạm dừng.
Xin mời quý vị chia sẻ quan điểm cá nhân ở phần dưới.
Chúng tôi xin được nhắc lại nhiều lần là luôn tôn trọng mọi ý kiến khác biệt.
Còn bây giờ thì Lê Minh xin chào và hẹn gặp lại!
