HỢP TÁC ĐIỆN HẠT NHÂN VỚI NGA, VIỆT NAM VƯỢT QUA CỬA TỬ VỀ NĂNG LƯỢNG

Góc Nhìn Lê Minh
705 người theo dõi
1.1K Lượt xem video·16 thg 5, 2025
Thưa quý vị, giá điện ở Việt Nam đang leo thang như tên lửa, và con số 18% tăng giá chỉ trong 18 tháng
không còn là cảnh báo, mà là một lời tuyên chiến với túi tiền người dân và sự sống còn của doanh nghiệp.
Đằng sau những con số lạnh lùng ấy là một sự thật đáng quan ngại, Việt Nam đang thiếu vắng hoàn toàn
một nguồn điện nền ổn định, quy mô lớn, không lệ thuộc vào than nhập tử Úc, LNG từ Mỹ,
Hệ thống năng lượng quốc gia như một chiếc bản ba chân, và cả ba chân đều đang lung lay.
Trong khi nhu cầu điện không ngừng tăng, thì hệ thống cung ứng lại trông tranh, rủi ro, dễ tổn thương,
và nếu không có một cuộc đại phẫu chiến lược, viễn cảnh thiếu điện, cắt điện luân phiên sẽ không còn là chuyện xa vời nữa.
Ngay lúc này, điện hạt nhân từng bị gác lại đang trở lại như một cứu tinh quốc gia,
đặc biệt là hợp tác với Liên bang Nga với công nghệ lò phản ứng mới đang mở ra cánh cửa sinh tử
cho an ninh năng lượng Việt Nam. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu câu chuyện này trong chương trình hôm nay.
Từ giá điện tăng cao đến lỗi hổng năng lượng
Tăng giá điện không chỉ là phản ứng tài chính nhất thời, mà là chỉ dấu của sự thiếu hụt cấu trúc.
Mạng lưới cung cấp điện của Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào ba trụ cột.
Thủy điện chiếm khoảng 30% công suất lập đặt, nhiệt điện than và khí khoảng 55%,
năng lượng tái tạo, mặt trời, gió khoảng 15%.
Tuy nhiên cả ba trụ cột này đều đang lung lay. Thủy điện thì phụ thuộc lớn vào thiên nhiên và biến đổi khí hậu,
nguồn nước từ thượng nguồn sông Mekong và các phụ lưu ngày càng thất thường do tác động từ các đập thủy điện
của Trung Quốc và các quốc gia láng giềng, kiểm soát dòng chảy, làm suy giảm nghiêm trọng mực nước về hạ nguồn.
Điều này khiến sản lượng thủy điện trở nên bấp bênh, khó dự đoán,
trong khi thủy điện lại là nguồn điều tiết linh hoạt rất quan trọng trong hệ thống.
Nhiệt điện thì dùi do nhập khẩu, nhiệt liệu. Nhiệt điện than và khí là hai trụ cột chiếm đa số sản lượng điện,
nhưng lại phụ thuộc lớn vào nguồn than nhập khẩu từ Indonesia, Úc hay khí tự nhiên hóa lỏng LNG,
vốt đang trở thành một thị trường khan hiếp vào cạnh tranh toàn cầu.
Giá than và LNG thì liên tục biến động mạnh do xung đột địa chính trị như chiến tranh Ukraine,
lạm phát và biến động tỷ giá toàn cầu, cũng như sự thiếu ổn định của chuỗi cung hứng năng lượng quốc tế.
Hệ quả là giá đầu vào tăng cao và Việt Nam phải đối mặt với dùi do bị xuất khẩu lạm phát năng lượng,
tức là chịu áp lực giá cả từ bên ngoài, trong khi không tự chủ được nguồn cung.
Thế còn năng lượng tái tạo thì có tiềm năng lớn nhưng lại thiếu hạ tầng và quy hoạch.
Mặt trời và gió, những nguồn năng lượng thay thế bùng nổ từ năm 2019-2021,
nhưng thiếu trạm biến áp truyền tải dẫn tới quá tải cục bộ, nhiều dự án phải cắt giảm công suất,
chưa có hệ thống lưu trữ điện để điều tiết cung cầu giữa ngày và đêm, mùa mưa và mùa khô.
Thiếu lưới điện thông minh để kết nối các vùng có tiềm năng gió và nắng với các trung tâm công nghiệp,
hệ quả một phần lớn tiềm năng bị giam lỏng, không phát huy hiệu quả,
khiến năng lượng tái tạo vừa không rẻ lại vừa không ổn định.
Và tăng giá điện chính là tín hiệu đầu tiên của khủng hoảng cấu trung.
Từ đầu năm 2024 đến giữa năm 2025, giá điện ở Việt Nam đã trải qua nhiều đợt điều chỉnh tăng,
với lý do chính thức là để cân bằng chi phí đầu vào tăng cao, than, khí, bù lỗ cho EVN,
Tập đoàn Điện lực Quốc doanh, thút đầu tư vào hạ tầng truyền tải và năng lượng mới.
Tuy nhiên, đằng sau con số tăng giá là một thông điệp nghiêm trọng hơn.
Hệ thống điện không còn khả năng hấp thụ biến động từ thị trường quốc tế như trước.
Các chính sách chợ giá trước đây đã đẩy EVN và nhà nước vào thế bi động,
không còn dư địa để giữ giá ổn định như thời bao cấp.
Tăng giá điện trở thành biện pháp giải cứu ngân sách hơn là một công cụ tái công trục giải hạ.
Và điều đáng lo ở đây đó là nền tảng công nghiệp sản xuất của Việt Nam đang chịu cú sốc kép giá điện tăng,
làm tăng chi phí sản xuất, trong khi điện vẫn có nguy cơ thiếu cùng dẫn tới cắt điện luân phiền,
như ở miền Bắc năm 2023.
Khi giá điện vượt ngưỡng 2.200 đồng trên một kilowatt,
nhiều ngành công nghiệp lớn bắt đầu cảm nhận được áp lực ngay.
Dệt may, thép, xì măng, logistic đều dựa vào điện giá rẻ để cạnh tranh với các nước khác trong khu vực.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đối mặt với lựa chọn khó khăn tăng giá thành, giảm lợi nhuận hoặc cắt giảm sản lượng.
Trong khi đó, đầu tư nước ngoài FDI, vốn từng là động lực phát triển của Việt Nam,
bắt đầu xem xét lại chi phí sản xuất.
Giá điện cao không chỉ là gánh nặng tài chính,
mà là nguy cơ dịch chuyển chuỗi cung ứng sang các nước ASEAN khác như Indonesia hoặc Philippines.
Với người dân thì giá điện cao kéo theo giá hàng hóa dịch vụ cũng tăng cao và tạo ra vòng xoáy lạm phát tiềm ẩn.
Thức vị, theo định nghĩa của IEA, cơ quan năng lượng quốc tế,
an ninh năng lượng là khả năng tiếp cận liên tục và ổn định các nguồn năng lượng với mức giá phải trăng.
Và dưới góc độ này thì an ninh năng lượng của Việt Nam rõ ràng đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi các yếu tố như sau.
Phụ thuộc vào nhập khẩu nhiên liệu từ than, LNG tới thiết bị năng lượng tái tạo, pin mặt trời, rồi tua pin gió.
Thiếu năng lực lưu trữ và dự phỏng, không có chiến lược giữ trữ khí LNG hoặc là tích trữ điện.
Thiếu đa dạng hóa nguồn cung, Việt Nam chưa phát triển điện hạt nhân, điện địa nhiệt hoặc các hình thức lưu trữ năng lượng giải hạn.
Và cuối cùng là rủi ro thiên tai, biến đổi khí hậu, tác động tới thủy điện và hạ tầng truyền tài điện.
Trong bối cảnh đô thị hóa và công hiệp hóa nhanh, mọi gián đoạn trong cung cấp điện đều đe dọa trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế,
ổn định xã hội và vị thế quốc gia trong chuỗi cung cấp toàn cầu.
Và việc tăng giá điện không phải là sự cố kỹ thuật hay chính sách nhất thời,
mà đó là dấu hiệu cảnh báo cho một nền tảng năng lượng mong manh, dễ tổn thương.
Nếu Việt Nam không nhanh chóng đầu tư, cải cách và hoạch định chiến lược vĩ mô cho hệ thống năng lượng,
thì những cú sóc giá như hiện tại sẽ không phải là lần cuối.
An ninh năng lượng không chỉ là an ninh kinh tế,
mà là nền tảng cho chủ quyền công nghiệp, công nghệ và quốc gia trong thế kỷ 21.
ĐIỆN HẢT NHÂN VÀ KHẢ NĂNG GIẢI NGUY CỦA VIỆT NAM
Một hướng đi tiềm năng nhưng đầy tranh cái đó là phát triển điện hạt nhân từng được Việt Nam lên kế hoạch
với dự án điện hạt nhân Ninh Thuận, hợp tác với Nga, sau đó tạm dừng vào năm 2016.
Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, các quốc gia như Nhật, Pháp, Hàn Quốc, Trung Quốc hay Hoa Kỳ
đang tái khởi động điện hạt nhân như giải pháp giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thành.
Công nghệ SMR, lò phản ứng mô đun nhỏ, phát triển cũng cho phép xây dựng linh hoạt,
chi phí thấp hơn và an toàn hơn.
Và ngày 12 tháng 5 vừa qua, truyền thông đưa tin rằng Tập đoàn Năng lượng Nguyên tử Nga Rosatom
muốn cung cấp lò phản ứng hạt nhân VV-ER-1200 cho Việt Nam.
Lò phản ứng hạt nhân này do Tập đoàn Rosatom Nga phát triển, hiện được đánh giá là một trong những công nghệ
lò phản ứng thế hệ 3 cộng tiên tiến nhất trên thế giới hiện nay.
Ưu điểm của những công nghệ này là sử dụng hệ thống làm mát tự động mà không cần nguồn điện ngoài,
từ 24 đến 72 giờ, giảm dù do sự cố như Chernobyl hay Fukushima.
Vỏ lò thép kép, cộng với lại hầm chống va đập, bảo vệ chống động đất, rơi máy bay, nổ áp suất,
đáp ứng tiêu chuẩn của IAEA.
Tuổi thọ dài, được thiết kế liên tục hoạt động trong 60 năm và có thể gia hạn lên tới 80 năm.
Quan trọng là nó đã đáp ứng các tiêu chí khắt khe của cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế
và thị trường châu Âu. VVER-1200 hiện được xem là công nghệ lò Gen 3 cộng thành công nhất cả
với số lượng triển khai và hiệu quả vận hành.
Tính đến năm 2025, có ít nhất 5 quốc gia đang vận hành công nghệ lò phản ứng thế hệ 3 cộng này,
như Nga, Belarus, Bangladesh, Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập.
Việt Nam là nước Đông Nam Á đầu tiên được Nga đề xuất cung cấp VVER-1200 nếu dự án hợp tác được khôi phục.
Và nếu Việt Nam muốn tái xem xét chiến lược điện hạt nhân,
thì hợp tác với Nga có thể tăng tính tự chủ dài hạn về nguồn điện ổn định,
tạo đối trọng chiến lược trong quan hệ năng lượng với Trung Quốc và phương Tây
và khai thông thế bê tắc về an ninh năng lượng mà Việt Nam đang đối mặt.
Điều này không đơn thuần là bài toán kỹ thuật mà là lựa chọn chiến lược quốc gia,
vì nếu Việt Nam tiếp nhận VVER-1200 có phần xây dựng nguồn điện nền ổn định, sạch, an toàn,
ít phát tải, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và nhập khẩu than LNG,
điều này sẽ đặt Việt Nam vào nhóm các quốc gia sở hữu công nghệ điện hạt nhân hiện đại,
nâng cao vị thế khoa học và công nghiệp, tạo cơ hội phát triển chỗi cung ứng hạt nhân nội địa,
đào tạo nhân lực chất lượng cao hay là chuyển ra công nghệ.
Như vậy là điện hạt nhân, dù từng bị trì hoãn, đang quay lại như một lựa chọn chiến lược.
Trước hết, đây là nguồn điện ổn định, công suất lớn và có thể vận hành hàng chục năm với chi phí cô định.
Thứ hai, điện hạt nhân gần như không phát thải CO2, giúp Việt Nam thực hiện cam kết trung hòa carbon vào năm 2050.
Thứ ba, nó tách khỏi biến động nhiên liệu toàn cầu, đặc biệt quan trọng trong bối cảnh địa chính trị năng lượng ngày càng phức tạp.
Các bài học từ Pháp, Hàn Quốc và UAE cho thấy, nếu có quy hạch dài hạn, quản trị binh bạch và chọn đúng đối tác công nghệ,
điện hạt nhân không chỉ khả thi mà còn là đòn bầy để công nghiệp hóa sâu hơn, AI, sản xuất chip hay lọc hóa dầu.
Hôm 13 tháng 5, truyền thông tiếp tục đăng tải thông tin tạp đoàn dầu khí Nga Zazrubenev muốn làm điện gió biển
1.000 MW lớn chưa từng có ở Việt Nam. Dự án điện gió ngoài khơi của Zazrubenev tại Vĩnh Phong là lớn nhất từ trước đến nay ở Việt Nam.
Nếu hoàn tất, sẽ trở thành trụ cột quan trọng cho mục tiêu phát thải dòng bằng 0 đến năm 2050.
Liên danh Zazrubenev, D.I.M.E. sẽ mang đến công nghệ tuor bin gió ngoài khơi, kỹ thuật lắp đặt, nền tảng vận hành,
góp phần phát triển chuỗi cung cứu nội địa.
Ngoài vấn đề về việc làm, nó còn giúp Việt Nam từng bước thoát khỏi lệ thuộc than và khí hóa thành.
Do đó, Nga không còn chỉ là đối tác dầu khí mà họ đang chuyển mình thành đối tác năng lượng tái tảo,
trong khi giữ được chiều sâu truyền thống trong ngành năng lượng.
Đây là kết quả trong chuyến thăm chính thức Liên bang Nga của Tổng bí thư Tô Lâm vào tháng 5 năm 2025.
Đội bên đã ký kết nhiều thỏa thuận chiến lược về năng lượng, bao gồm khôi phục hợp tác điện hạt nhân.
Hai bên cam kết đẩy nhanh đàm phán và ký kết thỏa thuận xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại Việt Nam
với mục tiêu vận hành từ năm 2030.
Phát triển năng lượng tái tạo, Yazovenev sẽ triển khai dự án điện gió ngoài khơi 1.000 MW tại khu vực Đông Nam Việt Nam
và hợp tác dầu khí vào LNG, tăng cường cung cấp dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng từ Nga cho Việt Nam,
đồng thời hỗ trợ xây dựng kho dự trữ G từ Nga sẽ giúp bù đắp thiếu hụt nội địa
và giảm phụ thuộc vào thị trường Mỹ, Trung Đông hay là Úc.
Nga sẵn sàng hỗ trợ xây dựng kho dự trữ xăng dầu quốc gia.
Đây là một bước đi quan trọng trong việc tạo vùng đẹp an ninh năng lượng trước rủi ro địa chính trị toàn cầu.
Hợp tác dầu khí giữa Việt Nam và Nga qua Viet Show Petro đã kéo dài hơn 40 năm,
là một trong những mô hình liên doanh hiệu quả nhất trong ngành dầu khí khu vực Đông Nam Á.
Nga vẫn đóng vai trò người bảo hộ nguồn cung truyền thống, giúp Việt Nam ổn định gia thành,
đảm bảo điện không bị thiếu hụt trong giai đoạn chuyển đổi.
Với Việt Nam, Nga đang giữ một vị trí hiếm hoài, vừa là đối tác truyền thống,
vừa là người đi đầu trong chuyển đổi năng lượng mới, điều rất ít quốc gia có thể bảo đảm đầu thời.
Trong một thế giới bị xé toạc bởi cạnh tranh năng lượng và lạm phát năng lượng toàn cầu,
nước Nga đã nổi lên như một trụ đỡ chiến lược giúp Việt Nam giảm thiểu rủi ro,
đa dạng hóa nguồn cung và định hình tương lai năng lượng quốc gia.
Cho nên giới quan sát đánh giá, các lĩnh vực hợp tác giữa Việt Nam và Nga
có tiềm năng định hình lại cấu trúc năng lượng quốc gia trong ít nhất 20-30 năm tới.
Tuy nhiên khả năng thay đổi thực sự không chỉ phụ thuộc vào phía Nga,
mà cũng phụ thuộc rất lớn vào quyết tâm chính trị, năng lượng đội tải và định hướng
chiến lược dài hạn của Việt Nam.
Như chúng ta vừa đề cập, cấu trúc năng lượng của Việt Nam đang nghiêng về nhiệt điện than,
chiếm từ 45-47%, nhưng nguồn này gây ô nhiễm, chịu áp lực khí hậu,
đang bị quốc tế gây sức ép phải cắt giảm.
Thủy điện thì gần 30%, nhưng lại thiếu ổn định nguồn nước,
dòng chảy mê công thì bị kiểm soát.
Năng lượng tái tạo như là mặt trời, gió tăng mạnh nhưng mà thiếu hạ tầng tích chữ và truyền tải.
Khí và dầu nội địa thì chữ lượng đang giảm, nhập khẩu LNG ngày càng phải mở rộng.
Rõ ràng đây là một hệ thống đa trụ cột nhưng không cột nào vững,
dễ tổn thương trước cú sốc nhiên liệu toàn cầu hoặc tiên tai.
Nga với 3 hợp tác lớn về điện hạt nhân, điện gió ngoài khơi và LNG dầu khí
lại đang trở thành đối tác làm thay đổi cấu trúc năng lượng của Việt Nam,
vốn lung lay với nền móng không vững chắc.
