SỰ THẬT VỀ VIỆC KINH TẾ VIỆT NAM TĂNG TRƯỞNG THẦN TỐC, GDP GẤP 51 LẦN

Góc Nhìn Lê Minh
705 Người theo dõi
2.1K Lượt xem video·9 thg 5, 2025
Thưa quý vị, báo cáo của Nikkei Asia ngày 5 tháng 5
giấy lên một câu chuyện kinh tế đầy cảm hứng cho Việt Nam.
GDP tăng gấp 51 lần trong 3 thập kỷ qua, mức tăng nhanh nhất trong khu vực ASEAN.
Trong khi nhiều nhà quan sát lạc quan coi đây là sự thể hiện cho phép màu kinh tế đổi mới,
một số nhà kinh tế chiến lược lại đặt vấn đề rằng sự tăng trưởng đó dựa trên nội lực hay phụ thuộc ngoại lực.
Tăng GDP danh nghĩa là tín hiệu tích cực,
nhưng nếu toàn bộ tăng trưởng đến từ FDI thì đây chỉ là tăng trưởng bề mặt.
Đã đến lúc cần mồ sẻ những động lực đứng sau cái gọi là phép màu.
Một báo cáo khác ngày 6 tháng 5 thì cho biết Amcor Technology,
một công ty bán dẫn có trụ sở tại Hoa Kỳ,
coi Việt Nam là một thị trường mạnh trong chung và dài hạn,
bất chấp những bất ổn về thuê quan dưới thời chính quyền Donald Trump.
Liệu đây có phải là những tín hiệu vui mừng chiến thắng hay không?
Chúng ta cần phân tích nó một cách thực tế nhất để thấu tỏ một phần chim của tảng băng trôi.
Xin mời quý vị tìm hiểu trong video ngày hôm nay.
Sự thật tăng trưởng lấy động lực FDI
Samsung, Apple và Amcor
Thưa quý vị, sự bùng nổ kinh tế của Việt Nam gắn liền
với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI trong 3 thập kỷ qua.
Từ những năm 1990, Việt Nam đã định vị mình như một điểm đến thay thế Trung Quốc
nhờ chi phí lao động thấp, vị trí địa lý thuận lợi và chính trị ổn định.
Trong đó, 3 tập đoàn công nghệ toàn cầu, Samsung, Apple và Amcor
là biểu tượng tiêu biểu cho dòng vốn chiến lược này.
Samsung bắt đầu đầu tư vào Việt Nam từ năm 2008 và đến nay đã rót hơn 23 tỷ USD,
trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam.
Năm 2024, doanh thu của Samsung Việt Nam đạt khoảng 6,2,5 tỷ USD,
trong đó hơn 54 tỷ USD đến từ xuất khẩu, tương đương 13,4% tổng kim ngạch xuất khẩu quốc gia.
Hơn 100.000 lao động đang làm việc tại các tổ hợp sản xuất của hãng
ở Bắc Ninh, Thái Nguyên và TP.HCM.
Apple thì không trực tiếp đầu tư, nhưng chuỗi cung ứng của họ đã mở rộng nhanh chóng tại Việt Nam.
Các đối tác như Foxconn, Luxair, Pegatron, Gotek đã xây dựng nhà máy
tại Bắc Giang, Bắc Ninh, Đà Nẵng, đưa số lượng nhà cung cấp của Apple
tại Việt Nam lên tới con số 35, nhiều nhất trong ASEAN.
Còn Amcor Technology, tập đoàn bán dẫn hàng đầu có trụ sở tại Hoa Kỳ,
gần đây đã hoàn thành giai đoạn một của nhà máy đóng gói và kiểm định trị giá 1,6 triệu USD tại Bắc Ninh,
nhà máy lớn nhất toàn cầu của họ tính đến năm 2025.
Đây là bước đi chiến lược giữa bối cảnh Amcor và các công ty Mỹ
muốn giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc trong chuỗi cung ứng bán dẫn.
Những dự án trên không chỉ tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu,
mà còn giúp Việt Nam tăng GDP nhanh chóng.
Việc GDP của Việt Nam tăng gấp 51 lần sau năm 1994,
với Apple và Samsung là động lực chính, có thể được hiểu đúng như thế nào?
Đây là tăng trưởng tính theo giá trị danh nghĩa bằng đồng nội tệ Việt Nam đồng,
không điều chỉnh theo lãn phát.
Ví dụ nếu GDP Việt Nam năm 1994 là khoảng 300.000 tỷ Việt Nam đồng,
thì đến năm 2024, con số này có thể đã vượt 15 triệu tỷ Việt Nam đồng.
Mức tăng này phản ánh sự mở rộng quy mô đến kinh tế,
bao gồm cả công nghiệp, dịch vụ và xuất khẩu.
Điều đáng chú ý là vai trò của Apple và Samsung là động lực chính,
nói cách khác, đầu tư trực tiếp nước ngoài, FDI, đến từ hai tập đoàn này
mang đến các lĩnh vực có giá trị cao như điện tử, công nghệ cao,
sản xuất linh kiện, lắp giác thiết bị thông minh.
Họ tạo động lực cho tăng trưởng thông qua xuất khẩu lớn,
Samsung chiếm hơn 13% tổng kim ngạch xuất khẩu,
đồng thời tạo việc làm và chuyển giao công nghệ,
hàng trăm nghìn việc làm trực tiếp và gián tiếp,
kéo theo cả chuỗi cung ứng nội địa, doanh nghiệp trong nước,
dân tham gia và chuỗi giá trị toàn cầu.
Trong khi nhiều ngành khác như nông nghiệp, du lịch, khai khoáng cũng phát triển,
thì đóng góp về xuất khẩu và công nghiệp chế biến chế tạo từ Samsung
và chuỗi cung ứng của Apple là vượt trội.
Các khoản đầu tư này không chỉ tăng GDP mà còn định hình lại
cấu trúc nền kinh tế Việt Nam, chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp
sang công nghiệp, công nghệ cao.
Có một điểm rất quan trọng để hiểu rõ bản chất tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam,
đó là Việt Nam có thực sự xuất khẩu tăng hay chỉ doanh nghiệp FDI tăng?
Thực tế là tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu đến từ khu vực FDI,
khoảng 70-75% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
đến từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI,
ví dụ Samsung, Intel, LG, Foxconn, Luxair, v.v.
Các doanh nghiệp này nhập nguyên liệu, sản xuất và xuất khẩu.
Và dù hoạt động tại Việt Nam, lợi nhuận lớn chủ yếu được chuyển về công ty mẹ.
Còn doanh nghiệp Việt Nam thì vẫn yếu trong chuỗi giá trị.
Các doanh nghiệp trong nước phần lớn cung cấp dịch vụ hỗ trợ,
linh kiện đơn giản, bao bì,
chưa kiểm soát được phần công nghệ cốt lói hay là thương hiệu.
Điều này dẫn đến việc xuất khẩu tăng
không đồng nghĩa với nội lực kinh tế mạnh lên tương xứng.
Hệ quả kéo theo là GDP danh nghĩa và xuất khẩu tăng,
nhưng giá trị gia tăng thực tế thu lại cho nền kinh tế Việt Nam thì thấp.
Tỷ lệ nội địa hóa trong sản xuất của các tập đoàn FDI còn thấp,
chưa đến 30%, chính sách chuyển giao công nghệ thì diễn ra chậm.
Quý vị thấy đấy, tăng trưởng GDP và xuất khẩu là điều tích cực,
nhưng để thực sự phát triển bền vững,
Việt Nam cần phát triển năng lực nội tải,
đặc biệt là doanh nghiệp công nghệ trong nước.
Sản phẩm thực sự là made in Việt Nam,
tăng tỷ lệ nội địa hóa,
đặc biệt là cần phải nắm được khâu thiết kế, sáng tạo, thương hiệu.
Xin nhấn mạnh điều cần lưu ý là phần lớn giá trị gia tăng nằm ngoài Việt Nam.
Việt Nam chủ yếu đóng vai trò là công sửng gia công
với năng lực thiết kế, nghiên cứu và phát triển IID,
và thương hiệu hầu như không hiện diện.
Bản chất tăng trưởng lại chính là sự phụ thuộc vào FDI và cái bóng của tăng trưởng rỗng.
Một cách nhìn thực tế hơn chính là Việt Nam đang chứng kiến một mô hình tăng trưởng mạnh
về con số nhưng lại mong manh về nền tảng.
Khi tỷ trọng FDI chiếm hơn 70% tầm kim ngạch xuất khẩu và đóng góp lớn vào GDP,
câu hỏi cần đặt ra là Việt Nam đang tăng trưởng cho chính mình
hay đang phát triển hộ cho các tập đoàn đa quốc gia?
Ở tầng bên mặt, FDI mang lại việc làm, kỹ năng cơ bản và nguồn thu ngân sách,
nhưng sâu bên trong nên kinh tế lại phụ thuộc vào ngoại lực,
công nghệ đến từ nước ngoài, quản trị đến từ nước ngoài,
chuỗi cung ứng toàn cầu cũng do nước ngoài kiểm soát.
Các doanh nghiệp Việt Nam hiện diện rất mờ nhạt trong các chuỗi giá trị đó,
thường chỉ làm bao bì, linh kiện đơn giản hoặc cung ứng dịch vụ phụ trợ.
Điều đáng lo ngại là giá trị gia tăng nội địa trong sản phẩm xuất khẩu còn rất thấp,
thường giới 30%.
Trong ngành điện tử, lĩnh vực đóng góp xuất khẩu lớn nhất,
giá trị Việt Nam giữ lại chỉ chiếm khoảng 5-10%.
Câu chuyện tương tự xảy ra trong ngành dệt may, da dày và thậm chí là nông sản chế biến.
Thực tế này tạo ra một mô hình gọi là tăng trưởng rỗng khi chỉ số GDP tăng
nhưng năng lực nội tại không tăng theo.
Việt Nam chưa thể chủ động với công nghệ, không có thương hiệu quốc tế mạnh
và phụ thuộc nặng nề vào quyết định đầu tư của các tập đoàn toàn cầu.
Nếu ngày mai Apple hoặc Samsung rút đi, hàng trăm nghìn lao động sẽ mất việc,
chuỗi cung ứng đứt gãy và GDP có thể sụt giảm nghiêm trọng.
Việt Nam có thể vui mừng vì được coi là một thị trường mạnh trong trung và dài hạn không?
Như chúng ta đã đề cập ở phần đầu, về việc Amcor, một công ty bán dẫn có trụ sở tại Hoa Kỳ,
coi Việt Nam là một thị trường mạnh trong trung và dài hạn,
báo cáo này đang đưa cho chúng ta một nửa của câu chuyện.
Phần sau của nó là gì?
Quý vị biết đấy, chuỗi giá trị ngành bán dẫn bao gồm các giai đoạn như sau.
Một là thiết kế chip do các công ty như là ARM, Qualcomm, Nvidia đảm nhiệm.
Hai là sản xuất wifi do các foundry như là TSMC, Intel, Samsung đảm nhiệm.
Đây là khâu công nghệ cao nhất.
Và thứ ba là đóng gói và kiểm định do các công ty như là Amcor, ASE, GCET thực hiện.
Điều mà Amcor vừa nhận định lại là cái mà họ đưa ra ở khâu thứ ba,
nơi mà Việt Nam hiện diện chủ yếu bởi đó.
Amcor không sản xuất chip, không thiết kế chip mà nhận wifi đã sản xuất từ nơi khác,
thường là Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc và thực hiện đóng gói kiểm định.
Đây là khâu giá trị thấp hơn so với thiết kế hay sản xuất
nhưng vẫn quan trọng về mặt quy mô và tính chuyên môn hóa.
Nói thẳng ra, Việt Nam không sở hữu công nghệ cốt lõi, không nắm quyền định giá
và khó hình thành hệ sinh thái sáng tạo trong bán dẫn nếu chỉ là mỗi khâu đóng gói.
Chúng ta biết rằng, ngành công nghiệp bán dẫn được xem là sưng sống của nền kinh tế số và công nghệ cao,
đóng vai trò sống còn trong các lĩnh vực từ điện thoại thông minh,
xe điện đến trí tuệ nhân tạo AI và vũ khí chính xác.
Tuy nhiên, chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu lại cực kỳ phân mảnh và khắt khe,
chia thành 3 khâu chính, thiết kế, sản xuất và đóng gói kiểm định.
Trong chuỗi giá trị này, các quốc gia như Mỹ, Hàn Quốc và Đài Loan kiểm soát 2 khâu đầu tiên,
nơi mang lại phần lớn giá trị gia tăng.
Các công ty như TSMC Đài Loan, Samsung Hàn Quốc, Intel Mỹ nắm công nghệ sản xuất tiền tiến,
trong khi các hãng như Nvidia, AMD hay ARM tập trung vào thiết kế vi mạch nơi có biên lợi nhuận cao nhất.
Việt Nam hiện mới chỉ đặt chân vào chuỗi này thông qua khâu đóng gói và kiểm định bước cuối cùng
và có giá trị thấp nhất.
AMCOR là một biểu tượng cho vị trí này khi đầu tư nhà máy lớn tại Bắc Ninh,
nhưng chỉ tập trung vào đóng gói chip đã được sản xuất ở nơi khác.
Tại đây, Việt Nam chủ yếu cung cấp nhân công, đất đai và hạ tầng,
trong khi công nghệ và quyền sở hữu trí tuệ hoàn toàn nằm ngoài tầm với.
Việt Nam chưa có nhà máy sản xuất wifi,
chưa có công ty thiết kế chip quy mô khu vực
và càng chưa có hệ sinh thái đào tạo kỹ sư thiết kế vi mạch chất lượng cao.
Do đó, vị trí của Việt Nam trong ngành bán dẫn hiện nay là hậu cứu sản xuất,
chứ chưa phải là trung tâm sáng tạo.
Và rõ ràng, điều này đặt ra một nghịch lý.
Dù có mặt trong chuỗi cung cứng toàn cầu,
Việt Nam sẽ mãi chỉ là nơi tăng quy mô, chứ không tăng quyền lực.
Đây là khác biệt cân bản giữa một nền kinh tế phụ thuộc và một nền kinh tế dẫn dắt.
Trong cùng một khu vực ASEAN, ba quốc gia Singapore, Malaysia và Việt Nam
đang đại diện cho ba cách tiếp cận khác nhau đối với quá trình công nghiệp hóa
và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Sự so sánh này không chỉ cho thấy vị trí hiện tại của Việt Nam,
mà còn mở ra những bài học cần thiết cho chiến lược tương lai.
Thứ nhất là Singapore, trung tâm trí tuệ và điều phối toàn cầu.
Singapore là ví dụ điển hình cho một nền kinh tế nhỏ về diện tích
nhưng lớn về chất lượng chiến lược.
Quốc đảo này không cạnh tranh về số lượng nhà máy,
mà chọn vị trí ở đỉnh cao chuỗi giá trị, thiết kế, AMD, điều phối và logistics.
Nơi đây quy tụ hàng chục trung tâm AMD của các hãng bán dẫn toàn cầu như
Broadcom, Mediatek, AMD, Infion, STMicroelectronics.
Các công ty này không chỉ phát triển công nghệ,
mà còn dùng Singapore làm bản doanh hỗ trợ khu vực châu Á.
Ngoài ra, Singapore còn là trung tâm logistics và pháp lý hỗ trợ toàn chuỗi cung ứng.
Chính phủ nước này đóng vai trò kiến tạo rất mạnh.
Họ đầu tư vào giáo dục, kỹ thuật cao, có chính sách thuế cạnh tranh
và xây dựng môi trường minh bạch, ổn định,
giúp thu hút những gì có giá trị nhất, chất sám và công nghệ lõi.
Thứ hai là Malaysia, cường quốc đóng gói và kiểm định OSAT của ASEAN.
Malaysia có lịch sử lâu dài trong ngành điện tử và bán dẫn,
từ những năm 1970 đã là điểm đến của nhiều công ty Mỹ và Nhật Bản.
Ngày nay, nước này trở thành một trong những trung tâm đóng gói kiểm định lớn nhất thế giới
với sự hiện diện của ASEAN, Infion, Unicef, Inari và cả AT&S của Áo.
Họ không mạnh về thiết kế chip như Singapore,
nhưng lại có hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ vững vàng,
chất lượng kỹ sư cao và chính sách ổn định cho FDI.
Quan trọng hơn, chính phủ nước này chủ động khuyến khích nội địa hóa
và phát triển doanh nghiệp bản địa có thể tham gia chuỗi cung ứng,
chứ không chỉ là thu hút FDI thông thường.
Thứ ba mới là Việt Nam, được coi là động lực mới, nhưng còn khá mờ nhạt.
Việt Nam đang ở vị trí của Malaysia 20 năm trước,
nhưng lại đối mặt với bài toàn mới, cạnh tranh toàn cầu đã khốc liệt hơn,
yêu cầu công nghệ cao hơn và dư địa phát triển theo chiều rộng đã dần cạn.
Trong khi Malaysia đã xây dựng được nền công nghiệp OSAT và nguồn lực kỹ thuật,
Việt Nam mới chỉ chạm vào bề nổi của ngành bán dẫn
thông qua các nhà máy như Amcor, Intel.
Tỷ lệ nội địa hóa của Việt Nam rất thấp.
Doanh nghiệp trong nước gần như không tham gia vào chuỗi cung ứng bán dẫn
mà chỉ làm hậu cần hoặc bao bị.
Nguồn nhân lực kỹ thuật cao vẫn là điểm nghén,
trong khi môi trường thể chế còn thiếu nhất quán.
Sự đối sánh giữa ba quốc gia ASEAN cho thấy Việt Nam đang ở ngã ba đường phát triển.
Nếu tiếp tục duy trì mô hình thu hút FDI, sản xuất thâm dụng lao động,
xuất khẩu giá công thì Việt Nam sẽ bị mắc kẹt trong bẫy giá trị thấp.
Ngược lại, nếu biết học hỏi từ mô hình thành công của Singapore
và điều chỉnh chính sách theo hướng bền vững
thì Việt Nam có thể trở thành trung tâm giá trị cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Singapore không chỉ đi trước về công nghệ mà còn đi trước về tư duy quản trị.
Chính phủ nước này hoạt động như một nhà đầu tư chiến lược
chứ không đơn thuần là người điều hành hành chính.
Cơ chế phối hợp giữa nhà nước, đại học, doanh nghiệp
được thiết kế theo logic chuỗi giá trị
từ nghiên cứu, ứng dụng, thương mại hóa đến mở rộng quy mô.
Giáo dục kỹ thuật cao là chìa khóa.
Thay vì dạy đại trả, Singapore hướng đến việc xây dựng lực lượng kỹ sư sáng tạo,
quản lý công nghệ, chuyên gia nghiên cứu.
Hệ thống đại học, viện nghiên cứu và các trung tâm đổi mới sáng tạo
được tài trợ mạnh mẽ và đặt trong mối liên kết chậm chẽ với ngành công nghiệp.
Việt Nam không nên dừng lại ở việc thu hút càng nhiều FDI càng tốt
mà cần chuyển sang chọn lọc có điều kiện,
yêu cầu chuyển ra công nghệ, đào tạo nhân lực Việt Nam
và tạo điều kiện để doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng.
Cần có chính sách khuyến khích nội địa hóa theo lộ trình rõ ràng
và có cơ chế giám sát minh bạch.
FDI cần được tích hợp vào chiến lược phát triển doanh nghiệp nội.
Ví dụ như khi Samsung mở rộng sản xuất,
chính phủ có thể yêu cầu ít nhất 30% giá trị linh kiện
phải được cung cấp bởi doanh nghiệp Việt trong 10 năm,
đồng thời cần hỗ trợ doanh nghiệp trong nước
cải thiện tiêu chuẩn kỹ thuật để đạt yêu cầu toàn cầu.
Không thể có ngành bán dẫn mà thiếu kỹ sư vi mạnh,
không thể có đổi mới nếu thiếu nhà sáng chế.
Do đó, đầu tư vào giáo dục STEM
là phương pháp giáo dục nâng cao rè luyện kỹ năng
liên quan đến 4 yếu tố,
khoa học, công nghệ, kỹ thuật, toán học,
đặc biệt là điện tử, vật liệu, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo
cần được xem là đầu tư chiến lược quốc gia.
Bên cạnh đó, công nghiệp hỗ trợ như sản xuất vật liệu bán dẫn,
khuôn đúc, thiết bị kiểm định
cần được ưu tiên phát triển thông qua tín dụng yêu đải,
miễn giảm thế và hỗ trợ thị trường.
Nhà nước nên đóng vai trò bảo và trợ rủi ro trong giai đoạn đầu,
tương tự như là cách Hàn Quốc và Đài Loan
đã làm với ngành bán dẫn trong thập niên 1980-1990.
Thành thật mà nói thì Việt Nam đã có một hành trình phát triển đầy ấn tượng,
từ một nền kinh tế nông nghiệp nghèo đói sau đổi mới
đến một quốc gia có tên tuổi trên bản đồ chuỗi cung ứng toàn cầu.
GDP tăng bọt, đầu tiên nước ngoài ao ạt
và các tổng đoàn hàng đầu thế giới đã và đang chọn Việt Nam làm điểm đến chiến lược.
Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế nhanh không đồng nghĩa
với sự trưởng thành về thể chế, công nghệ và năng lực nội tại.
Việc đứng ở phân khúc giá trị thấp trong chuỗi cung ứng toàn cầu,
dù có thể mang lại tăng trưởng ngăn hạn,
sẽ khiến Việt Nam bị mắc kẹt nếu không có chiến lược
nâng cấp vị thế quốc gia một cách có hệ thống.
Làm thuê cho thế giới là bước khởi đầu,
nhưng nếu Việt Nam muốn trở thành quốc gia sáng tạo,
có năng lực cạnh tranh toàn cầu,
thì cần một tầm nhìn lớn hơn,
xây dựng nền kinh tế dựa trên tri thức,
đổi mới và khả năng kiểm soát các chuỗi giá trị chủ chốt.
Không quốc gia nào phát triển bền vững chỉ nhờ công sưởng giá rẻ.
Đã đến lúc Việt Nam phải đặt mục tiêu vươn lên làm chủ công nghệ,
thiết kế sản phẩm của chính mình,
tạo ra thương hiệu quốc gia có uy tín
và xây dựng một hệ sinh thái kinh tế độc lập vững vàng.
Lớn lên về quy mô là điều kiện cần,
nhưng trưởng thành về tư duy chiến lược,
về năng lực nội sinh mới là điều kiện đủ
để Việt Nam chuyển mình từ quốc gia ra công
thành quốc gia dẫn dắt.
Hẳn quý vị còn nhớ,
chiều ngày 12 tháng 3 trong khuôn khổ
chuyến thăm chính thức Singapore,
Tổng bí thư Tô Lâm đã có bài phát biểu chính sách
tại Trường Chính sách công Lý Quang Diệu,
Đại học quốc gia Singapore.
Với chủ đề, chính sách phát triển khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Việt Nam
trong kỷ nguyên mới và cơ hội hợp tác Việt Nam-Singapore.
Bài phát biểu này cho thấy rất rõ ràng
rằng Việt Nam đang chủ động học hỏi
và tham khảo mô hình phát triển của Singapore,
đặc biệt là trong các lĩnh vực như là khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo.
Vì Singapore là hình mẫu của một quốc gia
không có tài nguyên thiên nhiên,
nhưng thành công nhờ đầu tư vào công nghệ,
R&D và trí thức.
Việt Nam đang xác định đây là chìa khóa vàng
để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình,
một tư duy rất gần với chiến lược phát triển
của Singapore từ thầm niên 1990.
Bên cạnh đó là quản trị nhà nước hiện đại,
nhà nước kiến tảo.
Bài phát biểu nhấn mạnh vai trò thể chế đi trước.
Điều Singapore đã làm rất tốt
bằng hệ thống luật pháp minh bạch,
quy hoạch dài hạn và bộ máy công quyền hiệu quả.
Việt Nam đang cho thấy tham vọng
xây dựng một nhà nước có năng lực hoạch định
và dẫn dắt, chứ không đơn thuần là quản lý hành chính.
Cuối cùng là hợp tác công tư,
đại học trong hệ sinh thái đổi mới.
Singapore thành công nhờ liên kết ba bên
giữa nhà nước, trường đại học và doanh nghiệp
tạo ra một hệ sinh thái đổi mới liên tục.
Việt Nam muốn học hỏi mô hình này
để thúc đẩy R&D, truyền gia công nghệ,
thương mại hóa sáng chế,
những điều mà Việt Nam còn rất yếu.
Nói cách khác, Việt Nam đang dũng cảm
nhìn thẳng vào điểm yếu chiến lược của mình.
Và bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm
không chỉ thể hiện mong muốn hợp tác
mà còn gián tiếp khẳng định rằng
Việt Nam đang tham khảo rất nghiêm túc
con đường phát triển dựa trên
tri thức, công nghệ và quản trị hiện đại
mà Singapore đã đi qua.
Nếu Việt Nam thực sự chuyển mình thành công
theo hướng mô hình Singapore, đổi mới sáng tạo,
quản trị hiện đại, kinh tế tri thức
thì sức mật của Việt Nam hoàn toàn
có thể mạnh mẽ hơn cả Singapore.
Việt Nam có sấp xỉ 100 triệu dân,
so với Singapore chỉ là khoảng 5,7 triệu người.
Điều này tạo ra một thị trường nội địa
đủ lớn để thử nghiệm công nghệ mới,
ủng hộ doanh nghiệp nội địa phát triển,
đủ quy mô để các start-up
test and scale trong nước trước khi ra toàn cầu.
Nếu biết cách kích hoạt
tầng lớp trung lưu và hệ sinh thái tiêu dùng
sáng tạo, sức mật thị trường nội địa
Việt sẽ còn vượt xa cả Singapore.
Đồng thời, Việt Nam có cơ cấu
dân số vảng, hơn 60%
dân số trong độ tuổi lao động.
Trong khi đó, Singapore đang đối mặt với dân số già,
thiếu nhân lực kỹ thuật bản địa,
phải phụ thuộc lao động nhập khẩu.
Nếu Việt Nam đầu tư mạnh vào giáo dục
STEM, khởi nghiệp công nghệ,
AI, vi mạch,
thì tầng lớp kỹ sư sáng tạo của Việt Nam
có thể trở thành động lực tăng trưởng khổng lồ.
Mặt khác, thì Singapore
bị giới hạn bởi diện tích chưa đến
750 km2, trong khi Việt Nam
có không gian cho công nghiệp quy mô lớn,
khu công nghiệp, logistics,
tài nguyên thiên nhiên, nông nghiệp,
thùy sản để tích hợp với công nghệ số,
vị trí địa lý chiến lược trải dài
Đông Nam Á, ven biển. Điều này
giúp Việt Nam không chỉ phát triển dịch vụ như
Singapore, mà còn làm được công nghiệp
có giá trị cao nếu quản trị tốt.
Điều quan trọng hơn là nếu Việt Nam
cải cách thể chế hiệu quả như Singapore,
chẳng hạn như là môi trường pháp lý
minh bạch, ổn định và bộ máy hành chính
hiệu suất cao, ra quyết định dựa trên
dữ liệu, khi đó thì sức mật của Việt Nam
không chỉ là mạnh mà còn có thể
kéo dài và bền vững trong hàng thập kỷ.
Lúc này, Việt Nam không chỉ lớn hơn Singapore,
mà còn có khả năng trở thành
một Hàn Quốc mới trong khu vực ASEAN.
Vâng thưa quý vị, GDP là con số
dễ đo, nhưng không phải là tấm gương trung thực
phản chiếu sức khỏe thật sự của một nền kinh tế.
Khi tăng trưởng chủ yếu đến từ bên ngoài,
thì thành công cũng có thể rời đi
bất cứ lúc nào. Những gì truyền thông
đang đưa tin về tăng trưởng GDP của Việt Nam
là thật, nhưng chưa đủ. Nếu chỉ
nhìn vào con số và hài lòng với việc
được chọn làm công sưởng, chúng ta sẽ
bỏ lỡ cơ hội để trở thành người dẫn dắt.
Việt Nam không thể tự du ngủ
trong ảo giác tăng trưởng, mà cần tỉnh táo,
thực tế và chiến lược hơn bao giờ hết.
Phải không quý vị?
Xin mời quý vị chia sẻ quan điểm cá nhân
ở phần dưới. Chúng tôi luôn tôn trọng
mọi ý kiến khác biệt. Lê Minh xin chào
và hẹn gặp lại!
