LỊCH SỬ NGƯỜI CHĂM Ở VIỆT NAM | QUÁ TRÌNH SUY TÀN CỦA 1 VƯƠNG QUỐC

TÔI YÊU BÌNH DƯƠNG
1.4K Người theo dõi
NGUỒN GỐC NGƯỜI CHĂM Ở VIỆT NAM | QUÁ TRÌNH SUY TÀN CỦA 1 VƯƠNG QUỐC
© Bản quyền thuộc về Những Vấn Đề Địa Lý Shorts
© Copyright by Những Vấn Đề Địa Lý Shorts Production ☞ Do not Reup
#tintuc
#khampha
#bando
Khi đặt chân lên giải đất Duyên Hải Nam Trung Bộ đầy nắng gió,
ta không chỉ bắt gặp những bãi biển tuyệt đẹp hay những đồi cát trải dài,
mà còn cảm nhận điểm âm vang của một nền văn minh cổ xưa,
đó là nền văn minh Trăm Ba.
Người Trăm với điệu mối huyền chuyển và tháp cổ rêu phong sửng sữ giữa trời
là minh chứng sống đậu cho dân tộc từng tạo nên một hương quốc khủng mạnh trên mảnh đất này.
Nhưng người Trăm là ai? Và họ đến từ đâu?
Trong video ngày hôm nay, các bạn hãy cùng chúng mình tìm hiểu về vấn đề này nha!
Trước khi bắt đầu, chúng mình xin có một vài lưu ý là trong video sẽ có những từ ngữ
như là người Trăm hay dân tộc Trăm. Mục đích mình sử dụng những từ này không phải là để gây chia rẽ,
phân biệt đối xử hay miệt thị dân tộc khác, mà là được dùng theo đúng tên gọi
trong các thành phần dân tộc Việt Nam hiện nay, cũng như để các bạn dễ hiểu hơn.
Vấn đề nữa là để tổng hợp được các thông tin dưới đây,
chúng mình đã phải tìm kiếm và biên tập lại thông tin từ hàng trăm nguồn tài liệu và sách báo,
mà mỗi tài liệu lại có những quan điểm khác nhau.
Vậy nên nếu có sai sót thì mong các bạn hãy thông cảm và góp ý ở dưới phần bình luận nha!
Người Trăm hay dân tộc Trăm là tên một nhóm dân cư,
mà trước kia họ là thần dân của Vương quốc Trăm Pa Cũ,
vốn có mặt từ lâu đời tại Duyên Hải Nam Trung Bộ của Việt Nam.
Nguồn gốc của họ ở Việt Nam hiện nay vẫn còn khá nhiều tranh cãi và nhiều quan điểm khác nhau.
Tuy nhiên, sau quá trình tìm hiểu tài liệu,
thì mình thấy có hai quan điểm đúng nhất về nguồn gốc của họ.
Quan điểm thứ nhất là giả thuyết của học giả người Áo Hai Gedum.
Ông cho rằng, người Trăm là một trong nhiều làn sóng di dân liên tục bằng đường bộ,
từ Trung Quốc tới lục địa Đông Nam Á, kéo dài tới những năm đầu công nguyên.
Đợt đầu tiên là đợt của di dân Austra Melanesia,
tổ tiên của thổ dân Australia và người Papua New Guinea ngày nay.
Hai đợt tiếp theo là của người Mã Lai hay người Indonesian.
Người Trăm là nhóm Indonesian ở lại lục địa,
trong khi các nhóm khác đi tiếp tới hải đảo.
Còn quan điểm thứ hai là giả thuyết của Peter Belwood.
Ông cho rằng, người Trăm là một nhóm dân Nam Đảo đi bằng đường biển,
từ đảo Borneo ngược về lục địa Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Do tiếng Trăm gần gũi với tiếng Ache ở Bắc Sumatra và tiếng Malay ở Tây Nam Borneo,
nên người Trăm đến từ đảo Borneo của Indonesia ngày nay.
Giả thuyết này từng được phổ biến rộng rãi.
Tuy nhiên, theo một số chuyên gia ngôn ngữ,
thì mặc dù tiếng Trăm cùng tiếng Ache ở Sumatra và tiếng Malay ở Malaysia rất gần gũi với nhau,
nhưng tư liệu khảo cổ lại không cho thấy bất kỳ bộ di vật nào ở hai nơi trên,
tương tự với bộ sao hình Kalanay.
Dù vậy, hiện nay quan điểm này vẫn được ủng hộ rộng rãi.
Về ngôn ngữ, thì người Trăm được nhiều nhà nhân chủng học xếp vào nhóm ngôn ngữ Nam Đảo,
tức là Malayo-Polynesian,
nghĩa là có nguồn gốc xuất phát từ các hải đảo phía Nam vùng biển Đông Nam Á.
Hiện nay người Trăm là một trong số 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam.
Theo điều tra dân số vào năm 2019,
thì dân số đồng bào người Trăm là 178.948 người,
trong đó hơn 2 phần 3 số người đang định cư tại tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận,
còn lại hiện đang sinh sống tại tỉnh An Giang, tỉnh Tây Ninh,
thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành khác ở khu vực đồng bằng sông Kiều Long.
Ngoài ra, ở Việt Nam còn có nhóm Trăm Heroi cư trú ở các tỉnh Phú Yên,
Bình Định, Gia Lai với tổng dân số khoảng 45.000 người.
Tuy nhiên thì số người Trăm sống ở Việt Nam chỉ chiếm khoảng 1 phần 3
trong tổng số khoảng 500.000 người Trăm trên toàn thế giới,
đồng nhất vẫn là Campuchia với khoảng 259.000 người.
Trong thời gian còn ngồi trên ghế nhà trường,
hẳn các bạn đang nghe nói đến sự tồn tại của Vương quốc Trăm Pa
và người Trăm cũng chính là một trong những chủ nhân của Vương quốc này.
Vậy sự hình thành và phát triển của Vương quốc Trăm Pa đã diễn ra như thế nào?
Trong quá khứ, Vương quốc Trăm Pa bao gồm nhiều tiểu quốc,
cơng vực của Trăm Pa có lúc trải dài từ dãy Hoành Sơn ở phía Bắc
cho đến Bình Thuận ở phía Nam và từ Biển Đông cho đến tận miền núi phía Tây,
thuộc nước Lào ngày nay.
Vương quốc này hưng thịnh nhất là vào thế kỷ 9-13,
sau đó dần suy yếu dưới sức ép của Đại Việt từ phía Bắc
và các cuộc chiến tranh về đế quốc Khmer.
Vương quốc Trăm Pa là một tập hợp bao gồm nhiều sắc tộc khác nhau,
mỗi sắc tộc lại bao gồm nhiều thị tộc riêng lẻ
và thường xuyên có những xung đột lẫn nhau.
Tuy nhiên, có hai thị tộc lớn nhất thường tri phối toàn bộ Vương quốc
là thị tộc Cây Dừa hay Nari-Ke-La-Vam-Ka.
Họ sinh sống ở phía Bắc Indrapura, thuộc khu vực Quảng Nam Đà Nẵng ngày nay
và thị tộc Cây Cao hay Krau-Ka-Vam-Ka ở phía Nam,
chiếm lính vùng lãnh thổ Panduranga,
tức là từ đèo Cú Mông cho đến lưu vực sông Đồng Nai.
Do tập tục khác nhau nên hai thị tộc này vẫn thường xuyên xảy ra những cuộc đụng độ.
Ngoài ra thì có các thị tộc nhỏ hơn,
tuy cùng chung sống trong lãnh thổ với hai thị tộc lớn này
nhưng vẫn có tính độc lập khá cao.
Nhiều nhà cổ sử Đông Nam Á cho rằng
hình thái tổ chức chính quyền của Trăm Pa theo kiểu Mandala
nên nhiều tài liệu ghi là Mandala Trăm Pa.
Hiện nay, chưa có ý kiến thống nhất trong việc phân chia các triều đại của Vương quốc Trăm Pa
nên trong video hôm nay, mình sẽ tiến hành phân chia lịch sử Vương quốc với hai thời kỳ chính.
Đầu tiên là thời kỳ 14 Vương triều Trăm Pa.
Trong nhiều tài liệu sẽ được đánh số từ Vương triều thứ nhất đến Vương triều thứ 14.
Thời kỳ này tồn tại từ năm 192 cho đến năm 1471.
Do giới hạn của video,
nên mình sẽ trình bày thời kỳ này một cách ngắn gọn nhất để các bạn dễ hình dung.
Vương quốc Lâm ấp từ năm 192 đến năm 757.
Tiền thân của Trăm Pa là Vương quốc Lâm ấp,
hình thành sau khi thủ lĩnh Khu Liên lãnh đạo các bộ tộc nổi dậy chống lại ách đổ hộ của nhà Hán.
Sau khi giành được độc lập,
Lâm ấp nhanh chóng tiếp thu văn hóa Ấn Độ,
sử dụng chữ Phạn hay chữ Sanskrit và Bà Lamôn giáo cùng với Phật giáo
được phổ biến rộng rãi trong đời sống tinh thần người dân.
Về lãnh thổ, sự Trung Hoa chép rằng
Lâm ấp có thể trải dài từ Quảng Bình cho đến Quảng Nam ngày nay.
Nhưng một số chuyên gia Trăm Pa lại khẳng định
Lâm ấp là lãnh thổ Indrapura,
tức là đất của thần Indra,
có cơng vực từ dãy Hoành Sơn đến đèo Hải Vân.
Tuy nhiên thì đây đều chỉ là những ý kiến mang tính cương đối.
Từ thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 6,
nước Lâm ấp được mở rộng bằng cách chinh phục và thống nhất các tiểu quốc khác
nằm ở vùng viên hải miền Trung và Tây Nguyên
như là Amavarati, Vijaya và Ariyaru.
Trong giai đoạn này, vua Lâm ấp đã cho xây dựng Amaravati
thành trung tâm văn hóa tôn giáo mới bằng gỗ,
gọi là thánh địa Hào Quang.
Nay là thánh địa Mỹ Sơn, Quảng Nam
và văn hóa Lâm ấp tỏa rộng khắp khu vực Đông Nam Á.
Dù vậy, kinh đô vẫn được đặt tại Kandapura,
ở vị trí mà ngày nay thuộc địa phận
phường Thủy Xuân và phường Thủy Biểu của thành phố Huế.
Tới năm 605 thì nhà Tùy chinh phục Lâm ấp,
thủ đô thất thủ và bất phần đất từ dãy Bạch Mã trở ra Bắc,
thì vua Lâm ấp mới rời đô về Sinhapura,
tức là thành phố Sư Tử.
Nay là trà kiệu cạnh sông Thu Bồn,
tuyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam,
cách thánh địa Mỹ Sơn khoảng hơn 10 km
và ông cho dựng lại một quốc gia mới,
đặt tên nước là Champa,
theo tên một loài hoa đẹp mọc nhiều ở miền Nam Trung Bộ.
Sự kiện này được Nam Sử gọi là Biệt lập kiến quốc,
nhưng trong sử sách Việt Nam,
thì mãi tới năm 877 mới ghi nhận cái tên này,
đồng thời cho dựng lại thánh địa Hào Quang
bằng gạch kiên cố hơn
để làm trốn níu giữ tâm linh cho thần dân.
Sau khoảng 10 năm từ khi mất cố đô Kandapura,
thừa thế nhà Tùy Xuy Yếu,
quân Lâm ấp đã phát động một chiến dịch
nhằm thu hồi các lãnh địa phương Bắc và thành công.
Các vua nối nghiệp sau đó
tiếp tục bành xưởng lãnh thổ về phía Nam,
vốn là nơi cư trú của thị tộc Cây Cao.
Thời kỳ Hoàn Vương Quốc
kéo dài từ năm 757
đến năm 859
hoặc là 875.
Mặc dù lãnh thổ vẫn tiếp tục mở rộng
về phía Nam, nhưng từ năm 629
Lâm ấp đã có biến loạn,
các vị vua kế cận liên tục tranh giành nhau ngôi báu.
Tới năm 757,
vai trò lãnh đạo của Lâm ấp chính thức kết thúc
đồng thời chấm dứt sự cai trị
của các vương triều miền Bắc.
Lúc này, các vương tôn miền Nam đã nổi lên
và tự xưng lạc Prithi Indravarman.
Việc làm đầu tiên của Prithi Indravarman
là rời đô từ Sinhapura
về Virapura,
nay được phòng đoán là phía Nam thành phố Phan Rang
Tháp Tràm và là một phần của huyện Ninh Phước,
tỉnh Ninh Thuận.
Tuy đất nước đã được thống nhất,
nhưng lãnh thổ lúc này vẫn chưa có tên,
nên khi sang Trung Hoa triều cống,
không biết sứ thần của Prithi Indravarman
đã giải thích thế nào mà sử liệu
Trung Hoa đã đặt tên lãnh thổ mới của người Trăm
trong thời kỳ này là Hoàn Vương Quốc.
Giới thời Prithi Indravarman,
văn minh và văn hóa Ấn Độ
từ phía Nam được đưa lên lần át
toàn bộ sinh hoạt của người Trăm ở phía Bắc.
Chữ Phạn được phổ biến rộng rãi,
đạo Bà La Môn được đông đào người theo.
Tuy nhiên với thời gian,
Hoàn Vương Quốc lại trở thành nạn nhân
của sự giàu có,
các thế lực lân bang liên tục tràn vào cướp phá.
Trong giai đoạn từ năm 774
đến năm 787,
vùng đất này liên tục bị người Java
tấn công, cướp phá và phá hủy
các ngôi đền.
Vương Quốc Champa,
năm 859 đến năm 1471.
Đây là thời kỳ chứng kiến
sự cực thịnh cũng như suy tản
của Vương Quốc Champa,
đồng thời là thời kỳ mà Champa,
Trân Lạp và Đại Việt có những cuộc tranh giành
ảnh hưởng rất khốc liệt.
Kết quả là Champa dần dần
phụ thuộc vào hai nước Trân Lạp và Đại Việt.
Cho đến năm 1471,
thì đã bị xâm nhập vào lãnh thổ
của Đại Việt dưới thời của vua Lê Thành Tông.
Cụ thể là khi vị vua cuối cùng
của Hoàn Vương Quốc
là vị Grand Tapaman Đệ Tam
qua đời vào năm 854 và không có người kế vị.
Cùng với đó là đế quốc Khơ Me
đã nhiều lần tiến đánh Hoàn Vương Quốc,
chiếm được nhiều vùng đất rộng lớn
dọc tảng ngạn sông Đồng Nai,
đôi khi còn băng qua cao nguyên Lang Biang
để đột nhập vào lãnh thổ Panduranga cướp Phá.
Thì vào năm 859,
triều đình đã chọn một người
thuộc thị tộc Cây Dừa ở miền Bắc lên kế vị.
Vị vua mới lên ngôi
có tên hiệu là Indra Vaman Đệ Nhị
đã cho giới đô từ Virapura ra miền Bắc
tại vị trí cách thánh địa Hào Quang
khoảng 20 km về phía Đông Nam
và đặt tên thủ đô là Indrapura.
Nhìn trên bản đồ
thì chúng ta có thể thấy được
vị trí của Indrapura nằm
ở trung tâm của khoảng Nam, Đà Nẵng.
Ba mặt đều là những dây núi lớn,
phía trước là biển, rất thuận lợi
trong việc phòng thủ và chống lại những cuộc tiến công
của quân Khmer và quân Nam Đảo.
Uy quyền của vương chiều Indrapura
trong giai đoạn này được nới rộng lên tới Tây Nguyên ngày nay.
Bà Lamôn Giáo là quốc giáo
nhưng Phật Giáo cũng rất thịnh hành.
Trong giai đoạn hơn 100 năm,
Champa dưới thời vương chiều Indrapura
đã phát triển rất rực rỡ,
nhiều công trình đền đài tráng lệ
và tu viện Phật Giáo đã được xây dựng
và Phật Viện Đồng Dương
chính là minh chứng rõ nét nhất cho thời kỳ này.
Cùng với việc giới đô,
thì ông cũng đã thành lập vương quốc Champa.
Tuy nhiên tên đầy đủ của vương quốc
là Champapura,
theo tiếng phạn cổ tức là đất nước của người Chăm.
Từ đây cái tên này chính thức được sử dụng
khi tôn vinh đất nước.
Tiếng Việt thường gọi là Chiêm Thành hay là Chiêm Bà,
tiếng Tây Phương là Champa.
Theo nhiều tài liệu thì lúc này,
Champa là tập hợp của 5 tiểu quốc
nhỏ hơn từ Bắc xuống Nam lần lượn
là Indrapura, Amaravati,
Vihaya, Kautara
và Panduranga.
Năm 889 và 890,
đế quốc Khmer tiếp tục tấn công
nhằm chinh phục Champa,
nhưng đều bị Indravaman đệ nhị đà bại.
Nhân cơ hội đó, Indravaman đệ nhị
đã đưa quân vào sâu trong lãnh thổ
đế quốc Khmer và chiếm được những nơi
hiện nay là Đồng Nai Thượng, Ratanakiri,
Mondukiri,
tức là khu vực phía đông sông Mekong.
Nhờ thế mà lãnh thổ Champa trong giai đoạn này
đạt tới mức cực đại.
Nhưng sự phục hồi mạnh mẽ sau đó
của hai quốc gia láng giềng là Đại Cổ Việt
ở phía Bắc và Đế quốc Khmer
ở phía Tây Nam đã đe dọa tới Champa.
Các cuộc chiến giữa Champa
và Đế quốc Khmer vào năm 1945
và Vương triều Tiền Lê,
tức là Đại Cổ Việt vào năm 1979
đã dẫn tới sự suy yếu của Vương quốc Champa.
Tiếp đó,
cuộc tấn công vào năm 1982
của Đại Cổ Việt do Lê Hoàn chỉ huy
đã tàn phá kinh thành Indrapura.
Sự kiện này được xem là sự mở đầu
trong công cuộc nam tiến
và đã đánh dấu sự kết thúc vai trò
kinh đô Indrapura của Champa.
Sau đó,
Champa chuyển đô về phía Nam
với tên gọi mới là Vihaya,
tức là thành phố chiến thắng,
còn có tên là Phật Thệ, Phật Thành
hay là Trà Bàn, Đồ Bàn,
nay là thị xã An Nhơn thuộc tỉnh Bình Định.
Toàn bộ vương tộc tại Indrapura
được đưa về Sripini,
tức là khu vực quy nhơn ngày nay,
vì nơi này ít bị uy hiếp hơn
khi có chiến tranh.
Trong thế kỷ thứ 10,
ngoài cuộc trinh phạt của vua Lê Đại Hành,
thì nhìn chung vương quốc Champa và Đại Cổ Việt
có mối quan hệ khá tốt đẹp.
Hai nước đã vạch ra danh giới tại Đèo Ngang,
phía Bắc là Đại Cổ Việt,
phía Nam là Champa.
Tới năm 1009,
khi vua Lý Công Uẩn lập nên Nhà Lý,
e ngại sức ảnh hưởng của vị vua này,
Champa đã sang chiều cống,
nhưng không được lâu thì hai nước lại xảy ra chiến tranh.
Năm 1021,
Thái tử Lý Phật Mã
đã đem quân đánh chiếm Ba Châu của Champa,
Lá Bố Chính, Điện Lý và Ma Linh,
đồng thời xám nhập vào lãnh thổ Đại Cổ Việt
và cử võ quan vào trần thủ.
Tới năm 1044,
viện cờ Champa không chịu chiều cống
từ hơn 16 năm qua
và còn quấy rồi lãnh thổ.
Vua Lý Thái Tông dẫn đại binh xuống đánh,
Champa bị thua to,
quân Đại Việt tiếp tục tiền xuống phía Nam,
chiếm đế đô Vihaja rồi rút về.
Hơn 20 năm sau,
vua Champa đã ổn định được nội tình trong nước
và chuẩn bị binh lực để tiến đánh Đại Việt.
Năm 1068,
quân Champa đánh vào các làng
của người Việt tại Ma Linh và Địa Lý,
đồng thời chiếm lại được Ba Châu,
Lá Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh.
Tuy nhiên chỉ được một năm,
tới năm 1069,
vua Lý Thánh Tông cùng với Lý Thượng Kiệt
mang quân và chiến thuyền vượt viện để chiếm Sribini
rồi tới đế đô Vihaja.
Vua Champa bị bắt làm tù binh,
sau đó phải xin dân ba vùng đất
ở phía bắc Champa cùng Bố Chính, Địa Lý
và Ma Linh để đổi lấy tự do.
Khu vực này là tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị
ngày nay. Nhà Lý sau đó
đã đổi tên Ma Linh thành Châu Minh Linh,
Địa Lý thành Châu Lâm Bình,
Châu Bố Chính được giữ nguyên tên.
Sau sự kiện này,
từ năm 1074 đến
năm 1220 là thời điểm chứng kiến
các cuộc xung đột giữa Champa và đế quốc Khmer.
Cụ thể thì
sau khi đất nước đã tạm ổn định,
vua Champa lại mang quân
sang đánh Đại Việt và giành lại phần lãnh thổ
đã nhượng bộ trước đó.
Nhưng tới năm 1076,
sau khi dẹp xong quân tống,
Lý Thường Kiệt tiến xuống chiếm lại vùng đất đó
và chiếm đóng luôn đế đô Vihaja.
Để quân Đại Việt rút về,
vua Champa đã phải chấp nhận chiều cống cho Đại Việt trở lại.
Thửa nước đục thả câu,
một hoàng thân của đế quốc Khmer
đã mang quân vào miền nam Champa
đồng thời chiếm đóng Panduranga.
Vua Champa khi đó đã yêu cầu nhà Lý giúp đỡ.
Lúc này mặc dù đã tuổi già sức yếu,
Lý Thường Kiệt vẫn phải thân chinh đi đánh dẹp.
Quân Khmer thua to bỏ chạy về nước.
Champa bắt đầu quá trình xây dựng lại.
Năm 1132,
viện cờ Champa không chịu hợp tác tấn công Đại Việt.
Đế quốc Khmer tiến quân một lần nữa
sang đất Champa.
Đế đô Vihaja bị chiếm.
Các hoàng thân của Champa lúc bấy giờ phải chạy qua Đại Việt.
Một số khác chạy đến các vùng phía Tây lãnh nạn.
Từ năm 1145,
Champa lần đầu nội thuộc Khmer,
lãnh thổ đế quốc Khmer lúc này
được nới rộng lên phía Bắc
từ Champa Sáp đến đèo Hải Vân.
Mặc dù lãnh thổ đã bị người Khmer chiếm,
nhưng do được người dân ủng hộ
nên các hoàng thân Champa đã tổ chức kháng chiến
chống lại người Khmer.
Năm 1148,
quân Champa đã đánh bại đế quốc Khmer
tại đồng bằng Kayep thuộc Virapura,
ngay là khu vực thành phố Phan Rang.
Một năm sau thì họ đã chiếm lại được thành Vihaja
và thống nhất lại đất nước.
Các vua đời sau tích cực xây dựng
đất nước hưng thịnh trở lại
và quyết tâm phục thủ người Khmer.
Năm 1170,
sau khi điều đình với Đại Việt giữ thế trung lập,
Champa tấn công đế quốc Khmer.
Cuộc chiến kéo dài một năm bất phân thắng bại,
sau cùng thì quân Champa phải rút về nước.
Tới năm 1177,
vua Champa đi thuyền
theo đường thủy vào chiếm Vranaga,
nay là khu vực thành phố Hồ Chí Minh
và tịch thu được nhiều chiến lợi phẩm,
đồng thời bắt kêu nhiều tù binh Khmer về nước.
Nhưng chỉ 13 năm sau,
đến năm 1190,
người Khmer tiếp tục trong quân đánh Champa
và chiếm được Vihaya.
Lúc này thì vương quốc Champa
bị chia thành hai tiểu vương quốc riêng Việt
là vương quốc Vihaya và vương quốc Vranaga.
Vào năm 1192,
thì lại hợp nhất thành vương quốc Champa.
Và đầu thế kỷ 13,
do nội bộ đơn nước chia rẽ,
Champa lại tiếp tục bị đế quốc Khmer xâm lược
và bị tái đô hộ trong suốt 17 năm.
Đến năm 1220,
do bị siêm la gây áp lực
tại chính quốc,
quân Khmer buộc phải rút khỏi Champa.
Nói chung là từ năm 1074
đến năm 1220
là thời điểm nên chính trị Champa
bị tác động mạnh mẽ bởi đế quốc đến từ phía tây nam.
Tuy nhiên, dấu ấn mạnh nhất
vẫn là những lần đại Việt,
sau này là đại ngu ăn miếng trả miếng Champa
từ năm 1244 đến năm 1458.
Những cuộc chiến tranh này
đã làm vương quốc Champa lần lượt mất đi lãnh thổ
và dân suy yếu dẫn tới sụp đổ.
