ĐẠT-LAI LẠT-MA LÀ AI? QUYỀN LỰC RA SAO?| BLV Hải Thanh History

ĐỒNG NAI TƯƠI ĐẸP
2K người theo dõi
247 Lượt xem video·5 thg 7, 2025
ĐẠT-LAI LẠT-MA LÀ AI? QUYỀN LỰC RA SAO?| BLV Hải Thanh History
Hôm nay chúng ta sẽ cùng nhau bước vào một câu chuyện dài,
một chuyến hành trình xuyên qua lịch sử văn hóa
và cả những biến động dữ dội của thế kỷ 20
để khám phá Đạt Lai Lạt Ma là ai.
Đây không chỉ là một câu chuyện về một con người
mà là về một truyền thống, một niềm tin,
một dân tộc đã chiến đấu để giữ gìn bản sắc của mình.
Trước hết, chúng ta cần hiểu Đạt Lai Lạt Ma
không phải là tên của một người cụ thể
mà là một danh hiệu mang ý nghĩa sâu sắc
trong Phật giáo Tây Tạng.
Từ Đạt Lai trong tiếng Mông Cổ có nghĩa là đại dương,
còn Lạt Ma trong tiếng Tây Tạng
có nghĩa là đạo sư hoặc là thầy.
Kép lại cái tên này như muốn nói,
đây là một vị thầy vĩ đại, sâu thẳm
và rộng lớn như biển cả.
Nhưng điều đặc biệt hơn là người này
mang danh hiệu được xem là hóa thân
của quá thế âm Bồ Tát, vị Bồ Tát
của lòng từ bi, người luôn lắng nghe
tiếng kêu cứu của nhân gian và giang tay cứu giúp.
Truyền thống này bắt đầu từ thế kỷ thứ 14
với một nhân vật có tên là
Ghendun Drup, người sau này
được công nhận là Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất.
Ông sinh vào cuối thế kỷ 14
trong một gia đình chăn nuôi ru mục
ở miền Trung Tây Tạng.
Từ nhỏ ông đã bộc lộ trí tuệ phi thường.
Ông gia nhập tu viện, trở thành
một học giả lỗi lạc của chồng Kealuk
tức Trường Phái Mũ Vàng,
một trong bốn nhanh lớn của Phật giáo Tây Tạng.
Nhưng lúc đó cái tên Đạt Lai Lạt Ma
chưa tồn tại.
Ông qua đời và người ta tin rằng
linh hồn ông đã tái sinh vào một đứa trẻ khác
người được xem là
Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 2.
Rồi đến đời thứ 3,
mọi thứ thay đổi.
Sonam Gyatso, một Lạt Ma xuất trúng
đã đưa danh hiệu này lên một tầm cao mới.
Năm 1578,
ông được mời đến gặp Atan Khan,
một vị vua hùng mạnh của người Mông Cổ.
Đây là người vốn ngưỡng mộ trí tuệ
và đức độ của Đức Đạt Lai Lạt Ma
đã phong cho ông
danh hiệu chính thức là Đạt Lai Lạt Ma.
Để tỏ lòng kính trọng,
danh hiệu này còn được truy phong ngược lại cho 2 vị tiền nhiệm.
Từ đây,
cái tên Đạt Lai Lạt Ma trở thành biểu tượng
của sự giao thoá giữa phần giáo Tây Tạng
và quyền lực chính trị.
Nhưng phải đến thế kỷ thứ 17,
với Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 5,
thì truyền thống này mới thực sự định hình.
Đây là một trong những Đạt Lai Lạt Ma vĩ đại nhất.
Với sự hậu thuẫn của người Mông Cổ,
ông không chỉ là lãnh đạo tinh thần
mà còn trở thành người cai trị tối cao
ở Tây Tạng.
Ông đã xây dựng cung điện Potala
biến nó trở thành trung tâm quyền lực
và tôn giáo.
Từ đây, Đạt Lai Lạt Ma không chỉ là một nhà sư
mà có thể được coi là một nhà vua
của một nhà nước thần quyền
nơi tôn giáo và chính trị đã hòa quyện chặn chẽ.
Nhưng có bao giờ bạn tự hỏi
làm sao người ta tìm ra
một Đạt Lai Lạt Ma hay không?
Đây không phải là chuyện đơn giản như bầu cử
hay chọn người kể nhiệm ở trong hoàng gia.
Trong phần giáo Tây Tạng,
người ta tin rằng khi một Đạt Lai Lạt Ma qua đời,
linh hồn của ông không biến mất
mà tái sinh vào một đứa trẻ mới sinh.
Nhiệm vụ của các Lạt Ma cao cấp
là tìm ra đứa trẻ ấy.
Vậy thì cách tìm ra là như thế nào?
Quy trình này nghe như
một bộ phim phiêu lưu pha lẫn
yếu tố siêu nhiên.
Đầu tiên, khi một Đạt Lai Lạt Ma qua đời,
thi thể của ông được bảo quản cẩn thận
và các nhà tiên tri bắt đầu tìm kiếm dấu hiệu.
Đôi khi, Đức Đạt Lai Lạt Ma
trước đó để lại lời tiên tri trước khi chết.
Ví dụ như
ta sẽ tái sinh ở hướng Tây
hay là ta sẽ tái sinh gần một dòng sông lớn chẳng hạn.
Nếu không có manh mối trực tiếp,
họ sẽ quan sát thiên nhiên,
hình dạng mây, hướng gió
hay giấc mơ của các Lạt Ma cao cấp.
Một nơi quan trọng trong việc làm việc này
đó là hồ Hamo Lasso,
một hồ nước linh thiêng ở Tây Tạng.
Người ta tin rằng mặt hồ có thể hiện lên
hình ảnh gợi ý về nơi hóa thân mới ra đời.
Khi đã có dấu hiệu,
một đoàn Lạt Ma bắt đầu hành trình thực tế.
Họ đi khắp các làng mạc
tìm những đứa trẻ sinh ra đúng thời điểm
vị Đạt Lai Lạt Ma trước đó qua đời,
thường trong vòng vài ngày hoặc vài tuần sau đó.
Đứa trẻ được chọn phải trải qua
những bài kiểm tra kỳ lạ nhưng đầy ý nghĩa.
Họ mang đến nhiều đồ vật
như là chuỗi tràng hạt, sách kinh,
cái chuông, cây gậy.
Trong đó có những đồ thật từng thuộc về Đạt Lai Lạt Ma trước đó
lẫn đồ giả để đánh lừa.
Nếu đứa trẻ chọn đúng đồ thật,
đó là dấu hiệu lớn.
Ngoài ra họ còn xem xét
lời nói, ánh mắt của đứa trẻ
như thể linh hồn cũ đang nhìn qua đôi mắt mới.
Tất nhiên lời nói ở đây
thì chưa thể nói được thành tiếng.
Quá trình này không chỉ dựa trên niềm tin
mà còn là một sự nghệ thuật tinh tế
kết hợp giữa tôn giáo, trực quan
và sự cẩn trọng.
Với người Tây Tạng, đây là một nghi thức thiêng liêng
là cách để họ tiếp nối truyền thống hàng trăm năm.
Và chính nghi thức này
đã dẫn chúng ta đến nhân vật chính
đó là Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14
Đó là ngày 6 tháng 7 năm 1935
trong một ngôi làng nhỏ
tại Thanh Hải, Tây Tạng.
Tại đây, một cậu bé trào đời
trong một gia đình nông dân nghèo.
Nhà cậu chẳng có gì đặc biệt.
Một mái nhà tranh lợp cỏ,
vài con bò giác
và cuộc sống đơn sơ giữa núi đồi.
Cha cậu là một người chăn nuôi chăm chỉ,
còn mẹ cậu là một người phụ nữ hiền hậu
nổi tiếng với lòng tốt ở trong làng.
Cậu là đứa con thứ 5 trong gia đình,
nhưng không ai ngờ rằng cậu bé này sẽ thay đổi
số phận của cả một dân tộc.
Chuyện bắt đầu vào năm 1933
khi Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13
qua đời ở tuổi 57.
Ông là một vị lãnh đạo mạnh mẽ
đã cố gắng hiện đại hóa Tây Tạng
và bảo vệ Tây Tạng khỏi sự nhòm ngó
của những thế lực bên ngoài.
Sau khi ông qua đời, các Lạt Ma cao cấp
lập tức bắt tay vào việc tìm kiếm hóa thân mới.
Họ tìm đến hồ nước Linh Thiêng
và trên mặt nước họ thể hiện lên
3 chữ cái Tây Tạng, A, K, Ma.
A được hiểu là vùng am đô,
K là một tu viện lớn
ở gần đó, còn Ma
là dấu hiệu mơ hồ cần giải mã thêm.
Ngoài ra họ thấy hình ảnh
một ngôi chùa 3 tầng với mái ngói vàng
và một con đường dẫn về phía đông bắc.
Thế là đoàn người đã lên đường
hướng về vùng đất xa xôi ấy.
Khi đến Ta Sơ,
họ dừng chân tại một ngôi nhà nhỏ,
chính là nhà của Đức Đạt Lai Lạt Ma tiếp theo.
Lúc này, cậu bé mới hơn 2 tuổi,
tóc ngắn, da dám nắng,
đang chơi đùa ngoài sân.
Để thử xem cậu có phải hóa thân thật hay không,
các lạt ma cải trang thành người lạ
và vờ hỏi đường.
Nhưng điều bất ngờ đã xảy ra.
Cậu bé nhìn họ, cười tuét tuét
rồi nói bằng giọng non nớt
Đây là người của ta.
Như thế nhận ra họ từ một ký ức xa xôi nào đó.
Các lạt ma sững sờ,
nhưng họ vẫn tiếp tục kiểm tra.
Họ mang đến một loạt những đồ vật,
chuỗi tràng hạt đen thuộc về
Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13,
một cái chuông nhỏ, một cái gậy gỗ
và vài món đồ giả để đánh lừa.
Cậu bé không chút do dự,
cầm ngay chuỗi tràng hạt đen và nói
Cái này là của ta. Rồi cậu chọn tiếp cái chuông và cây gậy.
Tất cả đều là đồ thật.
Một đứa trẻ 2 tuổi,
chưa từng ra khỏi làng, làm sao biết được.
Với các lạt ma,
đây là bằng chứng không thể trôi cãi.
Năm 1937,
người chính thức được công nhận là Đạt Lai Lạt Ma
thứ 14. Cả gia đình được đưa đến
thủ phủ của Tây Tạng trong một cuộc hành trình
dài hàng tháng trời qua núi non hiểm trở.
Cậu bé được đặt tên mới
Tenzin Gyatso và bắt đầu
một cuộc đời hoàn toàn khác biệt.
Hãy tưởng tượng, bạn là một đứa
trẻ 2 tuổi, rời xa vòng tay mẹ,
rời xa đồng cỏ thân quen để
bước vào Cung điện Potala,
một công trình đồ sộ với hơn 1.000 phòng
nằm tranh vinh trên đỉnh đồi.
Với Tenzin Gyatso,
đó là thực tế. Cung điện này không chỉ là
nhà mà là trung tâm quyền lực của Tây Tạng
nơi cậu được nuôi dưỡng để trở thành
một lãnh đạo tối cao. Nhưng đừng
nghĩ rằng cậu sống như một hoàng tử sung sướng.
Cùng đời cậu từ nhỏ đã bị gò bó
với trách nhiệm. Mỗi ngày cậu dạy
từ sớm, học kinh Phật với những Lạt Ma
nghiêm khắc. Họ dạy cậu mọi thứ
từ triết học Phật giáo, logic,
đến thơ ca, thiên văn học, cả nghệ thuật
tranh luận, một kỹ năng quan trọng trong
truyền thống. Cậu phải học thuộc lòng
hàng trăm trang kinh, hiểu những khái niệm
triều tượng mà ngay cả người lớn cũng
thấy khó. Nhưng
Tenzin Gyatso không phải là một cậu bé chỉ
biết văn lời. Ông có một tuổi
thơ nghịch ngợm theo cách rất riêng.
Ông thích tháo đồng hồ, sửa
máy móc, thậm chí từng lén lấy
xe đạp của người Hầu để mây mò.
Có lần ông dùng kính viễn vọng một món
đồ hiếm hoi ở Tây Tạng lúc bấy giờ
để nhìn xuống đường phố, tò mò xem
người dân sống ra sao.
Dù vậy, tuổi thơ của ông đã bị cắt ngắn
vào năm 1950, khi
mới 15 tuổi. Trung Quốc đã đưa
quân vào Tây Tạng, tuyên bố giải phóng
vùng đất này khỏi chế độ phong kiến.
Trước áp lực từ quân đội Trung Quốc, các Lạt Ma
và quan chức Tây Tạng quyết định để nhanh
lễ lên ngôi, Tenzin Gyatso
chính thức trở thành Đạt Lai Lạt Ma thứ 14,
lãnh đạo tối cao của Tây Tạng.
Đó là một hành trình rất tróng vánh.
Từ năm 50 đến năm
59, ông đã cố gắng duy trì hòa bình.
Ông từng đến Bắc Kinh năm 1954,
gặp Mao Trạch Đông, hy vọng
đàm phán để Tây Tạng giữ được quyền tự trị.
Mao Trạch Đông tỏ ra
thân thiện, nhưng kế hoạch với Tây Tạng
thì đã được vạch sẵn.
Không còn lựa chọn, năm 1959,
Tenzin Gyatso cải trang
thành một người lính thường, khoác áo tràng sám,
đội mũ che mặt, cùng vài cận vệ
đã rời khỏi Tây Tạng.
Hành trình này là một kỳ tích. Họ vượt qua dãy
Himalaya trong đêm tối, đối mặt với
tuyết lạnh, gió rét và nguy cơ bị phát hiện.
Có lúc họ trốn trong hang đá,
ăn lương khô, uống nước tan từ tuyết.
Sau hai tuần gian nan,
họ đến được biên giới Ấn Độ,
và cuối cùng đã đặt trên đến Haramsala,
nơi sẽ trở thành ngôi nhà mới của ông.
Tại đây, ông thành lập
chính phủ Tây Tạng lưu vong, cố gắng
bảo vệ văn hóa và bản sắc của người Tây Tạng.
Ông xây dựng trường học, tu viện
và cộng đồng cho hàng chục nghìn người tị nạn
theo ông sang Ấn Độ. Nhưng ông cũng nhận ra
rằng, trong thế giới hiện đại, một nhà nước
thần quyền không còn phù hợp.
Năm 2011,
ông đưa ra quyết định lịch sử,
từ bỏ vai trò chính trị, trao quyền cho một chính phủ
dân cử.
Từ đó, ông tập trung vào vai trò tinh thần.
Ông đi khắp thế giới, Mỹ, Châu Âu,
Nhật, Úc, gặp gỡ các nhà lãnh đạo,
các nhà khoa học và cả người dân thường.
Ông nói về hòa bình,
về sự tha thứ, về cách sống hài hòa
với thiên nhiên. Năm 1989,
ông nhận giải Nobel Hòa Bình
vì những nỗ lực không mệt mỏi ấy.
Đến năm 2025,
ông đã 89 tuổi.
Ông vẫn sống ở Ấn Độ trong một ngôi nhà nhỏ giản dị,
không xa hoa như cung điện
Potala ngày xưa.
Mỗi ngày, ông dậy từ 3 giờ sáng, thiền định,
đọc kinh, làm việc.
Dù cao tuổi, ông vẫn giữ nụ cười hiền hậu
và sự hài hước đặc trưng.
Ông vẫn đi lại nhiều,
dù sức khỏe không còn như trước.
Ông quan tâm đến biến đổi khí hậu, đối thoại
giữa các tôn giáo và sự giao thoa
giữa khoa học và tâm linh.
Ông cũng ý thức được rằng, thời gian của ông
cũng không còn nhiều.
Ông thường nhắc đến cái chết với sự bình thẳng.
Câu hỏi lớn nhất được đặt ra bây giờ là
Sau ông, điều gì sẽ xảy ra?
Ông từng nói, ông có thể là Đức
đạt Lai Lạt mà cuối cùng
hoặc hóa thân tiếp theo
có thể sinh ra ở nước ngoài,
không phải Tây Tạng.
Đó là một hành trình đầy thú vị,
nhưng cũng có nhiều câu chuyện lịch sử hấp dẫn không kèm.
Cảm ơn vì đã quan tâm theo dõi câu chuyện này.
