KHÚC MỞ ĐẦU|LẮNG NGHE CHUYỆN CŨ|SAU BÓNG THỜI GIAN

Nguyễn Hồng Trường
98 Người theo dõi
78 Lượt xem video·8 thg 7, 2025
Hồ Động Đình – một cái tên nghe lênh đênh như khói sương, mênh mang như mộng tưởng. Nơi ấy, nước không chỉ là nước, mà còn là kính chiếu hậu của lịch sử, nơi phản chiếu những khuôn mặt từng sống, từng mất, từng biến vào huyền thoại...
Có kẻ gọi đó là vùng đất cuối cùng của người Bách Việt – những bộ tộc sống chan hòa với sông núi, lấy cây cỏ làm bạn, lấy trời đất làm nhà. Khi các đế chế phương Bắc dâng lên như thủy triều, người Bách Việt cứ thế lui dần về phương Nam – từng bước, từng bước...
Nhưng một người đã ở lại.
Không lui, không chạy. Chỉ ngồi yên bên hồ Động Đình, lặng lẽ như một bóng cây lâu năm, rễ bám vào lòng đất, mắt dõi theo những đàn chim bay về phương Nam không hẹn ngày trở lại.
________________________________________
Xin chào bạn, người đang lắng nghe giữa nhịp đời gấp gáp.
Tôi là Sau Bóng Thời Gian, kẻ giữ những mảnh vỡ lấp lánh của dĩ vãng,
đi nhặt từng câu chuyện cổ vừa kịp vụt qua ánh hoàng hôn ký ức.
Hôm nay, mời bạn cùng tôi lân dở lại một huyền thoại,
chương đầu tiên trong hành trình truyền kỳ mở nước của dân tộc.
Mở đầu, hồ nước và ký ức.
Hồ Động Đình, một cái tên nghe lênh đênh như khói xương,
mênh măng như mộng tưởng.
Nơi ấy, nước không chỉ là nước,
mà còn là kính chiếu hậu của lịch sử,
nơi phản chiếu những khuôn mặt từng sống,
từng mất, từng biến vào huyền thoại.
Có kẻ gọi đó là vùng đất cuối cùng của người Bách Việt,
những bộ tộc sống tran hòa với sông núi.
Lấy cây cỏ làm bạn,
lấy trời đất làm nhà.
Khi các đế chế phương Bắc dâng lên như thủy triều,
người Bách Việt cứ thế lui dần về phương Nam,
từng bước, từng bước,
như một người đã ở lại.
Không lui, không chạy,
chỉ ngồi yên bên hồ Động Đình,
lặng lẽ như một bóng cây lâu năm,
dễ bám vào lòng đất,
mắc giói theo những đàn chim bay về phương Nam không hẹn ngày trở lại.
Người ấy là ai?
Không ai nhớ tên thật của ông.
Người dân quanh vùng chỉ gọi ông là bóng đợi,
một cách gọi nửa kính trọng, nửa thương sót.
Ngày trẻ, ông là người dũng cảm bậc nhất,
từng dạy người trong làng cách làm bè vượt sông,
làm trống đồng gọi thần linh,
làm nỏ bắn ra tiếng sấm.
Nhưng rồi một ngày, ông nói,
ta không thể đi,
ai đó phải ở lại để giữ lửa.
Người ta hỏi ông giữ lửa gì?
Ông đáp, lửa từ trống đồng,
lửa từ lời mẹ dặn trước khi mất,
lửa từ giấc mơ một ngày họ quay về,
ngọn lửa chờ đợi.
Mỗi ngày, ông ngồi bên bờ hồ,
tay không hơ lên lửa, mà hơ lên gió,
hơi ấm không đến từ than củi,
mà từ ký ức.
Ông kể chuyện cho lũ trẻ về những ngày thần rồng
từ biển đông đến cưới nàng tiên ở núi,
về trăm trứng nở ra trăm con,
về lời chia tay không nước mắt,
chỉ có lời hẹn khi non sông cần,
máu sẽ tìm nhau,
tượng đá và ký ức cuối cùng.
Trước khi mất,
ông dựng một tượng đá nhỏ bên hồ,
không khắc tên,
không để lời,
chỉ khắp một hình ảnh bọc trứng đang nở
và những con người bé nhỏ bước về hai phía,
một bên là rừng,
một bên là biển.
Người đời sau không ai dám phá tượng,
ai đi ngang cũng cuối đầu,
như thế đang đi ngang một ngọn đèn chưa tắt.
Và rồi,
theo truyền thuyết,
một người con của ông hay học trò,
hay cháu chắc đã vượt rừng,
qua núi,
tìm đến vùng đất nghĩa lĩnh,
nơi một hùng vương đang dựng cột đá thể với núi.
Sau bóng thời gian thầm thì,
có những người không cần lập quốc,
chỉ cần giữ lửa.
Có những chuyện không có hồi kết,
nhưng vẫn nên được kể,
để chúng ta biết mình đã từng từ đâu.
Ngay giờ đây,
chúng ta đến với
lạc long quân và âu cơ,
dòng máu chia đôi từ biển và rừng.
Nếu có một khởi nguyên nào cho dân tộc,
thì đó không phải là một cuộc trinh phạt,
không phải một bản hiến trương,
càng không phải một chiến thắng trên chiến trường,
mà là một cuộc gặp gỡ giữa biển cả và núi rừng.
Giữa dòng và tiên,
giữa người mang gió mặn và người mang sương mù.
Nơi biển hát,
chàng lạc long quân xuất thế.
Bên bờ Nam Hải,
nơi sóng trắng như bông và gió cuộn như vó ngựa,
có một người đàn ông không giống người trần.
Chàng là lạc long quân,
con trai kinh dương vương và thần nữ long nữ,
người có thể gọi sóng dậy bằng tay,
khiến mây kéo đến bằng lời nói.
Chàng đi khắp nơi,
trừ yêu diệt quái.
Người dân gọi chàng là cha rồng,
không chỉ vì huyết thống,
mà vì lòng nhân từ vĩ đại.
Nơi xương ngủ có mẹ Âu Cơ hiện hình.
Ở rừng núi phương Bắc,
có nàng tiên xuống trần.
Âu Cơ,
con gái vua Đế Lai,
mang vẻ đẹp của xương sớm.
Một đêm nằm mộng,
nàng thấy những đứa trẻ mặt người đuôi rồng gọi mình là mẹ.
Sau đó,
nàng xuống đồng bằng,
thấy dân chúng khổ cực,
bị yêu quái quấy nhiễu.
Trong một lần bị xích hùng bắt giữ,
nàng được lạc long quân cứu sống.
Ánh mắt gặp nhau,
một bên là biển sâu,
một bên là mây núi.
Và từ đó,
khởi nguyên bắt đầu,
cuộc hòa duyên giữa hai thế giới.
Không đám cưới linh định,
chỉ có một lời hứa dưới trăng và sóng,
rằng sẽ cùng nhau sinh ra một giống nổi biết yêu đất,
thương trời.
Nàng sinh ra một bọc trăm trứng,
trăm trứng nở ra trăm người con khỏe mạnh,
tóc mây,
mắt sâu,
trí tuệ sáng ngời.
Lạc long quân chỉ nói,
chúng là con của biển và rừng,
cũng sẽ trở thành con của đất này.
Chia ly quy luật khởi đầu của dân tộc.
Một ngày,
lạc long quân nói,
ta vốn thuộc về biển cả,
nàng thuộc về núi rừng.
Nay con đã trưởng thành,
ta xin mang năm mươi con xuống phương Nam,
về nơi nước mặn.
Nàng mang năm mươi con lên non,
giữ lửa rừng.
Không ai oán trách,
họ chia tay như hai dòng chảy,
cùng dẫn máu về một nơi duy nhất,
hồn nước Việt.
Từ một trong những người con ấy,
xuất hiện người không làm vua bằng gươm giáo,
mà bằng một lời thề với núi cao.
Ngọn núi gọi là Nghĩa Lĩnh,
đất ấy là Phong Châu,
người ấy Hùng Vương.
Có những chia tay là để giống nòi trưởng thành,
có những huyền thoại,
không phải để tin,
mà để nhớ rằng ta từ đâu đến.
Nếu bạn thấy câu chuyện này xứng đáng được nhớ,
xin hãy để lại một dấu yêu.
