"Sự Khai Sinh Của Đế Chế Tàn Bạo Nhất Thế Giới | Mông Cổ Từ Thảo Nguyên Tới Tro Bụi Tập 1
Một đứa trẻ không giày, ăn máu cá để sống sót... đã trở thành cơn ác mộng của toàn bộ lục địa Á – Âu. Làm sao một dân tộc bị coi là man rợ, sống giữa băng tuyết và đói khát… lại có thể dựng nên đế chế trên đất liền lớn nhất trong lịch sử loài người? Bạn sẽ chứng kiến: – Thiết Mộc Chân trỗi dậy từ tận cùng đáy xã hội – Những cuộc thanh trừng đẫm máu trong gia tộc – Và trận chiến mở đầu cho cơn bão Mông Cổ khiến cả thế giới run rẩy. Đây không phải là lịch sử kiểu sách giáo khoa. Đây là khởi đầu của một đế chế tàn bạo, được sinh ra từ phản bội, máu đỏ và nỗi thù truyền kiếp.
👍 CD Media - Khám Phá là nơi mở ra cánh cửa tri thức về những bí ẩn, câu chuyện kỳ thú và những hiện tượng chưa được giải đáp trong thế giới xung quanh chúng ta. Dựa trên việc tham khảo các nguồn thông tin phong phú và đa dạng, kênh kết nối những kiến thức và quan điểm khác nhau, giúp khán giả có được cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về những bí mật từ tự nhiên, khoa học, vũ trụ, con người,….
Một đứa trẻ sinh già trên Thảo Nguyên Hoàng Giã, không có dây để đi, không có gia tộc để nương tựa,
bị phan bội và ruộng bỏ, sống sót nhờ máu cá và dễ cành.
Nhưng chính cầu bài ấy đã trở thành người đứng đầu đội quân khiến cả thế giới run rảnh.
Đó chính là câu chuyện của Thành Cát Tử Án và sự khởi nguồn của đế chế Mông Cổ
từ Thảo Nguyên Khô Cảnh đến những ngày Tháng Chinh Phục gần như toàn bộ lục địa Á Âu.
Kết nối văn minh Trung Hoa, Ba Tư, Trung Đông và Châu Âu theo một cách chưa từng có.
Thảo Nguyên Á Âu là hệ sinh thái cỏ dại liền mạch lớn nhất từng tồn tại,
chiếm gần một phần năm diện tích bề mặt trải đất.
Từ Hungary, Ba Lan ở Đông Âu, nó trải hơn 8.000 km qua núi Non, Đồi Thấp, Hồ Mạn, Samarkand
và nhiều dòng sông trước khi chạm tới Trung Quốc phía Bắc và rừng rậm mãn châu ven Thái Bình Dường.
Khi ở khu vực này khô lạnh, ít mưa, không đủ ẩm cho rừng rậm hay cây gỗ phát triển,
khiến đất đai khô cằn, tham thực vật nghèo nản.
Chỉ những loài cỏ thấp, chiều hạn tốt mới sinh trưởng được trên mặt đất rộng lớn và băng phẳng này.
Nhưng đây chính là điều kiện lý tưởng cho các loài động vật ăn cỏ
có kích thước lớn như linh dương, bò rừng hay vòi ma mút, sinh sống và di chuyển thành đàn khổng lồ.
Cách đây khoảng 40.000 năm, những con người đầu tiên bắt đầu xuất hiện trên thảo nguyên Bảo Lã ấy.
Họ sống nhờ vào sự hào phóng của thiên nhiên qua hoạt động săn thú, hái quả và lang thang qua nhiều miền cỏ mênh mộng.
Trong đó có một loài thú vô cùng đặc biệt trong đời sống người dân bản địa ở đây.
Đó là ngựa, vốn có nguồn gốc từ Bắc Mỹ, rồi di cư đến lục địa Á Âu qua rải đất nối liền giữa các châu lục.
Chẳng bao lâu sau, loài động vật ấy đã gắn bó không thể tách rời với cuộc sống con người.
Ban đầu chúng được nuôi để lấy thịt như những con giả súc khác.
Nhưng khoảng 5.000 năm trước, dấu tích về việc cưỡi ngựa đã bắt đầu xuất hiện.
Việc tuần hóa loài vật này đã thay đổi hoàn toàn nhịp sống trên thảo nguyên.
Khi còn di chuyển bằng chân, dân ru mục chỉ có thể đưa đàn vật đi vài chục kỳ số mỗi ngày.
Nhưng khi có ngựa, khoảng cách ấy nhần lên nhiều lần.
Thêm vào đó, việc sang chế bánh xe giúp cư dân chở theo người già, trẻ nhỏ và đồ đạc mà vẫn giữ nhịp sống linh hoàng.
Nhưng ai liều có thể dỡ xuống và dừng lại bất cứ lúc nào, trở thành biểu tượng cho lối sống ru mục.
Khoảng 4.000 năm trước công nguyên, một nhóm người ấn nâu, nguyên thủy rời vùng thảo nguyên phía tây, mang theo ngựa và chiến xa.
Họ tòa đi khắp lục địa, để lại dấu ấn của ngôn ngữ.
Thứ duy nhất còn vang vọng cho đến hôm nay.
Ví dụ như equest trong là tình, hippos trong hy lạp, hay mare trong tiếng Anh, đều bắt nguồn từ ngữ hệ ấy.
Ngay cả chữ ma trong tiếng Trung hay mo ở Mông Cổ cũng có âm hưởng tương đồng đặc biệt.
Người Hy Lạp gọi họ là Scythians, những kỳ sĩ không thành quách, sống trên xe, chiến đấu từ lưng ngựa, nhưng khiến các xã hội định cư khác phải dẻ trường.
Bởi ngay cả khi yếu hơn về công nghệ, dân tộc này vẫn là thế lực không dễ bị khuất phục.
Vào cuối thế kỷ thứ tư, khi đề chế La Mã giạn nứt bởi tranh gianh quyền lực nội bộ, các kỳ sĩ phương Bắc bất ngờ tràn xuống.
Họ được gọi là Người Hung, một trùng tàu khoang giã chưa từng có theo cách nói của một số học giả thời kỳ bấy giờ.
Những người này không để râu, thân hình giáng chắc, mạnh mẽ, và cũng chẳng có nhà cửa.
Con cháu của họ khi được hỏi về quê hương đều lắc đầu.
Vì chúng được thay nghé một nơi, sinh ra nơi khác, và lớn lên tại vùng đất xa hơn nữa.
Ở phía đông, người Trung Hoa cũng không tránh khỏi nỗi ám ảnh bởi các tộc dù một phương Bắc.
Dưới triều Hán, Người Hung nô liên tục cây hấn dọc biên giới trong suốt thiên niên kỷ đầu công nguyên.
Nhiều học giả còn cho rằng họ có thể chính là tổ tiên hoặc thân thích xa xưa của Người Hung từng đe dọa La Mã sau này.
Sự ra Trung Quốc thời Hán, từ mã thiên, từng mô tả họ như sau.
Hung nô là dân tộc man rợ miền núi, di chuyển liên tục để tìm nước và đồng cỏ.
Không thành quách, không nơi cố định, cũng chẳng làm đồng.
Họ mặc giá thú, dùng lông hoặc nỉ làm áo, cũng chẳng có chữ viết.
Mọi cam kết chỉ nói miệng.
Trẻ con bắt đầu cưỡi cừu từ bé, tập bán chim và chuột bằng cùng tên.
Vì thế khi lớn lên, tất cả thành niên đều có thể trở thành kỵ binh thiện chiến.
Vào khoảng thế kỷ IV, các dân tộc Thảo Nguyên còn sang chế ra dây bàn đạp đỡ chân, giúp người cưỡi ngựa giữ thăng bằng khi ra trận.
Một văn sĩ thời Trung Đại Trung Hoa từng ghi lại hình ảnh đáng sợ ấy.
Khi họ phì nước đại, thân người không chạm yên, luôn đứng thẳng trên bàn đạp.
Tốc độ như gió giật, sức mạnh tựa núi đổ.
Lướt trái chém phải như đôi cánh xé trời.
Trung bắn cùng với lực mạnh đến mức xuyên thủng cả áp dọc sắt.
Với các nền văn minh nằm ven rìa Thảo Nguyên, từ Trung Hoa đến Ấn Độ, từ Ba Tư sang Trung Đông và Đông Âu.
Tộc Dương Mục luôn là mối đe dọa lạ lùng, đáng sợ và khó hiểu.
Có những khoảng thời gian họ sẽ bị chia rẽ nội bộ, hoặc chịu khuất phục bằng bạo lực hay ngoại giao.
Nhưng cứ sau vài thế kỷ, tất cả lại đoàn kết thành khối.
Rồi Âu A Tran xuống, tan phá, chiếm đóng và làm dung chuyển cho tự cứu.
Đến cuối thế kỷ thứ 12, lịch sử nhân loại chứng kiến sự trỗi dày của dân tộc Mông Cổ đến từ phía đông của Thảo Nguyên Hoàng Vũ.
Ban đầu họ chỉ là một trong số nhóm người sống giải giác khắp vùng.
Họ nói các phương ngữ Tất Cổ và tiếng Mông Cổ, thơ đủ loại thần linh khác nhau.
Dẫu đa dạng, họ vẫn chia sẻ cùng một kiểu sống, tuần theo nhiệm điệu tự nhiên của đất trời.
Vào mùa mưa rơi, đông cỏ trở nên xanh mứt khắp chân trời.
Đàn ra súc của dân du mục được trăn thạt tự do giữa thiên nhiên chú phú.
Còn khi mùa đông khô lạnh tràn xuống, họ lại di chuyển về phương Bắc, nơi chân núi có các thùng lũ xanh dọc bóng.
Giữa thảo nguyên, nơi cư chú phổ biến là những chiếc lều dựng bên dòng nước và đông cỏ tươi tốt.
Người Mông Cổ gọi chúng là gơ, có thiết kế hình tròn, khung làm từ gỗ dẻo, phù nì ép từ lùng cừu.
Loại lều này giữ nhiệt tốt, tháo lắp dễ dàng khi cần di chuyển.
Khi rời chạy, họ chất toàn bộ lên những cỗ xe lớn.
Ban đêm, đoàn lước hành thường xếp thành vòng tròn, tạo thành tương tráng trống cướp và thú dữ.
Lều luôn quay về hướng Nam để đoán ánh mặt trời, bên trong vị trí ngồi phân cấp theo vài vế.
Trung tâm lều là bếp lửa với nguyên liệu đốt từ phần dê khô, không khói, tỏa mùi thơm như lá cháy.
Thịt, sữa, bơ và sản phẩm khác từ đàn gia súc chính là nguồn sống bền vững giữa Hoàng Giá.
Những gì thảo nguyên không cung cấp như tờ lụa, bạc, nội thất, họ sẽ trao đổi với phường Nam.
Đổi lại, người du mực mang lòng thú quý, gia súc, chim săn và gia thuộc từ miền Bắc để bán.
Ngựa là thầy sản quý nhất, thứ duy trì cả kinh tế, quy tín và quyền lực.
Nhờ đối ngũ kỳ binh hùng hậu, các bộ tộc phía Nam như Khất Nhan hay Thát Đát đã giữ vững quyền cai quản cả một vùng rộng lớn.
Nhưng ngược lại, người Mông Cổ lại là kẻ yêu thế trên thảo nguyên.
Họ tồn tại trật vật ở phía Bắc, nơi núi cao giáp rừng Siberia bất tận hiếm cỏ và không thể nuôi đàn vật lớn.
Vì vậy, họ phải bổ sung khẩu phần bằng cách săn nai, bắt thú nhỏ như sóc đất, hái hạt thông và đánh cá ven sông.
Sự gia ba tư thầy trung đại Atamalik Juveni từng ghi lại tình cảnh đáng thương của dân tộc này.
Họ không có thủ lĩnh chung, mỗi thị tộc sống riêng biệt, thiếu đoàn kết và luôn mâu thuẫn với nhau.
Cư dân mặc áo làm từ da chó hoặc chuột, ăn thịt những loài động vật đó và thậm chí là cả xác thú chết.
Rượu họ uống là sữa ngựa đã lên men, món tráng miệng là trái cây từ một loại cây giống như thông rừng.
Dấu hiệu cho thấy ai là đại vương là khi người đó sở hữu bàn đạp bẳng sắc.
Từ chi tiết đó có thể dùng đời sống thiếu thốn và khắc nghiệt của người Mông Cổ.
Họ là một trong những cộng đồng rơi rạc và phân tán nhất trên Thảo Nguyên.
Trong khi nhiều nhóm khác đã sớm hình thành nền liên minh, tiếp tục văn hóa từ các xã hội định cư lân cận,
thì người Mông Cổ vẫn giữ tín ngưỡng bản địa, không chấp nhận ảnh hưởng ngoại lại.
Họ thờ nữ thần đất mẹ và chúa tể bầu trời Tengri, ngựa ở vùng quanh hồ nước ngọt khổng lồ Bai Can.
Và chính nơi đây cũng là điểm khởi đầu trong thân thoải của dân Mông Cổ.
Trong huyền sử của họ, dòng giống vương giả đầu tiên được khởi sinh từ sự kết hợp giữa một con xoài xanh phương bắc và một con nai cái đỏ.
Trải qua 11 thế hệ, một người phụ nữ tên Alangua sinh hạ được 5 người con trai.
Khi giữa họ xảy ra bất hòa, bà đưa mỗi người một mũi tên, tất cả đều bẻ gãy dễ dàng.
Sau đó bà buộc 5 mũi thành bó, yêu cầu các con thử lại, nhưng chẳng ai bẻ nổi.
Từ đó câu chuyện đã trở thành kim chỉ nam sống còn giữa thẳng nguyên dữ dội, nơi gia tộc đoàn kết thống nhất là sợi dây sinh tồn duy nhất.
Và không có cá nhân nào phản ánh chân thực điều ấy hơn là thiết mộc chân.
Ông bắt đầu từ đáy xã hội, chẳng có gì trong tay, nhưng rồi thay đổi lịch sử toàn thế giới.
Câu chuyện của thiết mộc chân phải bắt nguồn từ người mẹ Ha Ngạch Luân của bộ tộc Ôn Cát Nhĩ.
Vào cuối thế kỷ 12, sau khi thành thân với Chí Lữ, chiến binh của Miệt Nhi Khất, nàng đã cùng chồng trở về doanh trại.
Trên đường đi họ băng qua lãnh thổ của Giá Tốc Cai, một thủ lĩnh Mông Cổ đang xả sút.
Khi nhìn thấy Ha Ngạch Luân, người này lập tức say đắm.
Dù đã có vợ, ông vẫn quyết đoạt lấy nàng ta.
Giá Tốc Cai gọi hai em trai, phóng ngựa truy sát đoàn người, buộc Ha Ngạch Luân phải văn chồng hãy tháo chạy.
Từ khoảnh khắc đó, nàng bị bắt và trở thành vợ của thủ lĩnh này.
Chẳng bao lâu, Ha Ngạch Luân cũng sinh cho ông một bé trai, được đặt tên là Thiết Mộc Trần.
Truyền thuyết kể rằng, đứa trẻ khi sinh ra đã nắm chặt trong tay một cục máu như điểm báo về định mệnh của chiến binh vĩ đại trong tương lai.
Ngay từ khi còn nhỏ, cậu bé đã bục lộ tài năng thiên bẩm, thành thạo bán cung, cưỡi ngựa và thạc cầu.
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Thiết Mộc Trần và gia đình chẳng mấy hòa thuận.
Bê Ca, con cả của Giá Tốc Cai, thường miết thị cậu bé là kẻ ngoại lai.
Năm lên 9, Thiết Mộc Trần được cha đưa đi hỏi vợ để khóa giải mâu thuẫn trong nhà.
Tuy nhiên, trên đường trở về thì Giá Tốc Cai bị trúng động rồi bất mạng.
Sau cái chết ột ngột của vị thủ lĩnh, gia tộc tàn giã, Ha Ngạch Luân cùng các con bị bỏ lại giữa thảo nguyên giá lạnh.
Tưởng chừng không sống nổi qua mùa đông, nhưng nhờ ý chí kiên cường của người mẹ.
Lúc trẻ vượt qua đói rét bằng dao dại, cá nhỏ và lòng đoàn kết.
Nhưng mâu thuẫn vẫn ở Mỹ trong gia đình này, khi Bê Ca thương xanh hết phần ngon cho bản thân
và coi y muốn cưới mẹ kế để nắm quyền hành.
Cuối cùng, Thiết Mộc Trần và em trai ca sát nhì ra tay sát hại hình trưởng,
trông ngòi cho bi kịch đầu tiên trong hành trình trở thành thành cát tự hãn của ông.
Khi hè về, bô tộc tháp tháp nhĩ, quay lại và chết lạng khi thấy hang ạch Luân cùng lũ trẻ vẫn sông sót.
Điều này khiến họ bất an, bởi những đứa bé từng bị bỏ rơi này đã lớn, có thể nuôi mộng bảo thủ.
Nghe tin Thiết Mộc Trần giết anh cùng cha khác mẹ, họ viên cơ đó để truy sát cậu.
Thiếu niên ấy phải trốn lên núi Buran Kalun, lần khuất giữa rừng rậm u tối và đá núi lầm trở.
Nhưng cuối cùng Thiết Mộc Trần vẫn bị bắt và trở thành nô lệ.
Dù tù nhục nhưng không khuất phục, cậu núng đầu ý trí để trở về bên hôn thê đã hứa cả năm xưa.
Trong một buổi tiệc mùa hè của tháp tháp nhĩ, cậu đánh ất lính gác rồi lao mình xuống sông Ngô Nôn trốn trại.
Dòng nước lạnh bút đưa Thiết Mộc Trần trôi xa và đưa gia đình Mục dần cứu giúp.
Năm 16 tuổi, cậu trở lại, cưới ngựa đi đón người con gái bột nhí thiếp nằm xưa.
Họ kết hôn và sống bên dòng Ngô Nôn, tưởng như sẽ trọn đời yên ấm giữa khẳng nguyên lộng gió.
Nhưng định mệnh không cho phép.
Khi Thiết Mộc Trần đi săn, bộ tộc Mơ Kít bất ngờ tấn công, thiêu trại, cướp tài sản và bắt bột nhí thiếp đi.
Do yêu thế, Khang không thể tự mình giành lại vợ.
Cơ hội duy nhất là tìm đến Chát Mộc Hợp, người bạn cũ, nay đã thành dũng tướng của tộc Khả Địch.
Với sự trợ giúp ấy, Thiết Mộc Trần đã cứu được vợ mình.
Nhưng khi ấy, nàng đang mang thai, không ai biết cha đứa bé là ai.
Dù vậy, Thiết Mộc Trần đặt tên con là Rồi, nghĩa là người khách, rồi chấp nhận cho làm con trường.
Sau khi trải qua nhiều hoạn nạn, ông mới thầm thía đạo lý sống sót nơi thảo nguyên, không thể chỉ trông cậy vào sức riêng.
Vì vậy, cả gia đình theo Chát Mộc Hợp về trại Khả Địch, cung sống và chiến đấu như những người thân ruột thịt.
Tuy nhiên, thời gian trôi qua, tình huynh đệ dần phai nhạt.
Một ngày nào, Chát Mộc Hợp bảo ông ở lại chồng giữ đàn gia súc.
Đây là một hành động cho thấy sự xem thường rõ rẻ.
Theo lời khuyên của vợ, Thiết Mộc Trần quyết định rời đi trong im lặng.
Không ngờ, một nửa trại lính tỏ ý muốn đi theo, vì sự công bằng mong luôn thực thi.
Trên thảo nguyên, người tắc quen với quý luật cũ, từng lớp quý tộc tự chia chiến lợi phẩm theo ý muốn.
Còn thường dân thì mãi chỉ là kẻ đứng ngoài cuộc, chẳng được đoái hoài.
Nhưng Thiết Mộc Trần thì khác.
Lớn lên bên dòng ô nôn lạnh giá, ông học cách chia sẻ từ thủ thờ ấu,
nên đã xây dựng một quy tắc mới đầy táo bạo, phân chia theo công trạng.
Ngoài ra, Thiết Mộc Trần còn đưa ra chính sách hậu cần nhân đạo,
phần chiến lợi phẩm của người hy sinh sẽ dành cho vợ quá con côi của họ.
Ông cũng dành một phần cho người già, thương binh và kẻ tan tật.
Nhờ đó, khi rời chạy Chát Mộc Hợp, Thiết Mộc Trần không thiếu người nguyện theo cùng.
Nhưng việc mang đi một nửa quân lính của đối phương đồng nghĩa với việc biến bạn cũ thành kẻ thù.
Thời điểm ấy, người Mông Cổ vẫn chìa nam xe bệnh.
Chưa có ai đủ uy danh để thống lĩnh tất cả.
Giờ đây, hai chiến binh đối đầu cùng trường mục khát vọng, trở thành Khả Hán, người lãnh đạo tối cả.
Hồi hè 5189, Thiết Mộc Trần quyết định ra tay trước và triêu tập Đại hội Cú Luân Tài.
Đây là sự kiện nửa chính trị, nửa lễ hội, nơi mọi người cùng vui chơi và thi tài đàn sen.
Trong dịp này, Thiết Mộc Trần đã tuyên bố khát vọng làm Khả Hán của toàn thể Mông Cổ.
Khi nghe tin, Chát Mộc Hợp đã vô cùng giận dữ.
Xung đột giữa hai bên ngày càng gai gắt, cho đến khi người thân của Chát Mộc Hợp bị giết trong một vụ cướp bỏ.
Đó là cảnh cớ mà ông ta chờ đợi để phát động chiến tranh và nghiền nát Thiết Mộc Trần.
Cả hai bên tập hợp lực lượng.
Cuối cùng, hai đạo quân đối đầu tại Đa Lan Bali rút, nơi chiến trường rền vang vó ngựa và tên bày như bão táp.
Dù kiên cường, Thiết Mộc Trần vẫn bị đánh bạn, buộc phải rút vào Khe Nối Di Rang.
Chát Mộc Hợp trả đuốt tàn khốc, luộc sống bảy mươi thủ lĩnh. Chát đâu tu trưởng, rồi kéo lê sau ngựa.
Thiết Mộc Trần rời vào Cảnh Trắng Tây, trốn trải khỏi quê hương, mất tích suốt 10 năm.
Nhiều học giả cho rằng, ông đã tiến xuống Trung Hoa ở phương Nam để chờ thời cơ trở lại.
Từ thời cổ đại, dân cư châu Thổ Hoàng Hà đã nhiều lần đối đầu các đạo kỳ binh tràn xuống từ Thảo Nguyên phương Bắc.
Để ngăn bức trường sâm lăng, những bức tường phòng thủ dài càng nghiên dặm đã được dựng nên, về sao gọi là vạn lý trường thành.
Nhưng lịch sử Trung Hoa luôn xoay vòng giữa hợp nhất và phân lý.
Đến đầu thế kỷ 11, nhà tống của người Hán tái lập quyền lực trung ương trên phần lớn đất cũ.
Nhưng sang thầm niên 1120, tộc nữ Trần từ vùng Bản Châu lại bắt đầu trỗi dậy dữ rồi.
Họ tràn xuống như thác lũ, đây trên phía Bắc, lập nên vương triều kịp.
Dù từng bị coi là dân man di, nhưng họ đã sớm hỏa nhập, học khán ngữ, theo lễ giáo, cư xử như người bản địa.
Tuy vậy, người tống vẫn coi họ là dĩ chủ, quyết khôi phục lãnh thổn.
Hai thế kỷ liền, Trung Hoa bị chia đôi, Kim kiểm soát phương Bắc, tống giữ phương Nam.
Đôi bên không ngừng tranh đấu, nhưng chẳng ai nắm chọn phần thắng.
Là kẻ từng khởi binh từ rừng sâu để chiếm thành tỵ trung nguyên.
Triều Đình nhà Kim hiểu rõ nguy cơ từ thế lực nổi dậy mới,
vì thế họ thực thi chính sách lấy ru mục trị ru mục và thuê các bộ tộc phương Bắc làm lính biên phòng, gọi là giả.
Khi một nhóm người nào trở nên quá mạnh, triều đình sẽ chuyển sang một tộc khác để kiềm chế.
Chiến lược này vô cùng tan bạo, nhưng cũng hiệu quả.
Các dân tộc phương Bắc bị phân tán, người chiến triển miên, không thể hình thành thế lực thống nhất.
Đến mùa đông 5196, lo ngại sự banh trướng của người Thát Đát.
Nhà Kim huy động thiếp một chân và trước hầu hùng mạnh là khất nhan, đánh thẳng vào lãnh thổ kẻ thù.
Sau khi giành thắng lợi, họ vô cùng sừng sốt trước chiến lượi phẩm thù được.
Trong lều, trong xe báu đều đầy hàng hóa quý.
Nghe cả trẻ con của Thát Đát cũng đeo khuyên vàng nơi mũi và khoác áo lông trồn viền chỉ Kim.
Nhà Kim hài lòng tột độ, phòng thiếp một chân làm triêu thảo xứ.
Chiến dịch giúp ông thu được vô số cùa cải và cả nhiều người ủng hộ mới.
Mối quan hệ giữa ông và thủ lĩnh khất nhan thoát liệt khả hãn cũng vì thế ngày càng sâu sắc.
Từ đây thanh thế của thiếp một chân bắt đầu lan xa.
Tuy nhiên trong lúc trinh phạt Phương Sa, tộc dược Nhi Kinh âm thầm đánh lén trại chính.
Khi trở về, thiếp một chân lập tức phản công, không còn giữ lệ cũ cướp giả súc.
Ông sư tử toàn bộ thủ lĩnh dọc tắt ý đồ nổi loạn với thường dân.
Bàn lệnh quy phục thì được sống, trở thành thanh viên chứ không nổ lệ.
Để minh chứng, thiếp một chân để mẹ mình nhận nuôi một bé trai một cồi.
Người dược Nhi Kinh hoang mang, nhưng nhiều gia đình đồng ý gia nhập.
Cách làm ấy chưa từng xuất hiện trong lịch sử Thảo Nguyên.
Và nó cũng khiến quý tộc Mông lâu đời cảm thấy bị lung lấy điệu vị.
Hoặc kéo về dưới chứng chất một hợp, người từng đánh bại thiếp một chân.
Năm 1201, hai người bạn cứu bước vào cuộc tử chiến định mạnh, kéo theo vạn kỳ binh dạy sóng Thảo Nguyên.
Không thành lũy, không cờ hiệu, chỉ vó ngựa, cung ngứng, kiếm công, giáo giải.
Tổng môn cổ luôn tin vào phu thủy và coi họ là linh hồn chiến địa.
Chỉ cần một nghi lễ đúng thời khác, có thể khiến quân sĩ vững trí hoặc vỡ trận.
Ngày giao tranh, kỳ mã lao vào nhau, tên bay dày đặc như côn trùng mùa hè.
Pháp sư cứu thiếp một chân ra tay trước khiến mây đen kéo đến như báo hiệu thuyền ý.
Trời xâm sập đổ xuống, xâm xét dạch ngang bầu không khí, giọt quấn theo mùi sát máu.
Khi chiến sự căng thẳng, chất mong hợp xài Pháp sư thi triển thuật đổi trời.
Ngờ đầu phép phản chủ, lốc ngược lại, thổi bay do anh chạy của mình.
Quân lính hoang mang tháo chạy như nước vỡ đê.
Chất mong hợp tháo thân, đúng như thiết mộc Trần từng phải bồ chốn năm xưa.
Nhưng năm sau đó, ông gom quân tàn dư, nhưng thế đã suy.
Cuối cùng, chất mong hợp bị kết án chết.
Trần chiến vì danh vị khả hãn khép lại, vương quyền đổi chủ.
Từ nay chỉ còn một người xưng danh khả hãn của toàn Mông Cổ.
Những bộ tộc lớn nhỏ còn lại đều quy phục.
Giới quý tộc các tộc bị chém đầu, quyền lực bị xóa sạch tận gốc.
Thường dân được thu nạp vào quân đội trở thành huyết mạch mới cho đại nghiệp.
Nhưng sau đó, ngay cả người thầy thùa thiếu thời, thoát liệt khả hãn khi xưa cũng nổi dậy phản chắc.
Mù sát môn đồ, nhưng kế hoạch sụp đổ.
Đến năm 1206, đại hộ Kurultai được triệu tập giữa trời xanh bào là, muôn ngựa quỷ tụ.
Thiêm hợp Trần lấy danh hiệu thành các từ hãn, khai sinh một đế chế khổng lồ từ cỏ dại và gió bấc.
Nhưng tất cả mới chỉ là mở đầu cho một trường lịch sử nhân loại.
Đế chế Mông Cổ sẽ không dừng lại ở Thảo Nguyên, mà tràn xuống Trung Hoa, vươn tới Ba Tư, gieo bóng ngựa lên cả đất Châu Âu.
Trong vòng trước đây một thế kỷ tiếp theo,
những kế xe áo lông đã từng bước thay đổi bản đồ và định hình lại cả lịch sử nhân loại bằng bó ngựa và sát thép.
Hãy chờ đó trong tập tiếp theo.