8 Bí Ẩn Ly Kỳ Và Thú Vị Về Cao Bằng Vùng Đất Giữ Nhiều Bí Mật Chưa Ai Giải Mã
Cao Bằng – mảnh đất biên viễn nơi núi rừng trùng điệp, thác nước trắng xóa và hang động kỳ vĩ, không chỉ khiến người ta ngỡ ngàng bởi cảnh quan hùng vĩ, mà còn bởi những truyền thuyết, phong tục và bí ẩn huyền thoại đã tồn tại hàng trăm năm.
Trong video này, bạn sẽ khám phá: ✨ Hồ Thang Hen – truyền thuyết nước mắt tình yêu biến thành 36 hồ xanh biếc ✨ Núi Mắt Thần – “con mắt trời” khổng lồ dõi theo thiện – ác nơi biên cương ✨ Thác Bản Giốc – viên ngọc của châu Á với cầu vồng huyền ảo giữa đại ngàn ✨ Động Ngườm Ngao – cung điện thạch nhũ triệu năm dưới lòng đất ✨ Bánh cuốn nước xương, phở chua, vịt quay 7 vị, hạt dẻ Trùng Khánh – ẩm thực độc lạ chỉ có ở Cao Bằng ✨ Huyền thoại chín chúa tranh ngôi, đền vua Lê và dấu ấn Thục Phán – An Dương Vương ✨ Lễ hội Lồng Tồng, Nàng Hai, pháo hoa Quảng Uyên – nhịp sống hội tụ niềm tin và khát vọng mùa màng ✨ Công viên địa chất Non Nước Cao Bằng – kho báu triệu năm được UNESCO vinh danh
⚡ Cao Bằng không chỉ là một điểm đến du lịch, mà còn là miền đất của ký ức và huyền thoại, nơi mỗi thắng cảnh đều ẩn chứa một câu chuyện kỳ bí, mỗi nụ cười người dân đều mang linh hồn núi rừng.
👉 Hãy xem trọn video để cùng khám phá hành trình đầy cảm xúc này và để lại bình luận cảm nhận của bạn nhé!
Tám bí ẩn ly kỳ và thú vị về cao bằng mà chưa có ai nói đầy đủ cho bạn biết hết.
Bạn có tin rằng giữa vùng núi biên viễn xa xôi lại tồn tại một hồ nước xanh thẳm được tạo nên từ gió nước mắt tình yêu răng rọt?
Bạn có từng nghe về một ngọn núi có con mắt trời khổng lồ mà người dân tin rằng vẫn ngày đêm dõi theo, so sét cái thiện và cái ác?
Và bạn có biết ở nơi ấy, những thác nước trắng xóa, những hang động kỳ vĩ, cùng tiếng đàn tính, điệu then
đã làm nên một di sản được thế giới công nhận là kho báo triệu năm của trái đất?
Ba câu chuyện tưởng như rời rạc ấy lại gặp nhau ở một miền biên viễn, nơi núi rừng thị thầm với con người từ ngàn xưa.
Đó chính là Cao Bằng, miền đất vừa hùng vĩ vừa huyền bí.
Nơi nưu giữ không chỉ cảnh quan tuyệt mỹ mà còn cả truyền thuyết, phong tục và linh hồn của núi rừng.
Hãy cùng khám phá hành trình đầy ký thú này trong video ngày hôm nay nhé!
ĐIỆT TÍCH VỊ TRÍ ĐIỆT LÝ
Người dân vùng cao vẫn thường ví von, đặt chân đến Cao Bằng là bước vào miền non nước ngàn năm chưa bơi tiếng gió.
Quả thật, mảnh đất này nằm ở cửa ngõ phương Bắc, nơi núi xếp tầng như thành lũy, sông rối uốn bình như giải lụa xanh.
Từ Hà Nội đi hơn nửa ngày đường, qua những khúc cua tranh vanh và thung lũng mở xương,
người ta mới thấy trước mắt mở ra một Cao Bằng rộng lớn, hơn 6.700 km vuông trải dài tựa tấm thảm thiên nhiên khổng lồ.
Cao Bằng được bao bọc bởi núi non Trung Điệp, phía tây giáp Hà Giang-Kên Quang, phía nam giáp Bắc Cạn-Lạng Sơn,
phía bắc và đông bắc nối niền biên giới với Trung Quốc.
Nhìn qua, nơi đây tưởng chừng lặng lẽ, xa xôi, nhưng chính đường biên dài hơn 300 km đã khiến mảnh đất này trở thành một cửa ải trời trao,
vừa giữ yên biên cương, vừa mở lối sao thương từ ngàn xưa.
Đệ hình Cao Bằng như một mây cung tự nhiên, có thung lũng sâu hunh hút, có núi vách dựng đứng,
có những dòng sông luồn qua khe đá rồi bỗng bà ra thành thác nước trắng xóa.
Sự hiểm trở ấy vừa thử thách con người, vừa banh tặng cho họ những tiểu vùng sinh thái đặc biệt,
nơi có thể gieo mạ trên nương, trồng ngô trên núi, thả cá trong hồ và dựng nhà bên những dòng suối trong veo.
Cư dân Cao Bằng không đông, đi cả quãng đường dài mới thấy một mái nhà khói bếp vương trong xương.
Nhưng chính sự thưa vang ấy đã giữ lại cho nơi đây nhiều nếp xưa, những lễ hội ruộng đồng,
những khúc hát then, tiếng đàn tính và cả những truyền thuyết mà chỉ đêm lửa chạy mới dám kể cho nhau nghe.
Từ vùng đất núi non kỳ vĩ ấy, người ta bắt đầu tự hỏi vì sao lại mang tên Cao Bằng?
Liệu trong hai chữ giản dị ấy có ẩn chứa một lời nhấn nhủ của Tổ tiên Thứ Thuở Lập Làng?
Nghe hai chữ Cao Bằng, người ta sẽ nghĩ ngay đến vùng núi cao và đất bằng phẳng.
Thật ra, ý nghĩa ban đầu cũng gần cũ như thế.
Theo tiếng Tài Nùng, Cao Bằng nghĩa là miền đất cao, bằng phẳng giữa núi non trùng điệp.
Người xưa chọn tên giản dị nhưng gợi tả đúng dáng vẻ địa hình nơi đây.
Những thùng lũ bằng phẳng nếp giữa những dãy núi sửng sững vừa là chỗ sinh sống vừa là nơi dựng bản dựng mường.
Tuy vậy, quanh cái tên ấy cũng có nhiều lời giải thích dân gian.
Có người bảo Cao Bằng là vùng đất cao hơn những miền khác nhưng lại bằng phẳng để dân cư làm ăn sinh sống,
nên Tổ tiên đặt tên như một cách tri ân trời đất.
Lại có chuyện kể rằng, thuở ban đầu người Tài Nùng tìm đến vùng này lập bản,
họ đi qua nhiều dãy núi hiểm trọ đến khi gặp được một miền cao ráo bằng phẳng thì rừng chân và gọi nơi ấy là Cao Bằng.
Cái tên trở thành ký ức gần với hành trình tìm đất dựng làng từ ngàn xưa.
Đặc biệt trong các thư tịch cổ của triều đình phong kiến, vùng này từng được gọi là Châu Quảng Nguyên.
Mãi đến sau thế kỷ 15, cái tên Cao Bằng mới dần phổ biến rồi trở thành tên gọi chính thức cho đến tận ngày nay.
Sự đổi thay tên gọi ấy không chỉ ghi lại dấu mốc lịch sử mà còn phản ánh cả dòng chảy văn hóa của cư dân miền biên viễn.
Có lẽ điều khiến người ta tò mò nhất chính là tại sao giữa núi non hiểm trọ lại xuất hiện những thung lũng bằng phẳng màu mỡ đến vậy.
Người dân vẫn tin rằng đó là do thần núi mở lòng dùng tay gạt đi những bách đá để lại khoảng đất cho con người gieo hạt, dưỡng bản, sống an hòa.
Tên gọi Cao Bằng vì thế không chỉ là địa danh mà còn là lời nhắc nhở về ân huệ của thiên nhiên và sự gắn bó móng thịt giữa con người với núi rừng.
Và từ tên gọi đầy ẩn ý ấy, người lữ khách lại càng muốn khám phá.
Rốt cuộc trong môn vàn cảnh đẹp của Cao Bằng đâu mới là điểm đến khiến người ta nhớ nhất, như dấu ấn không thể phai nhạt.
Nhắc đến Cao Bằng, người ta không thể bỏ qua thác Bản Dốc, biên ngọc giữa núi rừng, một trong những thác nước tự nhiên đẹp nhất châu Á.
Đứng từ xa đã nghe tiếng nước đổ ảo ảo, như trống trời rội xuống.
Khi tiến lại gần, từng tầng thác trắng xóa hiện ra, đổ từ độ cao hàng chục mét xuống lòng sông quê sơn xanh ngắt.
Có người bảo Bản Dốc giống như một giải lụa bạc mà trời ban xuống biển biên viễn, vừa hùng vĩ vừa nên thơ.
Và lạ lắm, vào những ngày nắng đẹp, trên là nước bọt tung trắng xóa.
Cầu vồng hiện ra như giải độc trời dành riêng cho khách phương xa.
Không xa Bản Dốc là động ngườm ngao, cái tên nhất là hang hổ gồng.
Quả đúng như thế, bước vào lòng động, bạn sẽ thấy cả một thế giới thạch nũ lung linh,
hình dáng buôn hình vạn trạng, nào là tiên ông, nào là tiên, nào là cây đàn, thác vàng, thác bạc.
Người dân kể rằng, thủa xa xưa, trong hang từng có tiếng hổ gồng vang vọng cả núi rừng.
Nên cái tên ấy gắn liền với sự linh thiêng kỳ bí.
Đi giữa động ngườm ngao, ta có cảm giác như lạc vào cung điện dưới lòng đất,
nơi thời gian ngưng động hàng triệu năm.
Rồi còn hổ Thang Hen, một quần thể hổ trên núi với hơn 30 hổ lớn nhỏ, nối thông bằng các hang ngầm.
Người ta gọi đây là mắt ngọc giữa đại ngàn.
Sáng sớm, mặt hổ như gương xanh in bóng núi non.
Khói xương vây là là, khiến cảnh sắt mờ ảo như cõi tiên.
Cũng nơi này, truyền thuyết kể về chàng trai họ nùm bỏ lỡ lời hẹn ước với người yêu,
để lại giọt nước mắt hóa thành hổ Thang Hen.
Khiến lòng người nghe song trật trào dâng cảm xúc.
Và nếu đã đến Cao Bằng, đừng quên núi Mắt Thần, một quả núi tròn trịa,
chính giữa có lỗ thủng lớn, nhìn xa như con mắt khổng nồ dõi theo cả vùng.
Người dân tin rằng đó là con mắt trời, mở ra để chẽ trở bản làng, canh giữ biên cương.
Dưới ánh hoàng hôn, khi nắng chiếu xuyên qua lỗ thủng ấy,
cả vùng đất ngập trong từ ánh sáng đỏ rực, huyền bi đến giận ngợp.
Mỗi tháng cảnh ở Cao Bằng không chỉ đẹp về hình dáng mà còn gắn với một câu chuyện, một truyền thuyết.
Chính sự hòa quyện giữa thiên nhiên và huyền thoại ấy đã biến nơi đây thành miền đất vừa thực vừa mơ,
khiến người đi rồi vẫn nhớ mãi không vui.
Và có lẽ sau khi dạo qua những cảnh xác diệu kỳ ấy, khách vương xa lại tò mò muốn nếm thử,
ẩm thực Cao Bằng có gì độc đáo mà khiến người ta thường nhớ đến vậy.
Món ăn ngon, độc, lạ
Nếu cảnh xác Cao Bằng làm say lòng bằng non xanh thác trắng,
thì ẩm thực nơi đây lại níu bước bằng những hương vị vừa mộc mạc vừa độc đáo đến khó quên.
Đầu tiên phải kể đến bánh cuốn Cao Bằng, món ăn tưởng quen mà lại lạ,
không giống bánh cuốn ở Đồng Bằng ăn kèm chả lụa hay thịt nướng.
Bánh cuốn Cao Bằng lại chan với nước dùng sương hầm nóng hổi, thêm trứng gà tráng mỏng vàng ruộng.
Giấc một miếng, vị bềm dẻo của bột, vị ngọt của nước dùng, vị béo của trứng hòa quyện,
khiến ai từng thử một lần là nhớ mãi.
Người ta bảo sáng sớm mùa đông để ngồi bên góc phố nhỏ húp thề nước bánh cuốn nghi mốt khói,
mới thấy cái ấm áp thấm từ đầu lưỡi đến tận lòng.
Hát đến món lạ, không thể bỏ qua phở chua Cao Bằng.
Tô phở trông giản dị nhưng lại có đủ vị, chua thanh của giống, ngọt béo của thịt quay,
bùi ngậy của làng giang, cay nồng của ớt.
Người dân nơi đây thường ăn vào mùa hè,
khi cái oi bức khiến người ta thèm một món vừa no bụng vừa mát ruột.
Có du khách nói vui rằng phở chua Cao Bằng ăn một lần nhớ một đời.
Còn vịt quay 7 vị trùng khánh thì đúng là đệ nhất đặc sản miền Biên Cương.
Con vịt được tẩm ướp bằng 7 loại gia vị núi rừng,
che lên quay trên than hồng cho da vàng giòn, thịt bên trong mềm thơm.
Chỉ cần xẻ một miếng, mùi thơm lan tỏa, ăn kèm với lá mắc mật,
thứ lá chỉ vùng này mới có thì hương vị thật sự khó quên.
Ngoài ra còn hạt rẻ trùng khánh,
hạt rẻ Cao Bằng nổi tiếng cả nước,
vừa ngọt vừa bùi vừa dẻo.
Người dân thường rang len,
vỏ tách khẽ để lộ phần nhân vàng ruộng,
cắn một miếng như nếm cả hồn đất hồn núi.
Hay lạp sữa hôn khói, treo trên đếp lửa hồng cả tháng trời,
đầy khi cắn vào, mùi thơm quyện khói núi rừng lan khắp vòng miệng.
Ẩm thực Cao Bằng không cầu kỳ,
nhưng mỗi món đều thấm đẫm hương vị núi rừng,
mang theo cái tình của người miền Biên Viễn.
Có lẽ chính sự dùng gì ấy mới khiến khách phương xa ăn một lần,
để rồi đi xa vẫn muốn quay lại chỉ để ngồi bên bếp lửa,
nhâm nhị miếng lạp sữa, hạt rẻ và nghe tiếng rối reo ngoài bảng.
Và cũng từ những bơm cơm, bát nước ấy,
người ta càng tò mò về những câu chuyện truyền thuyết mà dân gian nơi đây đã chuyển lại.
Bởi Cao Bằng không chỉ có món ngon cảnh đẹp,
mà còn ẩn sâu những truyền thuyết bí ẩn, nghe vừa rùng mình vừa lôi cuốn.
TRUYỆN THUYẾT BÍ ẨN
Cao Bằng, mảnh đất núi non hiểm trở,
không chỉ có thác rành, hang động,
mà còn ẩn giấu trong lòng những truyền thuyết kỳ bí được người dân chuyển qua nhiều thế hệ.
Huyền thoại về Hồ Thang Hen luôn để lại sự tò mò cho bất kỳ ai ghé thăm.
Chuyện rằng ngày xưa có chàng trai sung, thi đỗ làm quan,
được vua ban 7 ngày vinh quy, về quê cưới nàng bóc xinh đẹp.
Chàng mãi quấn quýt mà quên mất ngày trở lại kinh thành.
Đến đêm cuối cùng, chàng vội vã ra đi,
chạy được ba sáu bước thì ngã gục, nơi đó hóa thành Hồ Thang Hen ngày nay.
Còn ba sáu bước chân biến thành ba sáu hộ lớn nhỏ,
mang những tên gọi bằng tiếng Tày, nùng như Thang Vạt, Nà Ma, Thang Lỏng, Thang Hoi.
Không chỉ có tình xử bi thương,
đất Cao Bằng còn lưu truyền rộng rãi truyền thuyết cậu chúa Trang Mùa,
chính chúa tranh vua, gắn liền với thầy Hùng Vương và thục phán An Dương Vương.
Câu chuyện kể rằng sau khi vua thục chế của nước Nam Cương qua đời,
con trai là thục phán mới lên 10 tuổi kế vị.
Chính chúa mường không phục, liền đem quân bao vây kinh thành Nam Bình.
Trước tình thế đó, thục phán đã bày ra cuộc đấu võ rồi thi tài và bằng trí tuệ,
ông đã khiến mọi người tâm phục, mở đầu cho chiều An Dương Vương.
Ngoài ra ở xã Hoàng Tung, huyện Hòa An còn có đền vua Lê,
một di tích linh thiêng gắn liền với nhiều giai thoại, nơi đây thở vọng vua Lê lợi.
Tương truyền từng lưu giữ Thanh Hương và Hoàng Bào thuộc quân thể thành Na Nữ,
trung tâm quân sự, văn hóa, thời phong kiến.
Trong thành có bốn gò đất nổi lên, được đặt tên tự với Long, Ly, Quy, Phượng,
biểu trưng cho tứ linh chấn giữ.
Theo truyền thuyết và những tư liệu lịch sử còn lưu lại,
ngôi đền ngày nay vốn chính là cung điện xưa kia của thành Na Nữ.
Những truyền thiết ấy, từ hồ thang hen xanh ngọc,
chuyện chính chúa tranh ngôi, cho đến đền thở vua Lê với bốn gò đất tứ linh
đã làm nên một cao bằng vừa thực vừa huyền thoại.
Và để những câu chuyện ấy không chỉ tồn tại trong lời kể,
người dân nơi đây đã gửi gắm niềm tin cùng lòng biết ơn vào các lễ hội đặc sắc,
nơi cả bản làng hòa mình trong tiếng trống, điệu hát, lời khấn vọng lên trời đất.
Nếu truyền thuyết là hơi thở của quá khứ,
thì lễ hội chính là nghiệp sống hiện tại,
nơi con người gửi gắm niềm tin và niềm vui vào trời đất.
Cao bằng quanh nam núi rừng lặng hẽ,
nhưng mỗi khi vào hội, cả bản cả mường bỗng rộn ràng như thức giấc.
Đặc sắc nhất là lễ hội lồng tồng,
nghĩa là xuống đồng, mỗi độ xuân về.
Khi mưa phùn răng trên ruộng nương,
người Tây nùng nãy tự hội vẻ bãi đất bằng,
dựng cây nêu, bày mâm cỗ, làm lễ cúng thần nông.
Người già khấn cổng mua màng bội thu,
lúa ngô đầy bù, trẻ nhỏ khỏe mạnh.
Sau nghi lễ là phần hội,
nào là mua hát, kéo co, đánh yến, ném còn.
Giữa núi rừng tĩnh lặng, tiếng trống hội,
tiếng hát then ngân va như đánh thức cả đất trời,
mang lại sức sống mới cho bản làng.
Ở vùng biên viễn cao bằng,
mỗi dịp mùng 2 tháng 2 âm lịch,
thị trấn Quảng Uyên lại bường sáng
trong một lễ hội độc đáo bậc nhất,
lễ hội phá hoa Quảng Uyên.
Đây không chỉ là ngày hội lớn nhất trong năm,
mà còn là dịp để người dân gửi gắm khát vọng
mưa thuận gió hòa, mua màng bội thu
và một năm mới an khang thịnh vượng.
Điểm nhấn linh thiêng nhất của lễ hội
chính là nghi thức khai quang cho dòng mở mắt.
Đàn dòng vô 15 người
dẫn đều 7 cụ cao điên uy tín,
dứt dòng đến bỏ nước cổ thụ,
nơi người dân tin là nguồn linh khí.
Sau phần lễ là hội
với mỗi dòng hát lượn, tung còn
và đặc biệt là cho cướp đầu pháo,
chiếc vòng sắt vũ sắc tự trưng
cho lọc trời. Đội nào giành được
sẽ được cả làng tin rằng may mắn
phát tài cả năm. Qua bao thế hệ,
lễ hội phá hoa Quảng Uyên
vẫn là nét đẹp tinh thần của cao bằng mỗi độ
mùa xuân về, vừa linh thiêng
vừa rộn ràng gắn kết cộng đồng.
Lễ hội nàng 2 là một nét
văn hóa hiếm có của người Tày.
Theo tiếng ngưỡng dân gian, trên trời
có mẹ Trăng cùng 12 nàng tiên,
những vị thần luôn dõi theo và
phù hộ cho mùa màng dưới trần gian.
Bởi vậy trước khi bước vào vụ
mùa mới, dân bản thường long trọng
tổ chức lễ mời nàng 2 xuống Ban Phước
cho bàn làng. Lễ hội diễn ra
trong không khí trang nghiêm mà cũng rất đối thân tình,
gồm 3 phần, lễ đón 2,
lễ cầu 2 và lễ tiễn 2.
Mầm cỗ răng lên phải bày biện
thật đẹp, thể hiện lòng kính trọng
với thần linh. Khi điệu hát cắt lên
từ chính những người nông dân chân chất,
âm thanh ấy như nối liền trời đất,
gửi gắm bao ước vọng mùa màng tươi tốt
và làng yên ấm. Nếu nàng 2
mang sắc màu tiếng ngưỡng thì lễ hội
du lịch Thác Bản Dốc lại là một bữa tiệc
vừa linh thiêng vừa rực rỡ.
Thác Bản Dốc một trong những thác nước đẹp nhất
thế giới, chính là nơi diễn ra lễ hội
mỗi độ tháng 10. Dưới
chân thác trắng xóa bọt tung, lễ hội
bắt đầu với nghi thức dước nước,
mong cho quốc thái dân an mưa thuận
gió hòa. Khi đem xuống, ánh sáng
lung linh phủ trên mặt nước,
tạo nên khung cảnh huyền ảo như bước vào
cõi thần tiên. Không chỉ có nghi lễ,
lễ hội còn tràn đầy niềm vui
với các hoạt động phong phú.
Liên hoan dân ca mượt mà, tiếng tài,
nùng, trò chơi dân gian rộn rã tiếng cười
như kéo co, tung còn, nhảy bao bố,
những cuộc đua ca rắc
kịch tính giữa dòng nước trong xanh.
Tất cả tạo nên một lễ hội
vừa mang tầm vóc địa phương, vừa là niềm tự hào
để giới thiệu cao bằng ra thế giới.
Ai từng một lần đứng giữa tháp bản dốc
ngày hội, hẳn sẽ thấy mình như tan vào
trong dòng chảy bất tận của thiên nhiên và văn hóa
nơi đây. Và chính từ
những lễ hội rộn ràng ấy, ta thấy
rõ hơn hình ảnh con người cao bằng,
mong mạc, chan hòa, nhưng cũng giàu
niềm tin và nghị lực, sống gắn bó
với núi rừng từ bao đời nay.
Con Người và Cuộc Sống
Vùng Đất
Giữa núi non trùng điệp và thùng lũng sâu thẳm,
con người cao bằng hiện lên
mong mạc, hiền hòa như chính giãn núi
ráng sông nơi đây. Phần đông là
đồng bào tày, nùng, dao, mông,
mỗi dân tộc một bản sắc, nhưng đều
chung một nghiệp sống gắn bó mặt thiết
với đất trời. Ngày thường,
bạn dễ bắt gặp hình ảnh những người phụ nữ
tày cuốn khăn, mặc áo chàm,
thoăn thoát bước trên lương ngô,
hay các chàng trai nùng rắt trâu băng qua
suối, tiếng sáo lảnh lót vang
giữa đại ngàn. Trẻ con nơi đây
thì hồn nhiên, chân đất chạy lon ton
trên lối mòn, mắt sáng như ánh nắng
ban mai. Cuộc sống tuy giản dị
bất phả, nhưng luôn rộn rã tiếng cười,
rộn ràng tình người.
Người cao bằng có truyền thống sống tran hòa
với thiên nhiên. Họ tin rằng rừng núi
có thần, sông suối có linh,
nên mỗi việc lớn trong đời,
từ dựng nhà, cưới xin
đến gieo hạt, đều bắt đầu bằng một nén hương,
một lời khấn. Chính niệm kia nấy
khiến con người nơi đây sống cẩn trọng,
trọng nghĩa tình, không dám thủy thiện xúc phạm
đến thiên nhiên. Cuộc sống
vùng biên viễn còn thấm đẫm tình đoàn kếp,
mua gặt cả bản cùng gia đồng, giúp
nhau tuốt lúa, vui thóc về nhà.
Khi có lễ hội, người người góc công
góc của, ai cũng có phần.
Bởi vậy, dù núi cao, đường xa,
đời sống chưa rung túc,
nhưng bản làng vẫn giữ được sự ấm áp,
như ngọn lửa bếp không bao giờ tắt.
Có lẽ, điều làm người lứa khách thương nhớ nhất
chính là nụ cười hiền hậu của người dân,
dù chỉ là bát nước trà xanh
mời vội, hay gói xôi
nét đưa tay, cũng đủ khiến ta
thấy mình như người nhà. Ở nơi
biên cương xa xôi này, con người chính là
linh hồn giữ cho Cao Bằng không chỉ đẹp
ở cảnh, mà còn đẹp ở tình.
Để ghép lại hành trình khám phá,
hãy cùng đến với một niềm tự hào lớn lao,
công viên địa chất non nước Cao Bằng,
kho báu trăm triệu năm
của đất trời, nơi thiên nhiên và văn hóa
hòa quyện thành bức tranh kỳ vĩ hiếm có.
Công viên địa chất
non nước Cao Bằng, kho báu
triệu năm của đất trời. Nếu những
ngọn núi, thác nước hay hồ
trong xanh là từng nốt nhạc riêng lẻ,
thì công viên địa chất non nước Cao Bằng
chính là cả bản hoạt tấu hùng vĩ
mà thiên nhiên đã giải công vết nên suốt hàng trăm
triệu năm. Không phải ngẫu nhiên
mà năm 2018, UNESCO
đã công nhận nơi đây là công viên địa chất toàn cầu,
một trong số ít
di sản của Việt Nam được vinh danh
ở tầm thế giới. Trải dài
trên diện tích hơn 3.000 km vuông,
nơi đây cất giữ trong lòng
500 triệu năm lịch sử trái đất.
Mỗi lớp đá, vách núi, thung lũng, hang động
đều như trang sách mở ra
kể rằng vùng đất này từng là biển cả
minh mông rồi qua bao biến đổi mới
thành núi non trùng điểm như hôm nay.
Chính vì thế, Cao Bằng không chỉ là
cảnh đẹp mà còn là một bảo tàng
sống của hành tinh. Điều nằm lên
sự đặc biệt ở đây không chỉ là vẻ đẹp
đơn lẻ của thác, hồ, hang động
mà là cách tất cả chúng hoàng quyện
thành một bức tranh thống nhất. Người ta nói
non nước Cao Bằng là nơi thiên nhiên
và con người cùng viết lên huyền thoại.
Thiên nhiên ban tặng địa hình kỳ vĩ
còn con người gìn giữ bằng lễ hội,
bằng tiếng đàn tính điệu thêm
và bằng những nếp sống chan hòa với núi rừng.
Đến với non nước Cao Bằng,
ta không chỉ được chiêm ngưỡng
cảnh quan mà còn được chạm vào chiều sâu
của thời gian. Thấy mình nhỏ bé
giữa vòng quay vĩ đại của tạo hóa
và có lẽ chính khoảnh khắc ấy
khiến mỗi người bỗng muốn sống chậm lại,
biết ơn nhiều hơn với đất trời
và tự hào hơn về quê hương Việt Nam.
Cao Bằng, mảnh đất nơi từng
thác nước, ngọn núi, bát bánh cuốn
nóng hổi hay điệu thêm diêu giặc
đều ẩn trứa linh hồn núi rừng. Đi qua
những tràng huyền thoại, sống trong công khí
lễ hội, cảm nhận nụ cười hền hậu
của con người nơi đây, ta mới thấy Cao Bằng
không chỉ là một điểm đến, mà là
một phần ký ức, một miền tự hào của dân tộc.
Có lẽ, điều điểm nhất Cao Bằng
để lại trong lòng mỗi người không chỉ là
cảnh sát hùng vĩ hay những món ăn đậm đà
mà là cảm giác được trở về với sự
nguyên sơ trong lành, để học cách
sống chậm, sống thiện và biết ơn
nhiều hơn với đất trời. Cảm ơn các bạn
đã theo dõi. Hẹn gặp lại trong những hành trình
tiếp theo.