Màn Ăn Cắp Chất Xám Đỉnh Cao Nhất Của Liên Xô Đối Với Mỹ --------------------- Thế kỷ 20, siêu pháo đài B-29 của Mỹ là niềm ghen tị của mọi quốc gia. Đây là loại máy bay tiên tiến nhất thời bấy giờ, sở hữu công nghệ hiện đại, như súng điều khiển từ xa, khoang điều áp, bánh càng kép, thiết bị hạ cánh ba bánh, động cơ cực mạnh cùng khả năng chuyên chở bom cực khủng. Thế nhưng, chiếc B-29 này từng bị Liên Xô chiếm lấy một cách tình cờ và bị sao chép để tạo ra một phiên bản copy giống đến kinh ngạc. Câu chuyện đã diễn ra như thế nào? Mời quý vị cùng đến với màn “ăn cắp chất xám” đỉnh cao nhất của Liên Xô trong video ngày hôm nay. ----------------------------- ▶ ‘Tin Hot 247’ là Kênh cung cấp cho các bạn những tri thức, hiểu biết chung về tình hình quân sự, chính trị trên thế giới. Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về địa chỉ email: [email protected] ▶ ĐĂNG KÝ KÊNH miễn phí: https://bitly.com.vn/B7NrX ▶ Xem Bí Mật Quân Sự: https://bitly.com.vn/IAhM3 ▶ Xem Đối Đầu Mỹ - Nga: https://bitly.com.vn/4McSp ▶ Xem Đối Đầu Mỹ - Trung Quốc: https://bitly.com.vn/WNuXc ▶ Xem Trung Quốc Chịu Tội: https://bitly.com.vn/ENMSi #tinhot247#quânsự#vũkhí
Rất vui mừng khi được chào đón quý vị khán giả đã quay trở lại với tin hot 247.
Quý vị và các bạn thân mến, thế kỷ 20, siêu pháo đài B-29 của Mỹ là niềm ghét tị của mọi quốc gia.
Đây là loại máy bay tiên tiến nhất thời bấy giờ, sở hữu công nghệ hiện đại như súng điều khiển từ xa, khoang điều áp bánh cảng kép,
thiết bị hạ cánh 3 bánh, động cơ cực mạnh cùng với khả năng chuyên trở bom cực khùng.
Thế nhưng chiếc B-29 này đã từng bị Liên Xô chiếm lấy một cách tình cờ và bị sao chép để tạo ra một phiên bản copy giống đến kinh ngạc.
Câu chuyện đã diễn ra như thế nào? Mời quý vị cùng đến với mạng ăn cắp chất xám đỉnh cao nhất của Liên Xô trong video ngày hôm nay.
Siêu pháo đài B-29, Boeing B-29 Superfortress của Mỹ có thể trở được khoảng 9 tấn bom và thả chúng xuống mục tiêu cách xa gần 5.000 km.
Siêu pháo đài B-52 còn có thể bay với tốc độ cực đại hơn 570 km trên giờ ở độ cao hơn 9.100 m,
độ cao nằm ngoài tầm với của hầu hết các loại máy bay và súng của Nhật Bản thời bấy giờ.
Đây có thể xem là siêu phẩm của Mỹ.
Siêu pháo đài bay B-29 đi trước một thế hệ so với máy bay ném bom hạng nặng giang cơ Ju 290 của không người Đức và thậm chí cả B-17 và B-24 của Boeing.
Nhật Bản thậm chí không có máy bay ném bom hạng nặng.
Vậy nhưng chiếc B-29 này từng bị Liên Xô chiếm lấy một cách tình cờ và bị ăn cắt chất xám để tạo ra một phiên bản copy giống đến kinh hẳn.
Vậy câu chuyện này diễn ra như thế nào?
Trước sức mạnh vượt trội của siêu pháo đài B-29 đã nhiều lần lãnh đạo Liên Xô Stalin yêu cầu Tổng thống Roosevelt cung cấp cho Liên Xô những chiếc B-29 theo chương trình viện trợ quân sự của Mỹ.
Một cách để các quốc gia đồng minh chia sẻ lương thực, dầu mỏ và nguyên liệu giữa họ thời thế giới thứ 2.
Theo chương trình, Mỹ đã gửi cho Liên Xô 11 tỷ USD vật tư bao gồm hơn 400.000 xe Jeep và xe tải, 12.000 xe bọc thép, 11.400 máy bay, gần 2.000 đầu máy xe lửa, 2,6 triệu tấn xăng và dầu và 1,75 triệu tấn lương thực.
Mặt hàng duy nhất mà họ từ chối là máy bay ném bom hạng nặng.
Thực ra việc viện trợ này đều có ẩn ý xô xa.
Lý do duy nhất khiến Mỹ và Anh sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu của Liên Xô là vì họ đều phải đối mặt với một kẻ thù chung là Đức Quốc xã.
Cả Mỹ và Anh đều gửi cho Liên Xô một lượng lớn viện trợ quân sự để hỗ trợ họ.
Họ cần quân đội của Stalin để chống lại Đức Quốc xã ở mặt trận phía đông, để kéo chúng ra khỏi cuộc chiến dọc eo biển Anh và ngăn chặn một cuộc xâm lược có thể xảy ra bọn Anh.
Vì mục đích này, Mỹ và Anh đã cung cấp cho Stalin các dòng xe tăng hạng chung M-3 Lease và M-4 Sherman cũng như các máy bay chiến đấu Iraq Cobra của Mỹ và Hurricanes của Anh.
Nhưng máy bay ném bom hạng nặng có khả năng bay qua lục địa và xuyên đải dương lại là một vấn đề khác.
Mỹ không đủ tin tưởng lãnh đạo Liên Xô Stalin để trang bị cho ông một công nghệ có thể dùng để chống lại họ.
Cơ hội trời cho.
Tuy nhiên, may mắn đã mỉm cười với Stalin và Liên Xô.
Mùa hè 1944, trong tình huống khẩn cấp xảy ra với 3 chiếc siêu pháo đài B-29 trong hành trình thực hiện một cuộc ném bom xuống Nhật Bản.
3 chiếc máy bay ném bom hạng nặng General Arnold Spechtel, Ding Hong và Rembrandt buộc phải hạ cánh khẩn cấp xuống thành phố Vladivostok của Liên Xô.
Ngay lập tức, Liên Xô đã đưa cả 3 chiếc B-29 đến một cơ sở Moscow.
Các phi hành đoàn đã được đưa về nước, nhưng mọi yêu cầu mang 3 chiếc B-29 trở lại Mỹ đều bị Liên Xô bỏ qua.
Đây là lúc các kỹ sư Liên Xô trổ tài.
Với 3 chiếc máy bay này, các kỹ sư Liên Xô đã bắt đầu một trong những dự án thiết kế ngược phức tạp và táo bạo nhất từ trước đến nay.
Trong số 3 chiếc, một chiếc đã bị tháo rỡ để theo dõi núi các bộ phận đang phát triển.
Cái thứ 2 được sử dụng làm tài liệu tham khảo.
Chiếc thứ 3 được sử dụng cho chuyến bay thử nghiệm.
Stalin ra lệnh sao chép chính xác chiếc siêu phó đoài B-29 đến từng chi tiết nhỏ nhất.
Nhưng nói thì dễ hơn làm.
Liên Xô không có khả năng chế tạo để tái sản xuất nhiều bộ phận.
Ví dụ B-29 sử dụng vỏ nhôm dày 1 phần 16 inh, nhưng Liên Xô sử dụng hệ mét.
Vì vậy nhôm tấm với độ dày đó không có sẵn cho họ.
Cuối cùng Liên Xô đã sử dụng nhôm có độ dày khác.
Nhiều hộp kim và vật liệu khác của Liên Xô phải được đưa vào sản xuất.
Các bộ phận phải được chế tạo lại để bù đậm cho những khác biệt nhỏ
và sau đó đảm bảo chúng được lắp và toàn bộ máy bay hoạt động như mong đợi.
Tuy nhiên các khẩu súng máy hạng nặng sử dụng trong B-29 phải thay thế bằng đại bác.
Đối với lốp xe, Liên Xô cũng phải lùng xuống khắp nơi.
Thách thức lớn nhất là nhân bản hệ thống điều khiển hỏa lực cực kỳ phức tạp
trên máy bay ném bom hạng nặng của Mỹ.
B-29 sử dụng 5 bộ máy tính General Electric để điều khiển 5 thiết bị ngắm bắn
đặt ở vị trí mũi và đuôi của máy bay.
Tất cả các loại vũ khí trên máy bay đều được xác định bởi 5 bộ máy tính này.
Hệ thống này sẽ xác định mục tiêu thông qua các thông số như tốc độ của máy bay,
trọng lực, nhiệt độ và độ ẩm, cũng như những thứ khác,
cho phép tăng độ ngắm bắn chính xác của vũ khí.
Hệ thống này phức tạp để nối ngay cả tổng công trình sư
về chế tạo máy bay của Liên Xô Andrei Tupolev.
Kỹ sư trưởng của dự án cũng phải ngạc nhiên
khi các kỹ sư của ông làm được điều không tưởng.
Sao chép siêu pháo đài B-29 của Mỹ gần như hoàn hảo.
Andrei Tupolev và nhóm của ông đã rất tìm bị trong nỗ lực sao chép siêu phẩm của Mỹ,
đến mức họ đã sao chép mọi chi tiết cuối cùng
bao gồm cả miếng dán thân máy bay và bảng màu của B-29.
Và tên của dòng máy bay ném bom hạng nặng Liên Xô
sao chép chiếc siêu pháo đài B-29 của Mỹ lấy chính tên của Tupolev.
Trong vòng trơ đầy 2 năm, năm 1946,
chiếc Tupolev T-4 Super Fortress của Liên Xô đã sẵn sàng.
Bất chấp nhiều thách thức, nguyên mẫu T-U-4 chỉ nặng hơn B-29 khoảng 340kg,
chênh lệch chưa đến 1%.
Nó trông gần như giống hệt chiếc B-29.
Nó có cùng xài cánh và cùng chiều dài thân máy bay.
Nó có cùng tốc độ, cùng phạm vi, cùng trọng tài.
Cú hích lịch sử
Chiếc Tupolev T-U-4 đầu tiên được đưa ra khỏi dây chuyển lắp ráp theo lịch trình vào năm 1947.
Siêu pháo đài của Liên Xô cất cánh lần đầu tiên vào ngày 19 tháng 5 năm 1947.
Sau khi ra đời, các dòng máy bay của Tupolev đã khiến thế giới ngạc nhiên
ít nhất qua những sự kiện nổi bật sau đây.
Thứ nhất, ngày 3 tháng 8 cùng năm, Liên Xô tổ chức ngày hàng không
tại sân bay Tushino, phía tây bắc Moscow.
Đại diện của tất cả các lực lượng không quân lớn nhất trên thế giới đều có mặt.
Ngay nhà ngoại giao Mỹ đứng quan sát, họ nghe thấy tiếng máy bay quen thuộc.
Nhìn lên, họ nhận thấy đó là 3 chiếc B-29 mà Liên Xô đã từ chối trao trả nhiều năm trước đó.
Chỉ khi chiếc máy bay thứ 4 xuất hiện, Tupolev T-U-4,
thế giới mới biết rằng Liên Xô đã sao chép thành công chiếc Boeing B-29 Superfortress của Mỹ.
Tupolev T-U-4 cuối cùng cũng được đưa vào sản xuất hàng loạt,
và đến năm 1952, khi quá trình sản xuất kết thúc,
khoảng 847 máy bay ném bom hạng nặng của Liên Xô đã được chế tạo.
Sự kiện thứ 2, đến đầu những năm 1960,
những chiếc T-U-4 đã được thay thế bằng những chiếc máy bay tiên tiến hơn.
Một biến thể của T-U-4 là T-U-4A đã làm nền lịch sử.
T-U-4A trở thành máy bay Liên Xô đầu tiên thả thử bom nguyên tự.
Ngày 18 tháng 10 năm 1951, quả bom nguyên tự RDX-3 Maria 42 kt
được thả phía trên bãi thử bom Semi-Paranis
tại vùng thảo nguyên rộng lớn ở phía đông bắc Kazakhstan.
Nói về bãi thử này, thì đây là nơi phổ vụ cho các cuộc thử nghiệm
những quả bom hạt nhân đầu tiên trong lịch sử Liên Xô.
Ngày 29 tháng 8 năm 1949, hai năm sau khi bãi thử được thành lập,
Liên Xô cho nổ thử quả bom hạt nhân đầu tiên.
Sau cuộc thử nghiệm, nhiều khu vực và làng mặt xung quanh bị bụi phóng xác hạt nhân tấn công.
Tuy nhiên, đó mới chỉ là mở đầu của một câu chuyện bi kịch dài phía sau.
Với gọn trong 40 năm diễn ra cuộc chiến tranh lạnh,
Liên Xô đã cho thử 473 vụ nổ hạt nhân tại Semi-Paranis,
trong đó có 90 vụ nổ trên không trung, 26 vụ nổ trên mặt đất và 354 vụ nổ dưới lòng đất.
Ngoài các thí nghiệm hạt nhân, Liên Xô còn cho thử 175 vụ nổ hóa chất,
44 vụ nổ trong số đó có khối lượng trên 10 tần hóa chất.
Theo đánh giá của các chuyên gia,
tổng sức mạnh của tất cả các vụ thử hạt nhân tại bãi thử này đã vượt qua 50 megatông.
Hiểu rõ hơn, tổng năng lượng của các vụ nổ tại bãi thử này gấp hơn 2.500 lần năng lượng
của cỏ bom The Little Boy mà Mỹ nem xuống thành phố Hiroshima của Nhật Bản vào ngày 6 tháng 8 năm 1945.
Hiệu quả thất yếu khó tránh khỏi chính là bụi phóng xác khuyết tán trên một vùng đất rộng 304.000 km2,
nơi có khoảng 1,7 triệu người dân cư trú,
và biển Semipalatis trở thành một vùng thả họa sinh thái chết chóc bậc nhất của Liên Xô.
Những tác động khủng khiếp của phơi nhiễm phóng xác khôn lường là thế,
nhưng chính phủ Liên Xô lại bí mật giấu kín trong hàng chục năm trời.
Bệnh tật, đau đớn và cuộc sống như ở địa ngục của người dân được ghi chép đầy đủ trong các tài liệu mật,
ngay cả trước khi bãi thử này chính thức đóng cửa vào ngày 29 tháng 8 năm 1991.
Tài liệu mật về sau cho thấy, khoảng 200.000 người dân đã trở thành vật thí nghiệm
cho các nhà khoa học trong việc khám phá những tiềm năng và nguy hiểm của vũ khí hạt nhân.
Theo đó, người dân được yêu cầu bước ra khỏi nhà khi Semipalatis thực hiện các vụ nổ thử nghiệm
để giới khoa học lấy đó làm cơ sở nghiên cứu tác động của bức xạ.
Và chính họ đã phải trả một cái giá quá khủng khiếp.
Toàn bộ đất, nước và không khí tại vùng thử bị nhiễm phóng xạ nặng nề.
Theo các nhà khoa học, mức độ phóng xạ tại khu vực thử và vùng lân cận cao gấp 10 lần so với bình thường.
Các hồ nước sinh ra từ các vụ nổ đều trở thành các hồ chết bởi không có bất cứ sinh vật nào có thể sống sót tại đó.
Tồi tệ hơn, từ 20 trẻ em trong khu vực lại có một trẻ bị di dạng nghiệp trọng.
Rất nhiều người dân phải đối mặt với các căn bệnh ung thư khác nhau.
Hơn một nửa dân số tại vùng đều chết trước 60 tuổi.
Mai cho đến những năm 1980, các nhà dân quyền tại Kazakhstan tạo áp lực liên giới lãnh đạo
nhằm giải thích rõ ràng những vụ nổ có hình đá mây nấm khổng lồ kia là gì
và hiểm họa âm thầm mà nó gây ra có tác động khủng khiếp thế nào đến môi sinh và con người.
Thế giới lãnh đạo mới dục dịch thực hiện.
Thí nghiệm hạt nhân cuối cùng được thực hiện vào năm 1989.
Hai năm sau, bãi tử này chính thức đóng cửa.
Nhưng những đau khổ, bệnh tật, chết chóc của người dân lại không dừng khi semi-plantins kết thúc.
Không nói đến những hậu quả khôn lường về môi sinh và sức khỏe con người từ gần 500 vụ thử hạt nhân của Liên Xô,
thì lịch sử phải công nhận một thực tế rằng
tuy người Liên Xô đi sau Mỹ trong cuộc đua về vũ khí ủy diện,
những thứ mà Liên Xô làm được về sau khiến chính nước Mỹ bạc hoảng.
Phải nói rằng nếu như Mỹ mở ra cái gọi là bình minh của kỷ nguyên nguyên tử,
thì Liên Xô nhanh chóng vùi dập ánh bình minh ấy,
nhanh chóng làm tiêu tan luôn giấc mộng bão vương hạt nhân của Mỹ trong thời chiến tranh lạnh.
Lý do tại sao?
Thì chúng ta hãy cùng theo dõi sự kiện thứ 3 sau đây.
Sự kiện thứ 3, không lâu sau đó.
Ngày 30 tháng 10 năm 1961 lịch sử.
Cả thế giới chấn động sau khoảnh khắc gấu khổng lồ Tupolev Tu-95 thả quả bom nhiệt hạch VDS-220
từ độ cao 10.500m phía trên của đảo Novaya Zemlya ở vùng Bắc Bằng Dương.
Quả bom nặng 27 tấn, dài 8m, đường kính 2,6m với sức mạnh tương đương 57 triệu tấn TNT,
bích ai vàng.
Mật danh của quả bom RDS-220 mà Liên Xô chế tạo,
trở thành vũ khí hạt nhân mạnh nhất từng được thử trong lịch sử nhân loại.
Cả Mỹ và NATO choáng váng.
Họ gọi thứ vũ khí có khả năng hủy chiếc khổng lồ ấy là Tessa Bomba,
bom xa hoảng hay bom vua.
Đối với Liên Xô, bích ai vàng chính là lời đáp trả đanh thép của nước này
trước những mối đe dọa đầy thách thức của Mỹ và Anh giữa thập niên 40 của thế kỷ trước.
Chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Liên Xô vì thế nóng hơn bao giờ hết.
Trở thành báo vươn hạt nhân nhờ bích ai vàng,
người Liên Xô nhanh chóng vùi dập niềm kêu hãnh mà Mỹ từng tạo dựng cách đó 16 năm
sau sự kiện phát triển thành công của bom nguyên tử đầu tiên trong lịch sử nhân loại,
có bom mang mật danh The Trinity vào ngày 16 tháng 7 năm 1945.
Cho đến nay, khi cuộc chiến dài rằng kéo dài hơn 4 thập kỷ đã tàn canh,
thì bích ai vàng vẫn là vũ khí hạt nhân mạnh nhất trong lịch sử quân sự của loài người.
Thưa quý vị, Tổng công trình sư về chế tạo máy bay của Liên Xô,
Andrei Tupolev cũng phải kinh ngạc trước công trình mà đội của mình sao chép được.
Quý vị và các bạn có nhận định gì sau khi xem xong video này?
Hãy để lại ý kiến và góp ý dưới phần bình luận cho chương trình biết.
Đừng quên nhấn nút đăng ký và chủng thông báo để đón xem những video mới nhất từ Tinh Hot 247.
Còn bây giờ, xin chào và hẹn gặp lại!