Khởi Nghĩa Hai Bà Trưng – Hai Nữ Tướng kiệt xuất của Dân tộc Việt | Hào Kiệt Non Sông |

Đình Sự
540 người theo dõi
Hơn 2000 năm trước, Trưng Trắc và Trưng Nhị – hai nữ anh hùng kiệt xuất của dân tộc Việt Nam – đã phất cờ khởi nghĩa chống ách đô hộ tàn bạo của nhà Đông Hán. Chỉ trong thời gian ngắn, nghĩa quân Hai Bà Trưng giành lại 65 thành trì, lập nên chính quyền tự chủ đầu tiên sau nhiều thế kỷ Bắc thuộc...
#toiyeubinhduong #riviubinhduong #toiyeushenyun #vanhoatruyenthong
Cách đây khoảng 2.000 năm, khi đất nước ta bị cai trị bởi nhà Đông Hán trong Bắc Thuộc lần thứ nhất.
Khi đó, nước ta bị chia làm 3 cuộn để nhà Đông Hán dễ dàng cai trị,
bao gồm Giao Trị, Cầu Trân và Nhật Nam.
Làn sóng di dân và mở rộng nền cai trị của nhà Đông Hán dẫn đến việc đẩy mạnh khai thác kinh tế.
Một số huyện lệ thái thú sang Giao Trị lấn chiếm đất đai của các lạc tướng.
Điều này khiến một bộ phận lạc tướng bên ngoài thì thuần phục nhà Đông Hán,
nhưng bên trong mầm mống nỗi cam giận đang nhèn nhóm.
Đến năm 34 sau Công Nguyên, nhà Đông Hán cho Tô Định làm thái thú quận Giao Trị.
Tô Định là một viên quan tham lam, tàn bạo, chuyên vơ vét của cải dân Việt.
Để cống nạp cho trường đình nhà Đông Hán.
Thời điểm đó, một lạc tướng huyện Mê Linh lấy bà Man Thiện.
Vào năm 14 sau Công Nguyên, họ sinh ra được hai người con gái song sinh,
đạt tên là Trương Chép và Trương Nhị.
Tuy nhiên, do chồng mất sớm, bà Man Thiện phải một mình nuôi hai con gái.
Cả hai đều giỏi võ, có tinh thần yêu nước và đều là những người có trí lớn.
Ở ngay bên cạnh huyện Mê Linh là đất Chu Diên,
có một chàng Thi Sách là con trai của lạc tướng huyện Chu Diên.
Họ cũng là người yêu nước và có trí lớn, chống lại ách đô hộ của nhà Đông Hán.
Sau đó, Trương Chép và Thi Sách kết hôn với nhau,
hai nhà đồng lòng hợp lực chống lại sự cai trị của nhà Đông Hán.
Họ đã nhận được sự ủng hộ rất nhiều của các thủ lĩnh địa phường khác.
Khi Thái Thú Giao Trị, Bồ Định biết tin,
ông đã cho người giết Thi Sách để sớm dập tắt ý định chống đối của hai nhà.
Hành động này như giọt nước tràn ly, những bất ức lâu ngày bị dồn nén này đã nổ ra dữ rồi.
Trương Chép, vợ của Thi Sách, con gái của lạc tướng huyện Mê Linh,
đất của các vua hùng xưa, đã đứng lên tập hợp chư hầu
cùng người em gái là Trương Nhị, Phất Cờ Khởi Nghĩa.
Vào ngày 4 tháng 9 năm 39 sau Cầu Nguyên, Trương Chép và Trương Nhị
đã tập hợp các tướng lĩnh cùng nhau làm hội thề
ở bãi đá Trang Sa, cửa Sông Hát, huyện Phúc Thọ, Hà Nội ngày nay.
Lời thề như sau
Một xin rửa sạch nước thù, hai xin dựng lại nghiệp xưa họ hùng,
bà kêu an ước lòng chồng, bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này.
Sau một thời gian chuẩn bị, đến tháng 2 năm 40 sau Cầu Nguyên,
Trương Chép và Trương Nhị chính thức phát động cuộc Khởi Nghĩa
chống lại nhà Đông Hán.
Khi Trương Chép xuất quân, tuy bà vẫn chưa hết tan trồng,
nhưng bà lại trang điểm rất đẹp.
Các tướng lĩnh hỏi vì sao, bà đáp rằng
Việc mình không thể ảnh hưởng.
Nếu giữ lễ và làm xấu dông nhan,
thì nguyện khí tự nhiên suy kém.
Cho nên, ta mặc đẹp để mạnh thêm phần màu sắc của quân
khiến cho bọn giặc trông thấy động lòng.
Lợi là trí tranh đấu, thì dễ giành phần thắng.
Mọi người nghe xong đều thán phục và càng ủng hộ cuộc Khởi Nghĩa.
Do được lòng dân, các địa phương đồng lòng đứng lên đánh đuổi quân sâm đường.
Quân Hai Bà Trưng nhanh chóng tiến đánh được thành Đô Ý, Tây Bù,
rồi chiếm thành Cổ Loa.
Sau khi có được thành Cổ Loa,
hai bà mang quân vượt sông Hồng, sông Đuống,
đánh trụ sở Giao Sì ở Lùi Lâu,
ngay thuộc thuận thành Bắc Ninh.
Do quân Khởi Nghĩa Hai Bà Trưng tiến quá nhanh,
khiến Tô Định không kịp trở tay.
Viên tướng cầm đầu trong quân của Tô Định không dám chống cự,
bỏ chạy ngay về phương Bắc.
Còn bản thân Tô Định cũng hốt hoảng tháo chạy thoát thân.
Hắn phải cạo tóc, cạo dâu,
trà trộn vào loạn quân, vút bỏ ấn tín mà chạy.
May mắn chạy được về quận Nam Hải.
Nhưng sau đó, hắn đã bị mã viện,
dâng tấu lên vua Đông Hán, hạch tội.
Vua Đông Hán đã bỏ tù, trị tội Tô Định.
Sau khi chiếm được quận Giao Trì,
Nghĩa quân Hai Bà Trưng đã tổng công kích,
thu phục được 65 thành trì.
Có nhiều ý kiến khác nhau về lãnh thổ
sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.
Các sử gia hiện đại thì cho rằng
Hai Bà Trưng đã chiếm được 4 quận,
bao gồm Giao Trì, Cầu Trân, Nhật Nam và Hợp Phố.
Nhưng theo sử sách cũ thì cho rằng
cuộc khởi nghĩa đã chiếm được 7 quận,
thêm 3 quận nữa là Thương Ngô, Quất Lâm và Nam Hải.
Nhưng theo thống kê thì 7 quận thời đó
chỉ có 56 thành mà khởi nghĩa Hai Bà Trưng chiếm được 65 thành.
Bởi vậy, nhiều học giả tin rằng
ngoài 7 quận trên,
Hai Bà Trưng còn chiếm được địa phận phía Nam
của quận Dương Châu và Kinh Châu.
Nếu điều đó là sự thật,
thì thời kỳ Trương Vương, lãnh thổ nước ta rất rộng lớn.
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thắng lợi,
trưng chắc lên ngôi vừa,
lấy hiệu là Trương Vương,
còn trưng nhị làm Phó Vương.
Hai Bà rời đô về Hạ Nội, huyện Mê Linh, Hà Nội ngày nay,
xây dựng bộ máy nhà nước Vương Triều,
gồm hai ban văn, võ,
đặc quan chia chức vụ, đảm nhiệm các công việc.
Sau khi thấy Hai Bà Sưng Vương,
Vùa Đồng Hán đã phòng mã Việt,
làm phục ba tướng quân,
lưu long làm Phó tướng chỉ đạo bộ binh,
đoàn trí làm Phó tướng chỉ đạo thủy quân,
tập hợp hai vạn quân,
cùng hai nghìn chiến thuyền,
sang xâm lược nước ta.
Ban đầu, quân Mã Việt tiến đánh Hợp Phố.
Ở đây Hai Bà Trưng cho nữ tướng Thánh Thiên trấn thủ,
quân Mã Việt không thể vượt qua.
Sau nhiều ngày giao chiến ác liệt nhưng không thể thắng nổi,
Mã Việt đã chuyển hướng tấn công,
cho quân tập trung ở bán đảo Hợp Phố.
Tại đây, Mã Việt cùng Lưu Long,
chia quân làm hai cánh quân.
Cánh quân bộ bí mật phá rừng lấp sông,
men theo sát bờ biển,
rồi cho quân đi ngầm qua quỷ Môn Quan,
lèn xuống vùng Lục Đầu,
để tiến vào Lãng Bạc.
Còn cánh quân thủy men theo đường biển đến Lãng Bạc.
Hai cánh quân thủy bộ của quân Đồng Hán,
dự định sẽ hội tại Lãng Bạc,
thuộc Tiên Du, Bắc Ninh ngày nay,
để tiến đánh Mề Linh.
Tuy nhiên, hai cánh quân thủy bộ của Mã Việt
đã vấp phải sự kháng cự rất mạnh của hai nữ tướng
Lê Trân, phụ trách quân thủy,
và Bác Nàn, phụ trách quân bộ,
đón đánh tại cờ biển.
Xong do quá tranh lệch về lực lượng,
nên hai nữ tướng phải lùi quân.
Khi hai cánh quân của Mã Việt tiến đến Lãng Bạc,
chúng gian quân ở tất cả các mặt trận.
Lúc này, hai bà Trưng từ Mề Linh qua Cổ Loa
xuống Lãng Bạc đón đánh quân Đồng Hán.
Tại đây, hai bên đã giao chiến dữ rồi
sau nhiều ngày đêm.
Tuy nhiên, Trưng Vương thấy thế quân Đồng Hán
mạnh không chống nổi,
đã cho lùi quân về dữ thành Cổ Loa.
Nhân đó, hai cánh quân thủy bộ của Mã Việt
hợp lại tiếp tục đánh Cổ Loa.
Sau khi Cổ Loa thất thủ,
Trưng Vương rút lui về Mề Linh.
Mã Việt tiếp tục cho quân đuổi theo.
Hai bà Trưng rút quân từ Mề Linh
về cố thủ tại Cấm Khê.
Còn cánh quân phòng thủ biên giới
của nữ tướng Thánh Thiên.
Sau khi nhận được tin báo,
hai bà Trưng bị vây hãm tại Cấm Khê
đã vội vàng rút quân về để cứu giá.
Nhưng do quân Đồng Hán quá mạnh,
hai bà Trưng thế cô không địch nổi,
nên bị thua trận.
Trưng Trắc và Trưng Hị đều hy sinh tại đây.
Theo tục truyền,
hai bà đã nhảy xuống dòng sông Hát,
đoạn sông đáy tại xã Hát Môn,
phúc họ nảy nhanh, tự vẫn
để bảo toàn thứ tiết.
Cuộc khởi nghĩa Hai Bài Trưng
và kháng chiến chống quân Đồng Hán
tuy thất bại,
nhưng nó mang ý nghĩa vô cùng to lớn
mở đầu cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc
chống lại ác đô hộ phong tiếm phương Bắc.
Tuy hai bà Trưng chỉ giải phóng Bắc nước
được trong hơn hai năm,
từ năm 40 đến năm 42 sau Cầu Nguyên,
nhưng đã để lại tiếng vang và chiến công bất diệt
trong lịch sử hơn 4.000 năm
giữ nước và giữ nước của dân tộc,
thể hiện tinh thần cuột thời
của nhân dân Việt Nam nói chung,
cũng như truyền thống anh hùng,
bất khuất của phụ nữ Việt Nam nói riêng.
Bởi vậy, nhân dân Việt Nam
ở nhiều nơi trên cả nước
đã lập đền thờ để thiếu nhớ công lao
của hai bà Trưng,
như đền thờ ở Hạ Nội,
tuyện Mê Linh, Hà Nội,
đền thờ ở Khát Môn,
tuyện Phúc Thọ, Hà Nội,
đền thờ ở Đồng Nhân,
quận Hai Bà Trưng, Hà Nội,
hay đền thờ ở Phương Sáu,
quận Bình Thạnh, Hồ Chí Minh.
