Lãnh Thổ Việt Nam thay đổi như thế nào qua các thời kỳ ? P1 | Hào Kiệt Non Sông |

Đình Sự
540 người theo dõi
Lãnh Thổ Việt Nam thay đổi như thế nào qua các thời kỳ ? P1 | Hào Kiệt Non Sông |
#toiyeubinhduong #riviubinhduong #toiyeushenyun #vanhoatruyenthong
Từ vùng đất Văn Lan huyền thoại, nơi thời đại hùng vương oai hùng, cội nguồn dân tộc được hình thành.
Qua bao cuộc kháng chiến mở mang mờ cõi, từ thời Lý, Trần đến Lê, Nguyễn, lãnh thổ Việt Nam không ngừng được cung cố và mở rộng,
tạo nên dài đất hình chữ S như chúng ta thấy ngày nay.
Trong hành trình hàng ngàn năm giấc nước và giữ nước, mỗi đất đất đều thấm đẫm mồ hôi, sương máu và trí tuệ của biết bao thế hệ cha ông.
Trong video ngày hôm nay, xin mời các bạn cùng nhìn lại lãnh thổ Việt Nam qua các thời kỳ để hiểu rõ hơn về sự hình thành, phát triển và giìn giữ từng vùng đất thiêng liêng của Tổ quốc.
Theo truyền thuyết, Kinh Dương Vương, tức Lộc Thục, là vị vua hùng đầu tiên của người Việt.
Ông đã đặt tên nước là Sích Quỷ.
Nước Sích Quỷ ban đầu rất lớn, phía bắc giáp Hồ Động Đình, phía tây giáp Ba Thục, nay là tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc,
phía đông giáp Biển, còn phía nam giáp nước Hồ Tôn, Chiêm Thành.
Đến năm 2879 trước Công Nguyên, ông truyền ngôi cho Sùng Lãm, hiệu Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân, cai quản các bộ tộc phía nam Sích Quỷ, đặt tên nước là Văn Lan.
Ông đóng đô ở Phong Châu, nay thuộc Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
Thời đại Hùng Vương duy trì được 2622 năm.
Từ năm 2879 trước Công Nguyên, đến năm 257 trước Công Nguyên.
Vào năm giáp thìm 258 trước Công Nguyên, Thục phán ở nước Âu Việt, hay còn gọi là Tây Âu,
đã đem quân chiếm lấy Văn Lan, đổi tên nước là Âu Lạc.
Thục phán sau đó xưng là An Dương Vương, đóng đô ở cổ loa Hà Nội ngày nay.
Nước Âu Lạc khi đó, phía bắc giáp sông Tà Giang, phía tây đến Ba Thục,
phía đông giáp Biển, phía nam giáp dãy núi Hoành Sơn, tức đèo ngang tỉnh Hà Tĩnh ngày nay.
Có nhiều tài liệu ghi chép về thời kỳ An Dương Vương khác nhau,
nhưng theo Đại Việt Sử ký Toàn Thư thì thời kỳ An Dương Vương tồn tại được 50 năm.
Từ năm 257 trước Cầu Nguyên đến năm 208 trước Cầu Nguyên.
Vào năm 208 trước Cầu Nguyên, nhân lúc nhà Tân suy loạt,
quan quý Triệu Đà ở quận Nam Hải đã tấn công Âu Lạc.
An Dương Vương thua trận.
Triệu Đà đã gộp lãnh thổ nước Âu Lạc vào quận Hải Nam,
hành lập nước Nam Việt, đám đô ở Phiên Ngu, nay thủ tỉnh Quảng Châu, Trung Quốc.
Nước Nam Việt thời đó rất rộng lớn.
Thời kỳ họ Triệu tồn tại được 97 năm, từ năm 208 đến năm 111 trước Cầu Nguyên.
Có hai lường ý kiến trái ngược nhau về thời nhà Triệu.
Thời đại phong quyến thì cho rằng nhà Triệu là một triều đại chính thống của nước ta.
Tuy nhiên, các nhà sử học từ thế kỷ 18 trở lại đây bác bỏ điều này,
cho rằng đây là thời điểm bắt đầu một nghìn năm bác thuộc.
Năm Tân Bùi, 111 trước Cầu Nguyên, nước Nam Việt bị nhà Hán thu phục,
chia Nam Việt thành 9 quận.
Đến năm Canh Tý, 40 sau Cầu Nguyên, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng trỗi dậy.
Hai bà lấy được 65 thành ở lĩnh Nam.
Sau đó bà Trưng chắc lập làm vua, xưng là Trưng Vương.
Tuy nhiên, thời kỳ Trưng Vương chỉ kéo dài được 3 năm,
từ năm 40 sau Cầu Nguyên đến năm 42 sau Cầu Nguyên.
Sau đó lại bị nhà Hán thu phục.
Đến năm 220, nhà Hán mất ngôi.
Lúc này, Trung Quốc chia làm ba là thời kỳ Tam Quốc, nước ta bị cai trị bởi Đông Ngô.
Sau thời kỳ Tam Quốc, nước ta tiếp tục bị cai trị bởi nhà Tấn, Tống, Tề, Lương.
Vào năm Tân Dậu, năm 544, Lý Bí khởi nghĩa dành lại độc lập,
xưng là Lý Nam Đế, thành lập nước Vạn Xuân,
thời tiền Lý, đóng đô ở Long Biên, Hà Nội ngày nay.
Quốc hiệu Vạn Xuân tồn tại từ năm 544 đến năm 602.
Trong khi đó, ở phương Bắc, nhà Tùy đã thống nhất Trung Hòa.
Năm 602, nhà Tùy cho quân xâm chiếm Vạn Xuân.
Vạn Xuân nhanh chóng thất thủ.
Và kể từ năm 603 đến năm 905, tức hơn 300 năm,
nước ta bị đô hộ bởi nhà Tùy rồi đến nhà Đường.
Từ năm 907 đến năm 937 là thời kỳ nhà Đường sụp đổ,
Nam Bắc phân tranh.
Mặc dù trên danh nghĩa vẫn phụ thuộc phương Bắc,
nhưng ở nước ta đã nổi lên hai người tự xưng là Tiết Độ Xứ,
đó là Khúc Thừa Dụ và Dương Đình Nệ,
mở nền móng cho việc giành độc lập tự chủ sau này.
Năm 938, Ngộ Quyền đã đánh đuổi quân Nam Hán,
danh độc lập Xưng Vương, lập danh nhà Ngô,
đóng đô ở Cổ Lò, Hà Nội ngày nay, kết thúc một nghìn năm Bắc thuộc.
Khi đó, nước ta chỉ còn có 8 châu.
Sau khi Ngộ Quyền mất, Đình Bộ Lĩnh đã dẹp loạn 12 xứ quân.
Năm 968, ông Xưng Vương, tức Đinh Tiên Hoàng,
đặt quốc hiệu trở lại sau 400 năm là Đại Cổ Việt,
đóng đô ở Hoa Lư, Ninh Bình.
Lãnh thổ nước ta khi đó được giữ nguyên qua các đời của
Đình Phê Đế, Lê Đại Hành, Lê Trung Tâm, Lê Lòng Đĩnh.
Đến thời Vua Lý Thái Tổ, năm 1014,
nước Đại Lý đem quân vào chiếm đóng châu Vị Long và châu Đô Kim.
Vua Lý Thái Tổ sai con là giựt Thánh Vương đi đánh dẹp.
Quân Đại Lý đại bại.
Nhân cơ hội đó, Lý Thái Tổ xác nhập luôn khu vực này vào Đại Cổ Việt.
Sau đó, Lý Thái Tổ đổi tên nước là Đại Việt năm 1054.
Đến năm 1069, Vua Lý Thánh Tông Nam Tiến
bắt được Vua Chiên Thành đem về kinh đô Thăng Long.
Để được tha mạng, Vua Chiêm đã phải cắt cho Đại Việt 3 châu phía bắc
là Bồ Chính, Ma Linh và Địa Lý.
Đại Việt đã mở rộng thêm lãnh thổ.
Năm 1159, nhân khi nước Đại Lý suy yếu,
Vua Lý Anh Tông và Tô Hiến Thành
đã tiến hành thu phục vùng đất của các tù trưởng dân tập thiểu số người Thái,
sau đó xác nhập khu vực này vào Đại Việt.
Kể từ đó, lãnh thổ Đại Việt không có nhiều thay đổi đến thời Trần.
Năm 1306, Vua nước Chiên Thành
đã cắt 2 châu cho Vua Trần Anh Tông của Đại Việt
để làm sính lễ cưới huyền chân công chúa.
Biên giới phía nam của Đại Việt lúc này kéo dài đến đeo Hải Vân.
Đến năm 1400, khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền,
đổi tên nước Đại Việt thành Đại Ngu,
rời đô từ Thăng Long về Tây Đô, tức Thanh Hóa ngày nay.
Năm 1402, nhà Hồ Nam Tiến lấy được thêm 2 mảnh đất của Champa
là Chiêm Động và Cổ Lũy, xác nhập vào nước Đại Ngu.
Năm 1406, nhà Minh ở Trung Quốc dùng chiêu bài
Phu Trần Diệt Hồ mang quân sang xâm lược Đại Ngu.
Nhà Hồ nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn,
nước ta bị xác nhập vào nhà Minh, rơi vào Bắc thuộc lần thứ tư.
Vào năm 1418, Lê Lợi và các hào kiệt phất cơ khởi nghĩa Lam Sơn
tại vùng miền núi Thanh Hóa.
Ông tự xưng là Minh định vương kêu gọi người dân đồng lòng
đứng lên đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh cấu nước.
Lúc này, lãnh thổ đất Việt chỉ còn lại Lam Sơn, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa.
Đến năm 1424, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bắt đầu tiến vào phía Nam
và giành được những thắng lợi quan trọng.
Đến cuối năm 1425, Lê Lợi đã làm chủ toàn bộ đất đai từ Thanh Hóa trở vào.
Năm 1428, Lê Lợi Lê Ngôi, tức Vua Lê Thái Tổ,
chính thức dựng lên nhà Hậu Lê.
Do chiến công hiển hách đánh bại quân Minh,
giành lại quyền tự chủ cho người Việt,
ông trở thành một vị anh hùng dân tổng trong lịch sử Việt Nam.
Tên tuổi của ông được lâu truyền đến ngàn đời sau.
Năm 1471, Vua Lê Thánh Tông mang 20 vạn quân Nam Tiến
đánh vào kinh đô nước Chiêm Thành.
Chiêm Thành nhanh chóng thất thủ.
Vua Lê Thánh Tông đã xác nhập vùng đất Bắc Chiêm Thành vào Đại Việt.
Ngày nay bao gồm đất ở các tỉnh Đà Nẵng, Con Tông và Gia Lai.
Năm 1478, sau khi thu phục tiểu vườn quốc Bồn Man,
Vua Lê Thánh Tông đã xác nhập vùng Sơn La,
các huyện phía Tây của Thanh Hóa, phía Tây Nghệ An
và tỉnh Hủa Phan của Lào vào đất Đại Việt.
Kể từ năm 1478 đến nay, đất nước ta đã trải qua rất nhiều cuộc chiến
dẫn đến lãnh thổ liên tục thay đổi,
trở thành hình chữ S như chúng ta thấy ngày nay,
mà tôi sẽ nói chi tiết trong video kỳ tới.
Cảm ơn bạn đã theo dõi hết video ngày hôm nay.
Đừng quên đăng ký kênh và bật chuông thông báo
để đón xem những video hấp dẫn và thú vị của kênh nhé.
Còn bây giờ, xin chào và hẹn gặp lại!
