Tin Học 12 - Bài 4. Giao thức mạng

IT-Master
1 Người theo dõi
53 Lượt xem video·23 thg 11, 2025
Các bạn cần tải về file powerpoint của bài giảng liên hệ Zalo 0905234348 nhé. Phí 30k/bài hoặc 500k/lớp.
Chào mừng các bạn đến với chương trình Hướng dẫn học tiên học lớp 12, sách giấu khoa kết nối tri thức với cuộc sống.
Chúng ta sang bài 4, Giao thức mạng.
Bài này chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu vai trò và chức năng của các giao thức mạng,
trong đó chủ yếu là giao thức TCPIP, một giao thức rất là quan trọng trong kết nối mạng máy tính và Internet.
Trong cuộc sống hằng ngày, để giao tiếp với nhau chúng ta thường sử dụng ngôn ngữ, chủ yếu là ngôn ngữ nói.
Nhưng với những người khuyết tập như là người Câm, người Điết, người ta không thể nghe, không thể nói được,
thì người ta sẽ giao tiếp với nhau bằng cái ngôn ngữ riêng của họ nha.
Đó là ngôn ngữ ký hiệu.
Như vậy, để giao tiếp với người Câm, người Điết, chúng ta phải học cái ngôn ngữ ký hiệu của họ.
Bây giờ chúng ta sẽ cùng xem một cái đoạn video ngắn sau đây để xem cái ngôn ngữ ký hiệu là ngôn ngữ như thế nào
và nó có khó học lắm không?
Chúng ta thấy là ngôn ngữ ký hiệu nó cũng khá là đơn giản.
Đó là những ký hiệu được biểu diễn bởi cử chỉ của bàn tay kết hợp với biểu cảm của khung mặt.
Nhưng mà nó cũng có những quy tắc của nó nha.
Ví dụ chúng ta muốn biểu diễn số 1, chúng ta sẽ đưa một ngón tay lên một lần.
Nhưng cũng đưa một ngón tay lên nhưng đưa hai lần liên tiếp thì đó là số 11 nha.
Hay là để chào thì chúng ta đưa tay lên và vãy tay.
Nhưng mà nếu đưa tay lên sau đó xòe ra kết hợp với cuối người thì đó là cảm ơn.
Chúng ta thấy là nó có những quy tắc rõ rệt hết.
Những quy tắc trong giao tiếp đó trong kỹ thuật người ta gọi là giao thức nha.
Thế còn trong mạng máy tính thì các thiết bị sẽ giao tiếp với nhau như thế nào?
Các thiết bị trong mạng như là điện thoại, máy tính bản, máy tính sách tay, máy tính để bàn, camera, máy in v.v.
Nó không nghe, không nói được.
Vậy nó giao tiếp với nhau như thế nào?
Nó sẽ dựa vào các quy tắc giao tiếp hay là các giao thức nha.
Các giao thức được sử dụng trong mạng máy tính người ta gọi là giao thức mạng.
Và bây giờ chúng ta sẽ đi vào bài học để tìm hiểu kỹ hơn về các giao thức mạng nha.
Chúng ta đi vào nội dung thứ nhất của bài học giao thức mạng.
Trước hết chúng ta sẽ tìm hiểu cái khái niệm giao thức mạng là gì qua một cái ví dụ về giao thức mạng.
Đó là giao thức Ethernet, giao thức về truyền thông tin dữ liệu trong mạng cục bộ, mạng LAN nha.
Đây là một cái mạng cục bộ gồm có hai cái máy tính kết nối với nhau thông qua một cái switch.
Vậy trong mạng cục bộ này, hai cái máy tính này nó giao tiếp với nhau như thế nào?
Nó sẽ sử dụng cái giao thức Ethernet này nha.
Vậy thì giao thức Ethernet nó quy định những gì?
Thứ nhất là về mặt địa chỉ.
Mỗi thiết bị tham gia mạng phải có địa chỉ MAC được gắn với cạc mạng.
Ví dụ máy tính này, để tham gia vào mạng máy tính thì nó phải có một cái cạc mạng như thế này.
Cạc mạng này, chúng ta tháo cái CPU này ra.
Chúng ta sẽ thấy được cái cạc mạng này nó cắm vào trong cái bảng mạch của CPU.
Ở đây chúng ta thấy là nó có cái cổng mạng.
Thì phía sau của cái CPU chúng ta sẽ tìm thấy những cái cổng mạng như thế này.
Có cổng mạng tức là có cái cạc mạng nha.
Và chúng ta sẽ đấu cái cáp mạng của chúng ta vào trong cái cổng mạng này.
Cổng này người ta còn gọi là cổng Ethernet.
Và dây cáp mà đấu vào cái cổng mạng, cổng Ethernet này người ta gọi là cáp Ethernet.
Và mỗi cạc mạng này nó sẽ có một cái địa chỉ gắn liền với nó.
Địa chỉ như thế này.
Địa chỉ này người ta gọi là địa chỉ MAC nha.
Nó gắn liền với cái cạc mạng.
Do đó nếu như mà chúng ta tháo cạc mạng này ra, cắm vào một cái máy tính khác,
thì cái địa chỉ này nó cũng đi theo luôn nha.
Tương tự như vậy, cái máy tính này nó cũng có một cái cạc mạng và một cái địa chỉ MAC đi kèm.
Máy tính nào tham gia vào mạng cục bộ và muốn giao tiếp với nhau,
thì nó phải có cái địa chỉ MAC này nha.
Địa chỉ MAC này chúng ta rất là dễ dàng tìm thấy trên máy tính của chúng ta.
Vào trong cái nối mạng, phần thuộc tính Property,
chúng ta sẽ thấy được cái thông tin về địa chỉ MAC.
Quy định thứ 2 là về việc truyền dữ liệu.
Dữ liệu được truyền trong mạng cục bộ sẽ căn cứ vào địa chỉ MAC.
Giả sử máy tính này nó muốn truyền một cái gói tinh đến máy tính này.
Máy tính này người ta gọi là máy tính nguồn nha.
Và máy tính này là máy tính đích.
Gói tinh cần truyền đi là đây.
Gói tinh ở đây tức là những cái dữ liệu,
ví dụ như là một cái tẹp tinh, một bức ảnh, một đoạn nhạc,
một bộ phim, một video, v.v.
Đó chính là dữ liệu.
Và dữ liệu đó nó sẽ được truyền đi bằng những cái gói tinh như thế này nha.
Thì trong những cái gói tinh này,
nội dung của nó bao gồm
Destination Address, tức là địa chỉ nguồn,
tức là địa chỉ của máy tính nguồn.
Đây ha, địa chỉ đây là địa chỉ MAC nha.
Và Source Address, địa chỉ đích.
Địa chỉ đích là địa chỉ của cái máy tính này.
Máy tính đích ha.
Địa chỉ đây là địa chỉ MAC ha.
Còn cái phần nội dung là Data đây ha.
Đây chính là cái nội dung mà chúng ta muốn truyền đi.
Ví dụ như là tẹp tinh, là một cái đoạn phim,
đoạn video, hay là một cái bức ảnh,
một đoạn nhạc, v.v.
Đó là cái phần Data ha.
Chủ yếu là hai cái thông tin này.
Địa chỉ nguồn và địa chỉ đích ha.
Như vậy cái gói tin này,
đầu tiên nó sẽ được gửi từ cái máy tính nguồn này
đến cái Switch nha.
Và Switch nó sẽ đọc cái thông tin trong cái gói tin này.
Địa chỉ nguồn, địa chỉ đích.
Nó sẽ biết được gói tin này đến từ máy tính nào
và sẽ phải được chuyển đến máy tính nào.
Từ đó nó sẽ chuyển cái gói tin đó
đến đúng cái máy tính mà cần nhận cái gói tin.
Như vậy chúng ta thấy là dữ liệu
được truyền từ máy tính này sang máy tính khác
là nó dựa vào địa chỉ MAC nha.
Bởi vì một cái mạng cục bộ
nó sẽ có rất là nhiều các cái máy tính,
rất là nhiều các cái gói tin
được gửi đến cái Switch này.
Thì để mà có thể chuyển cái gói tin đó
đến đúng cái máy tính cần nhận,
thì Switch này nó cần phải đọc được cái thông tin
địa chỉ nguồn và địa chỉ đích,
địa chỉ MAC này ha.
Quy định thứ ba là mã kiểm tra.
Dữ liệu chuyển đi có kèm mã kiểm tra
để phát hiện lỗi.
Nếu có lỗi sẽ yêu cầu gửi lại dữ liệu.
Ở đây chúng ta sẽ truyền một cái gói tin
từ máy tính nguồn đến máy tính đích,
gói tin này.
Như chúng ta đã biết,
thông tin trong cái gói tin này
nó sẽ gồm có các cái trường như thế này.
Trong đó bắt buộc phải có một cái trường là trường CRC.
Đây chính là cái mã kiểm tra nha.
Mã kiểm tra này nó sẽ giúp
cái máy tính đích, máy tính này
phát hiện ra được lỗi
của các cái gói tin mà nó nhận được ha.
Chúng ta đã biết là những cái gói tin
mà chúng ta truyền đi trong mạng
thực chất nó là một giải
các cái tiếng hiệu bit 0110 đây nha.
Thì ở đây giả sử cái gói tin
mà chúng ta cần truyền đi
có tổng cộng là 10 bit.
Thông tin này sẽ được ghi rõ
trong cái mã kiểm tra nha.
Và quá trình truyền cái gói tin này
từ máy tính nguồn đến switch,
sau đó từ switch đến máy tính đích
thì chúng ta thấy là nó rơi rụng bớt.
Chỉ còn ở đây là 8 bit thôi.
Nguyên nhân có thể là do
cái đường truyền bị lỗi
hoặc là do tính hiệu thu quá kém.
Thế thì làm thế nào mà máy tính đích
nó phát hiện ra được lỗi
của cái gói tin này?
Nó sẽ dựa vào mạng kiểm tra nha.
Bởi vì trong mạng kiểm tra có ghi rõ
là gói tin có tổng cộng là 10 bit
nhưng mà ở đây nó nhận được
chỉ có 8 bit thôi.
Như vậy là nó biết cái gói tin này
là đang bị lỗi
và nó sẽ yêu cầu cái máy tính nguồn
gửi lại cái gói tin nha.
Đây là cơ chế để mà phát hiện lỗi
nhờ vào cái mạng kiểm tra ha.
Quy định thứ 4
là khung truyền dữ liệu.
Dữ liệu được truyền theo từng gói
tiếng Anh người ta gọi là frame
dịch ra là gói hay là khung cũng được nha.
Có độ dài xác định.
Ví dụ ở đây chúng ta
cần truyền một cái đoạn
video ngắn từ cái máy tính nguồn
đến máy tính đích
thì cái đoạn video ngắn đó
nó sẽ được chia ra thành nhiều
Ví dụ cái gói tin như thế này
các cái gói tin nó có độ dài tương đương nhau nha
Như chúng ta đã biết
thông tin trong mỗi gói tin
nó là gồm có những thông tin như thế này
và dung lượng của nó
chúng ta cộng lại chúng ta sẽ tính được nha
Ví dụ địa chỉ nguồn là 6 byte
địa chỉ đích 6 byte, độ dài 2 byte
nội dung chính từ 46 đến
1500 byte, mã kiểm tra lỗi
4 byte. Chúng ta cộng lại
chúng ta sẽ biết được dung lượng
của mỗi gói tin nó là bao nhiêu byte
Ví dụ cái video của chúng ta
là 100 megabyte chẳng hạn
chúng ta chia ra, chúng ta sẽ biết được
là cái video đó
nó sẽ được chia ra thành
bao nhiêu gói tin
Và cái đoạn video của chúng ta
khi được truyền trên mạng
nó sẽ là các cái gói tin nhỏ nhỏ như thế này
Nguyên nhân là do cái giới hạn
của cái đường truyền nha
cũng như là giới hạn của khả năng xử lý
của các thiết bị như là switch, router
chẳng hạn, rồi khả năng
tiếp nhận dữ liệu của các máy tính đích
rất là nhiều nguyên nhân
mà chúng ta bắt buộc phải chia dữ liệu của chúng ta
thành các cái gói tin nhỏ nhỏ như thế này
thì nó mới truyền đi được trên mạng
Và một quy định nữa
đó là xử lý xung đột tiếng hiệu
kiểm tra đường truyền có đang
được sử dụng hay không trước khi bắt đầu
truyền dữ liệu
Để truyền dữ liệu từ máy tính nguồn
đến máy tính đích thì trước khi truyền
thường máy tính nguồn nó sẽ
phát đi một tiếng hiệu để kiểm tra
đường truyền
Giả sử trên đường truyền ở đoạn này
nó đang bị tắt ngã
có hiện tượng xung đột tiếng hiệu
thì tiếng hiệu
thăm dò của máy tính nguồn
nó sẽ phát hiện được
nó gửi đến đây, nó phát hiện được
tắt ngã ở đây
nó về thông báo lại cho máy tính nguồn
máy tính nguồn nó sẽ chưa thực hiện
truyền dữ liệu
Đến khi nào điểm tắt ngã này
đã được giải phóng, tức là không còn
xung đột tiếng hiệu ở điểm này nữa
nó kiểm tra thấy đường truyền đã được thông suốt
thì máy tính nguồn nó mới
bắt đầu truyền tiếng hiệu
Đây là quy định
bắt buộc để hạn chế
việc tắt ngã trên đường truyền
hay là hạn chế hiện tượng xung đột
tiếng hiệu xảy ra trên đường truyền
Đây chính là các quy định
hay là các quy tắc
của giao thức Ethernet
Mục đích của nó là để đảm bảo
các thiết bị tham gia vào mạng
được kết nối với nhau
và có thể truyền dữ liệu được cho nhau
giao tiếp với nhau được hiệu quả
Tập hợp các quy định
các quy tắc này
người ta gọi là một giao thức
Đây là một ví dụ về giao thức
Tóm lại, hiểu một cách đơn giản
Giao thức mạng
là tập hợp các quy định
về cách thức giao tiếp để truyền dữ liệu
giữa các đối tượng tham gia mạng
Mục đích của giao thức mạng là để làm gì?
Chúng ta đã biết là các quy định này
liên quan đến định dạng, ý nghĩa
và cách xử lý dữ liệu
nhằm để đảm bảo
việc gửi và nhận được thực hiện chính xác
tiên cậy và hiệu quả
Đây chính là định nghĩa về giao thức mạng
và đây là mục đích hay ý nghĩa
của giao thức mạng
Tiếp tục, chúng ta đi vào tìm hiểu
các giao thức mạng phổ biến
Đây là một số ví dụ về các giao thức mạng
đang được dùng hiện nay
Đầu tiên là HTTP
Đây là giao thức truyền tả dữ liệu
trên web
Chúng ta truy cập được vào trang web
đi từ trang web này đến trang web khác
là nhờ vào cái giao thức này
HTTPS
Đây cũng là giao thức truyền tả dữ liệu
trên web nhưng mà nó có bảo mật
tức là nó tiên cậy hơn
Còn FTP là giao thức truyền file
Chúng ta gửi một tệp tin
một cái hình ảnh, một cái video
từ máy tính này sang máy tính khác
thì chúng ta phải dùng đến cái giao thức
truyền file, giao thức FTP
TCP giao thức điều khiển
truyền dữ liệu trong mạng
UDP cũng là giao thức điều khiển truyền dữ liệu
trong mạng, hai giao thức này
nó cũng có cái điểm khác nhau
nhưng ở đây chúng ta không đi chuyên sau vào
do đó chúng ta không nêu ra
các cái điểm khác nhau giữa hai giao thức này
Còn IP là giao thức
định tuyến trong mạng
SMTP là giao thức gửi email
Chúng ta gửi email đi thì chúng ta sẽ
sử dụng đến giao thức này
Còn nhận mail thì chúng ta
sử dụng giao thức POP3 hoặc là e-mail
Ở đây khi mà chúng ta
khai báo trên máy tính, khai báo
các cái hộp thư điện tử của chúng ta
thì thường chúng ta sẽ có khai báo
các cái thông tin về giao thức
Đây là các cái giao thức mà chúng ta sẽ sử dụng
trong hộp thư của chúng ta để
gửi email, nhận mail
SSH là giao thức
truy cập từ xa, chúng ta đứng
máy tính này muốn truy cập vào
một cái máy tính khác trên mạng, chúng ta sẽ
sử dụng cái giao thức SSH
Rồi WAP là giao thức truyền tả
dữ liệu giữa các thiết bị không dây
tức là mạng Wi-Fi
Trong mạng Wi-Fi chúng ta giao tiếp được với nhau
nhờ cái giao thức này, giao thức WAP
Đây là một số các cái
giao thức mạng mà chúng ta thường gặp
Thật ra nó có rất là nhiều nha
Chúng ta chỉ liệt kề ra một vài
cái thông dụng thôi
Câu hỏi của phần 1
Giao thức là gì?
Giao thức ở đây là giao thức mạng nha
Giao thức mạng là tập hợp các
quy định về cách thức giao tiếp
để truyền dữ liệu giữa các đối tượng tham gia mạng
Câu 2, nêu ý nghĩa của giao thức mạng
ý nghĩa của giao thức mạng là
tạo ra một cơ chế chuẩn
để các thiết bị và hệ thống trong mạng
có thể giao tiếp và làm việc với nhau
một cách hiệu quả và đáng tiện cậy
Chúng ta sang nội dung thứ 2
của bài học, giao thức TCP-IP
Phần này chúng ta sẽ đi vào
tìm hiểu kỹ
2 cái giao thức rất là quan trọng
của mạng máy tính và mạng Internet
đó là giao thức TCP và IP
Trước hết là chúng ta tìm hiểu
về giao thức IP nha
Trước khi đi vào tìm hiểu
về các quy định, quy tắc của giao thức IP
thì chúng ta phải hiểu rõ
về địa chỉ IP
Đây là các địa chỉ IP
Trên máy tính của chúng ta
chúng ta có thể tìm thấy
các địa chỉ IP này
ở phần kết nối Internet
hay là kết nối mạng
vào phần thuộc tính
chúng ta sẽ có đầy đủ thông tin
về các địa chỉ IP của máy tính
đầu tiên là địa chỉ MAC
physical address
đây là địa chỉ MAC
được viết dưới dạng số hexa
địa chỉ MAC thì nó sẽ gồm có 6 byte
gắn liền với phần cứng
và không thay đổi được
thứ 2 là địa chỉ IPv4
IPv4 address
192.168.1.11
chúng ta thấy nó được viết
dưới dạng số thập phân
địa chỉ IPv4 thì nó gồm có 4 byte
và được gắn cho thiết bị
có thể thay đổi tức là gắn lại
ví dụ máy tính của chúng ta
đang kết nối
đến mạng cục bộ ở nhà
và nó sẽ được gắn
địa chỉ là 192.168.1.11
nếu như chúng ta đem máy tính của chúng ta
đến trường
tham gia vào mạng cục bộ của trường
thì địa chỉ IPv4 này
có thể được gắn lại
còn địa chỉ IPv6
IPv6 address
viết dưới dạng số hexa
nó rất là dài
bởi vì nó có tổng cộng là 16 byte
mục đích của địa chỉ IPv6
là để thay thế cho IPv4
cung cấp đủ IP
cho tất cả các thiết bị thiên toàn cầu
bởi vì chúng ta biết là địa chỉ IPv4
nó chỉ có 4 byte thôi
như vậy tổng số địa chỉ IPv4
mà chúng ta có thể có được
nó sắp xỉ khoảng 4 tỷ IP thôi
không đủ cho tất cả
thiết bị trên toàn cầu
do đó người ta mới tạo ra IPv6
số lượng nó lớn hơn rất là nhiều
để mà có thể dùng đủ
cho tất cả thiết bị mạng trên toàn cầu
các địa chỉ IP
thì thường được tính bằng
byte
1 byte thì gồm có 8 bit
được viết dưới dạng số nhị phăng
là như thế này
đây là 1 byte
2 byte, 3 byte, 4 byte
đây là 4 byte
dành cho một địa chỉ IPv4
chúng ta đổi sang số thập phăng là đây
từ số nhị phăng đổi sang số thập phăng
như vậy cái địa chỉ này
đổi sang số thập phăng là
địa chỉ 227.82.157.177
còn nếu như đổi sang
số hexa thì là đây
từ nhị phăng
đổi sang số hexa là đây
chúng ta thấy là địa chỉ MAC
nó gồm có 6 byte
ở đây là chỉ có 4 byte thôi
đổi sang số hexa là đây
còn 6 byte là đây
1,2,3,4,5,6
còn địa chỉ IPv6 thì có tổng cộng
16 byte
nó còn dài ra nữa
chúng ta cũng tìm hiểu một chút
về cái khái niệm subnet mask
và subnet ip
ví dụ với cái máy tính của chúng ta
thì cái mạng cục bộ
mà chúng ta đang tham gia vào
nó có subnet mask là
255.255.255.0
cái ý nghĩa của nó là gì
với cái subnet mask này
thì cái mạng cục bộ của chúng ta
sẽ có số lượng ip tối đa
là 254 ip
xin lỗi 256
nhưng mà có 2 ip không dùng
là ip dành cho lớp mạng
và ip broadcast
do đó còn lại 254 cái ip
có thể dùng được
với cái subnet mask này
thì cái mạng cục bộ của chúng ta
sẽ có cái địa chỉ lớp mạng
là 192.168.1.0
xuyệt 24
là cái thuật ngữ dùng
để thay cho cái 255.255.255.0
và với cái lớp mạng
có cái địa chỉ mạng này
thì các cái thiết bị
tham gia vào cái mạng cục bộ này
nó sẽ được cấp cái ip
từ 192.168.1.1
cho đến 192.168.1.254
tổng cộng tối đa
là 254 cái ip
dành cho 254 cái thiết bị
chúng ta hiểu một chút
về cái khái niệm này
chứ chúng ta không đi chuyên sau
bây giờ chúng ta
sẽ đi vào nội dung chính của giao thức ip
vậy giao thức ip
nó có nội dung như thế nào
hay là nó quy định những gì
nó có 2 cái nội dung
thứ nhất là thiết lập địa chỉ ip
cho các cái thiết bị tham gia mạng
và thứ 2 là định tuyến
để dữ liệu có thể đi từ thiết bị gửi
đến thiết bị nhận
giả sử chúng ta có 3 cái mạng cục bộ
của 3 trường học
mạng thứ nhất, mạng thứ 2
và mạng thứ 3
3 cái mạng cục bộ của 3 trường học
nó riêng biệt, không có liên quan gì đến nhau
chúng ta sẽ kết nối
3 cái mạng cục bộ này lại
sử dụng router để kết nối
mục đích kết nối 3 cái mạng cục bộ này
là để các cái thiết bị
từ cái mạng này
nó có thể giao tiếp được
với các cái thiết bị của mạng khác
ví dụ chúng ta muốn gửi 1 cái bức thư điện tử
từ cái máy tính này
đến máy tính này
thì qua các cái kết nối này chúng ta mới gửi được
và cái việc thiết lập địa chỉ ip
cho các cái thiết bị tham gia mạng
sẽ được thực hiện như sau
mỗi cái mạng cục bộ
sẽ có 1 cái địa chỉ lớp mạng
ví dụ cái mạng cục bộ này
sẽ được cấp 1 cái địa chỉ lớp mạng
là 10.10.10.0
xuyệt 24
đây là cái subnet mask
với cái subnet mask này
thì cái mạng cục bộ này
nó sẽ có tối đa
là 254
thiết bị tham gia vào mạng
hay là 254 cái địa chỉ ip
bắt đầu từ
10.10.10.1
ví dụ máy tính này có địa chỉ là
10.10.10.1
máy tính này là 10.10.10.2
và máy tính này là 10.10.10.3
tiếp tục có những máy tính khác
kết nối vào mạng cục bộ này
nó sẽ có cái địa chỉ tiếp theo là
.4.5.6 cho đến .254
tối đa là
254 thiết bị
254 cái ip
tương tự như vậy
với cái mạng cục bộ này
địa chỉ lớp mạng là
20.20.20.0
x 24
các máy tính trong mạng cục bộ này
nó sẽ có địa chỉ là
20.20.20.1
máy tính này là .2
máy tính này là .3
tương tự như vậy với mạng cục bộ này
địa chỉ lớp mạng là
30.30.30.0 x 24
máy tính này là
30.30.30.1
máy tính này là .2
máy tính này là .3
với cái giao thức ip
thì bước đầu tiên khi
một cái thiết bị hay là một cái máy tính
tham gia vào mạng là nó sẽ được cấp
cái địa chỉ ip như thế này
người ta gọi là thiết lập địa chỉ ip
cho các cái thiết bị tham gia mạng
cái nội dung thứ 2
của giao thức ip là định tuyến
để dữ liệu có thể đi từ thiết bị gửi
đến thiết bị nhận
cái chức năng định tuyến này được thực hiện bởi
các cái router này nha
trên các cái router này nó sẽ có
các cái bảng như thế này
bảng này người ta gọi là bảng định tuyến
router nào nó cũng có
với cái router này là bảng này
với router này là bảng này
và router này là bảng này
thì cái thông tin trên bảng
định tuyến này được hiểu như
sau
nếu như mà gói tin
nó có địa chỉ đích thuộc
cái dạy mạng 10.10.10.0
x 24 thì sẽ được
đẩy ra cái cổng fe1
đây là 4 cái cổng fe
fe1, fe2, fe3
và fe4
fe1 là cổng này
nếu như gói tin có cái địa chỉ
đích là thuộc
lớp mạng này thì nó sẽ được đẩy ra
cái cổng này đi về hướng này
vào các cái máy tính này
còn nếu như mà địa chỉ
đích của cái gói tin thuộc
lớp mạng 20.20.20.0
x 24 thì đẩy ra
cổng ge1
ge1, đây là ge1
và đây là ge2
nó sẽ đẩy ra hướng này, đi về hướng này
còn nếu như địa chỉ đích
của cái gói tin là 30.30.30.0
x 24 thì đẩy
ra cái cổng ge2
ge2 là cổng này, đi về hướng này
chúng ta lấy ví dụ nha
chúng ta cần gửi
một gói tin từ cái máy tính này
đến máy tính này
gói tin của chúng ta là đây
máy tính này là máy tính nguồn
có địa chỉ là 10.10.10.1
và máy tính này là máy tính đích
có địa chỉ là 20.20.20.3
thì cái thông tin
trong cái gói tin mà chúng ta cần
gửi đi nó sẽ như thế này
trong đó nó sẽ
có cái địa chỉ của
cái thiết bị nguồn và địa chỉ của thiết bị đích
gọi là source IP address
và destination IP address
còn đây là cái phần
dữ liệu, cái phần chính
mà chúng ta cần gửi đi, ví dụ như là
người ta gọi là cái data
và gói tin này
nó sẽ được truyền đi trong mạng như sau
đầu tiên nó sẽ được đẩy ra switch
và switch sẽ gửi
đến router
trên router này nó kiểm tra
thấy cái địa chỉ đích
là 20.20.20.3
nó thuộc cái dãy mạng này
do đó nó sẽ đẩy ra cổng GE1
đi về hướng này
trên router này nó kiểm tra
thấy cái địa chỉ đích là 20.20.20.3
thuộc cái dãy mạng này
nó đẩy ra cái cổng GE1
đây, cổng GE1 là cổng này
đi về hướng switch
và từ switch này nó sẽ gửi
về cái máy tính đích
đây ha
lưu ý là việc các cái gói tin
nó đi trong mạng cục bộ
từ máy tính đến switch
từ switch đến máy tính
là nó theo cái giao thức
Ethernet mà chúng ta vừa tìm hiểu ở trên nha
nó dựa vào cái địa chỉ MAC
còn cái địa chỉ IP
là được dùng để mà đưa gói tin
từ cái mạng cục bộ này
đến mạng cục bộ khác
ở đây chúng ta lưu ý
các cái bản định tuyến
của các router là do chúng ta khai báo
chúng ta muốn đi hướng nào
thì chúng ta khai báo theo hướng đó
ở đây từ cái mạng
10.10 này đi đến mạng
20.20 này
chúng ta khai báo cho nó đi hướng này
nếu không thích chúng ta có thể đổi
khai báo cho nó đi hướng này
qua đây và cũng về đây cũng được
cái định tuyến kiểu này
người ta gọi là định tuyến tỉnh
trong trường hợp
kết nối từ router này
đến router này nó có vấn đề
chẳng hạn cái cap này bị đứt
thì cái router này
nó sẽ tự động cập nhật lại
cái bản định tuyến
chúng ta thấy là trong cái bản định tuyến này
để đi ra cái mạng
20.20.20.0-24
thì nó sẽ đẩy ra cổng GE1
cổng này nhưng mà cap ở đây bị đứt
thì cổng này nó sẽ thông báo lỗi
và router này nó sẽ cập nhật
lại cái bản định tuyến
bây giờ nó sẽ không đẩy ra cái cổng này nữa
mà nó sẽ đẩy ra cái cổng GE2
là đẩy ra cổng này
như vậy cái gối tin
đi từ cái máy
10.10.10.1 đến máy
20.20.20.3
đầu tiên sẽ được đẩy ra switch
sau đó gửi đến router
router nó sẽ nhìn vào
cái bản định tuyến, nó sẽ đẩy ra
cái cổng GE2, cổng này
đi về hướng này nha
ở router này, nó cũng nhìn vào
cái bản định tuyến
nếu như mà địa chỉ đích
nằm trong giải mạng 20.20.20.0-24
nó sẽ đẩy ra
cổng GE1 đi về hướng này
đây là GE1 nha, đi về hướng này
trên router này
nó cũng căn cứ vào địa chỉ đích
nó đẩy ra cái cổng GE1
sau đó về
cái máy nhận
định tuyến như thế này
người ta gọi là
định tuyến động
tức là router nó tự động cập nhật
cái bản định tuyến dựa vào
điều kiện cụ thể
định tuyến kiểu này, người ta gọi là định tuyến động
nó khác với định tuyến tỉnh
tức là chúng ta ép router
nó phải thực hiện định tuyến
theo ý muốn của chúng ta
còn đây, router nó tự động cập nhật lại
theo một điều kiện
một hoàn cảnh cụ thể
người ta gọi là định tuyến động
trong cái mạng này
chúng ta thấy để đi từ
mạng 10.10.10 này
đến mạng 20.20.20 này
thì chúng ta sẽ có 2 đường đi
đường thứ nhất là đi qua hướng này
đường thứ 2 là đi hướng này
và nếu như chúng ta sử dụng
định tuyến tỉnh thì chúng ta sẽ
khai báo trên các router
trên router này
chúng ta sẽ khai báo
ví dụ chúng ta muốn đi theo hướng này
thì chúng ta sẽ khai báo như thế này
đi đến mạng 20.20.20
thì đi qua cổng GE1
còn nếu như không thích
chúng ta muốn nó đi hướng này
thì chúng ta sẽ khai báo như thế này
đi đến mạng 20.20.20
thì đi qua cổng GE2
GE2 là đi qua hướng này
đây là chúng ta đang định tuyến tỉnh
còn nếu như chúng ta sử dụng
định tuyến động
tức là chúng ta sẽ để cho router tự quyết
nó sẽ thực hiện
tính toán các đường đi
nó sẽ chọn đường đi tốt nhất
trong tất cả các đường đi
trong 2 đường đi này
nó thấy đường đi này là tối ưu hơn, ngắn hơn, tốt hơn
thì nó sẽ thực hiện định tuyến
theo hướng này
ra cổng GE1
đây là chúng ta để cho router tự thực hiện
tạo ra bản định tuyến này
đây là định tuyến động
tóm lại
nội dung của giao thức IP
là nó sẽ thiết lập địa chỉ IP
cho các thiết bị tham gia mạng
và đồng thời định tuyến để mà dữ liệu
có thể đi từ thiết bị gửi đến thiết bị nhận
từ thiết bị gửi đến thiết bị nhận
trong đó nó có một tính năng
là nó chọn được con đường đi tối ưu nhất
và ý nghĩa của giao thức IP này
là nó sẽ cho phép
các thiết bị trên mạng kết nối và giao tiếp với nhau
đồng thời nó sẽ giúp dữ liệu
đi từ nguồn đến đích qua con đường tối ưu nhất
tiếp tục chúng ta sang giao thức TCP
giả sử ở đây chúng ta có 2 cái máy tính
máy tính này và máy tính này
thuộc 2 cái mạng cục bộ khác nhau
được kết nối với nhau
thông qua các cái kết nối như thế này
ở đây chúng ta đang sử dụng máy tính này
máy tính đặt ở nhà
còn bạn của chúng ta đang sử dụng máy tính này
đang đặt ở trường
và cả 2 đang trao đổi với nhau
tức là vừa
trao đổi 1 cái tệp tiền văn bản
tức là chúng ta sẽ gửi 1 cái tệp tiền văn bản
từ máy này đến máy này
vừa chat với nhau thông qua
cái ứng dụng Messenger
tức là thực hiện 2 cái công việc cùng 1 lúc
như vậy dữ liệu
truyền từ máy này đến máy này là gồm
có 2 loại
1 là cái tệp tiền văn bản
2 là các cái tin nhắn của ứng dụng Messenger
chúng ta biết là
tất cả dữ liệu khi được truyền
trên mạng thì đầu tiên nó sẽ được chia nhỏ
ra thành các cái gối tin này nha
và cái giao thức IP
nó sẽ có nhiệm vụ
chuyển các cái gối tin đó từ máy nguồn
đến máy đích
tuy nhiên thì chúng ta thấy
là cái giao thức IP nó không phân biệt
gối tin nào là của ứng dụng nào
nó chỉ có nhiệm vụ là
chuyển từ cái máy nguồn đến máy đích
là xong nhiệm vụ của nó
còn cái việc phân biệt ra
gối tin nào là của ứng dụng nào
đó là nhiệm vụ của cái giao thức TCP
và giao thức TCP nó sẽ thực hiện
các cái công việc như sau
trước hết là với mỗi cái ứng dụng này
nó sẽ cấp cho một cái số hiệu
gọi là cổng ứng dụng
ví dụ
với cái việc truyền tin
truyền tiệm tin như văn bản
nó sẽ cấp cho cái cổng là
cổng 21
còn truyền cái tin nhắn qua ứng dụng web
ứng dụng Messenger
sẽ được cái cổng là cổng 80
và đây là cái quy định
của cái giao thức TCP
và cái máy nhận này
nó cũng phải hiểu nha
nó hiểu các cái số cổng này
do đó để nhận được cái tệp tin
thì nó sẽ đón nhận ở cổng 21
và để nhận các cái tin nhắn
qua ứng dụng Messenger
ứng dụng web thì nó sẽ đón nhận
ở cổng 80
thứ 2 là với mỗi
cái ứng dụng như thế này
thì dữ liệu của nó trước khi được
truyền trên mạng sẽ phải được
chia ra thành các cái gói tin nhỏ
và giao thức TCP này
nó sẽ đánh số thứ tự
các cái gói tin đó
ví dụ cái tệp tin văn bản này
cần được truyền trên mạng sẽ được
chia thành 3 gói tin
1, 2 và 3
các cái gói tin đều có cái số hiệu cổng
21, 21
và số thứ tự
đây là gói tin thứ nhất đánh số thứ tự là 1
gói tin thứ 2 đánh số thứ tự là 2
và gói tin thứ 3 đánh số thứ tự là 3
tương tự như vậy
với cái tin nhắn của cái
ứng dụng Messenger
cũng được chia thành 3 gói tin
3 gói tin đều có
cái số hiệu cổng là 80
và số thứ tự 1, 2, 3
các cái gói tin này
sẽ được máy tính đẩy hết ra router
gói tin của ứng dụng nào
thì đi ra cổng của ứng dụng đó
truyền tệp tin
đi ra ở cổng 21
còn tin nhắn Messenger
đi ra ở cổng 80
tuy nhiên khi ra đến
router thì tất cả
đều sẽ được gom lại như thế này
không phân biệt gói tin nào của
cái ứng dụng nào nha
từ đây là tiếp tục nhiệm vụ
của giao thức IP nha
truyền các cái gói tin này qua các cái
router để đến cái máy đích hết
có thể có
nhiều cái đường đi ví dụ
đi đường này hoặc là đi đường này
một số gói tin sẽ đi đường này
một số gói tin đi đường này nha
và những gói tin nào
đi đường ngắn hơn thì có thể là
tới trước đài
những gói tin này nó sẽ đến trước
còn những cái gói tin mà đi đường xa hơn
có thể đến sau đài hết
tuy nhiên chúng ta để ý là
khi mà có cái số cổng
cũng như là cái số thứ tự
trên các cái gói tin
thì mặc dù là đến trước hay đến sau
thì các cái gói tin nó cũng đều được
sắp lại theo đúng thứ tự
khi mà nó đến được máy đích
và nó vào đúng cái cổng
mà đã quy định nha
gói tin của cái
tệp tin văn bản nó sẽ đi vào
cái cổng 21 của cái máy này
gói tin của cái ứng dụng
tin nhắn Messenger
sẽ đi vào cái cổng 80
theo đúng thứ tự như thế này
tóm lại nội dung của
giao thức TCP nó sẽ bao gồm
thứ nhất là với mỗi ứng dụng
sẽ được cấp một cái số hiệu
gọi là cổng ứng dụng
số cổng này sẽ được gắn vào gói dữ liệu
chúng ta thấy các cái gói tin này
nó đều có cái số hiệu cổng ứng dụng
thứ 2 là dữ liệu sẽ được
chia thành nhiều gói có độ dài xác định
các cái gói được đánh số thứ tự
để nơi nhận có thể ráp lại
chúng ta thấy các gói tin gói dữ liệu
nó đều được đánh số thứ tự
và thứ 3 là có cơ chế xác nhận
để nơi gửi biết các gói tin đến
có sai sót hay thất lạc không
nhằm gửi lại khi cần
các cái gói tin
của cái giao thức TCP
nó sẽ có các thông tin như thế này
ngoài cái nội dung chính
cái data đây thì nó còn có
thứ nhất là cái acknowledgement number
cái số này người ta gọi là
cái số báo nhận
để mà giúp xác nhận là gói tin
nó có đến được đích hay không nha
tức là một gói tin khi được truyền
từ máy nguồn đến máy đích
nó đến được đúng máy đích rồi thì nó sẽ gửi
một cái tín hiệu về cho máy nguồn biết
là nó đã đến được đích
để máy nguồn biết là gói tin
nó đã được chuyển thành công nha
đó chính là nhiệm vụ của acknowledgement number
ngoài ra thì nó còn có check sum
là cái mã kiểm tra lỗi
mã kiểm tra lỗi này cái cách thức hoạt động
giống như là
cái mã kiểm tra của cái giao thức Ethernet
mà chúng ta vừa tìm hiểu ở phần đầu
thì đây là cơ chế
để mà kiểm tra lỗi
của cái giao thức TCP
khi mà truyền gói tin trong mạng
và qua
cái hoạt động của cái giao thức
TCP này chúng ta thấy mục đích
hay là ý nghĩa của cái giao thức này
là nhằm mục đích là đảm bảo
cho việc truyền dữ liệu theo từng ứng dụng
một cách chính xác, tiên cậy và
hiệu quả
câu hỏi của phần 2 câu 1
em hãy nêu nội dung và ý nghĩa của giao thức IP
nội dung của giao thức IP
là thiết lập địa chỉ IP cho
các cái thiết bị tham gia mạng
và định tuyến để dữ liệu có thể đi
từ thiết bị gửi đến thiết bị nhận
còn ý nghĩa là cho phép các cái thiết bị
trên Internet có thể kết nối và giao tiếp với nhau
giúp dữ liệu đi từ nguồn đến đích
qua con đường tối ưu nhất
câu 2
em hãy nêu nội dung và ý nghĩa của giao thức TCP
nội dung của giao thức TCP
mỗi ứng dụng được cấp phát
một số hiệu hay là cổng ứng dụng
số cổng này sẽ được gắn vào gói dữ liệu
dữ liệu được chia thành nhiều gói
có độ dài xác định, các gói được đánh số thứ từ
để nơi nhận có thể ráp lại
có cơ chế xác nhận để nơi gửi biết
các gói tin đến có sai sót hay thất lạc không
nhằm gửi lại khi cần
còn ý nghĩa của giao thức TCP
là đảm bảo việc truyền dữ liệu theo từng ứng dụng
một cách chính xác, tin cậy và hiệu quả
tiếp tục bài học
chúng ta sang phần luyện tập
câu 1 của phần luyện tập
hãy quan sát việc gọi điện thoại bằng máy bàn
những hành động và sự kiện xảy ra khi gọi điện thoại
như là nhắc ống nghe, quay số
phát nhạc chờ, rêu chung, báo lỗi
nói chuyện, kết thúc cuộc gọi
đều phải theo một quy tắc chặt chẽ
hãy kể ra các quy tắc đó
để làm rõ giao thức gọi điện thoại
các quy tắc của giao thức gọi điện thoại
bao gồm
thứ nhất là nhắc ống nghe
hành động này sẽ gửi một tín hiệu
tới trung tâm dịch vụ điện thoại
hay là trung tâm chuyển mạch
để bắt đầu một cuộc gọi mới
thứ hai là quay số
người dùng quay các số điện thoại mong muốn
trên bàn phím số của điện thoại
mỗi số được quay sẽ tạo ra
một tín hiệu điện thoại tương ứng
thứ ba là phát nhạc chờ
khi đang chờ máy bên kia nhận cuộc gọi
người gọi có thể nghe phát nhạc chờ
hoặc là thông báo khác
thứ tư là rêu chung
nếu máy bên kia mà nhắc ống
nếu máy bên kia nhắc ống thì chung sẽ ngừng rêu
để báo hiệu cuộc gọi đã được kết nối
thứ năm là nói chuyện
sau khi cuộc gọi đã được kết nối
hai bên có thể bắt đầu nói chuyện
thứ sáu là kết thúc cuộc gọi
khi cuộc trò chuyện kết thúc
người gọi có thể đặt ống nghe vào vị trí treo
hoặc là nhấn nút kết thúc cuộc gọi
trên điện thoại để kết thúc cuộc gọi
và thứ bảy là báo lỗi nếu có
trong trường hợp có lỗi xảy ra
trong quá trình gọi điện thoại
điện thoại có thể phát ra các tín hiệu báo lỗi
như là âm thanh kêu hoặc là thông báo trên màn hình
đây chính là các quy tắc
của giao thức gọi điện thoại
câu 2 của phần luyện tập
xác định địa chỉ IP
tương ứng ở dạng thập phân và nhị phân
chúng ta có địa chỉ IP
dưới dạng nhị phân
đổi sang phần thập phân sẽ là địa chỉ này
còn địa chỉ IP dưới dạng thập phân
đổi sang nhị phân
chúng ta có giải số nhị phân
quy tắc đổi từ số nhị phân
sang số thập phân và ngược lại
chúng ta đã học rồi ở tinh học lớp 10
nó khá là đơn giản
với địa chỉ IP thì chúng ta sẽ tách ra
thành 4 nhóm
1,2,3,4
mỗi nhóm tương ứng với 1 số thập phân
nhóm này gồm có
8 bit
tức là 1 byte
đổi sang số thập phân là đây
nhóm này là đổi sang số thập phân là đây
nhóm này là đây
và nhóm này là đây
tương tự như vậy với số thập phân này
chúng ta đổi số thập phân 131 này
sang số nhị phân là
10000011
tương tự như vậy chúng ta đổi từng nhóm
chúng ta sang phần cuối cùng
của bài học phần vận dụng
câu hỏi thứ nhất của phần vận dụng
hãy tìm hiểu giao thức tên miền DNS
theo các gợi ý sau
thứ nhất là lợi ích của
việc dùng tên miền thay thế cho địa chỉ IP
thứ 2 là các lớp tên miền
và thứ 3 là tổ chức nào phụ trách
việc cấp tên miền ở Việt Nam
đầu tiên là lợi ích
của việc sử dụng tên miền thay thế
cho cái địa chỉ IP
lợi ích thứ nhất là nó sẽ dễ nhớ
tên miền thường sẽ dễ nhớ hơn
các địa chỉ IP dài và phức tạp
chúng ta lấy ví dụ
chúng ta có một trang web
có cái tên là foreignworld.blogspot.com
địa chỉ IP của trang web này là đây
người ta sử dụng
địa chỉ IP v6
nó khá là dài
thay vì phải nhớ địa chỉ như thế này
thì sử dụng tên miền là đây
chúng ta thấy nó dễ nhớ hơn rất là nhiều
cái lợi thứ 2
là dễ quản lý và nhận diện
do tên miền nó có thể được tổ chức
theo cấp độ từ tên miền cấp cao nhất
cho đến tên miền cấp thấp hơn
thứ 2 là các lớp tên miền
chúng ta lấy ví dụ như trang web này
có cái tên miền là
foreignworld.blogspot.com
thì cái tên miền này
nó sẽ gồm có 3 lớp
lớp thứ nhất, lớp trên cùng
là topleveldomain.com
ngoài ra thì
chúng ta còn có .vn, .edu
.net, .org
cấp thứ 2
secondleveldomain
blogspot
đây thường là tên của các tổ chức cá nhân
tên của công ty
ví dụ như là với trang web
của google, trang blog của google
thì nó sẽ có cái tên miền
ở cấp thứ 2 là blogspot
những trang web nào
mà sử dụng blog của google
đều có cái tên miền ở cấp thứ 2 là blogspot
và tên miền
ở cấp thứ 3
subdomain
tên này cho chúng ta tự đặt
thường tên miền nó sẽ có
3 cái lớp như thế này
thứ 3
tổ chức phụ trách cấp tên miền ở Việt Nam
tại Việt Nam, việc cấp và quản lý
tên miền Internet thuộc trách nhiệm
của Cục Phát Thanh Truyền Hình và Thông tin Điện Tử
của Bộ Thông tin và Truyền thông
thông qua Trung tâm Internet Việt Nam
VNX
VNX là tổ chức chính thức được
ủy quyền quản lý tên miền cấp cao nhất
cấp cao nhất là .vn
cũng như các tên miền cấp thấp hơn
trong tên miền quốc gia Việt Nam
câu 2 của phần vận dụng
giao thức ICMP
viết tắt của từ
Internet Control Message Protocol
cho phép gửi một yêu cầu
đến một máy tính khác
một thiết bị mạng hay một ứng dụng trên mạng
để lấy thông tin phản hồi
một trong các ứng dụng của giao thức này
là lệnh ping của hệ điều hành
giúp kiểm tra máy tính của em
có được kết nối với một máy tính
hay một thiết bị mạng hay không
hãy tìm hiểu lệnh ping và thử nghiệm
sử dụng trên lệnh này
trước hết chúng ta xem thử lệnh ping
nó hoạt động như thế nào
lệnh ping là một công cụ của giao thức ICMP
được sử dụng để kiểm tra
kết nối mạng giữa 2 thiết bị
bằng cách gửi các gối tin
ICMP echo request
và chờ đợi các gối tin
ICMP echo reply
Ví dụ để kiểm tra
2 máy tính A và B
có thể kết nối được với nhau hay không
trên máy tính B chúng ta gọi lệnh ping
sau đó là địa chỉ IP của máy tính A
hoặc ngược lại
trên máy tính A chúng ta gọi lệnh ping
sau đó là địa chỉ IP của máy tính B
nếu kết quả trả về có tiếng hiệu
có time reply
thì có nghĩa là 2 máy tính kết nối được với nhau
còn nếu kết quả là request timeout
thì có nghĩa là kết nối bị chặn
Ví dụ
chúng ta sẽ thực hiện
ping đến 1 máy tính
có chứa trang web thanh niên.vn
bởi vì chúng ta không biết địa chỉ IP
cho nên chúng ta sử dụng tên miền
tên miền là thanh niên.vn
chúng ta sử dụng lệnh ping
sau đó là tên miền
ở đây khi sử dụng lệnh ping này
thì nó cũng phân giải ra chúng ta biết được
địa chỉ IP của tên miền này
địa chỉ 123.30.151.89
đây là địa chỉ IP
của máy tính được đặt
trang web thanh niên.vn
và kết quả là đây
nó có reply
tức là nó có trả lời
từ máy tính chứa trang web này
đây là các gối tin trả lời
kết quả là đây
send tức là gửi đi 4 gối tin
receive là nhận về 4 gối tin
tức là có gửi đi và có nhận trả về
tức là có kết nối thành công
giữa máy tính của chúng ta
đến máy tính chứa trang web thanh niên.vn
đây chính là cách hoạt động
của lệnh ping được dùng
để kiểm tra kết nối
giữa 2 máy tính với nhau
như vậy là chúng ta đã xong
phần vận dụng và cũng kết thúc bài 4
tại đây nha
cảm ơn các bạn đã chú ý lắng nghe bài học
nếu các bạn có bất cứ thắc mắc hay câu hỏi gì
liên quan đến bài học thì hãy để lại comment
ở bên dưới
nếu các bạn thấy thích video này
cảm thấy video hữu ích
hỗ trợ các bạn rất là nhiều
trong việc dạy và học
thì hãy like, share, subscribe, đăng ký kênh
hoặc là donate để ủng hộ cho chương trình nha
xin chào và hẹn gặp lại
