Huyền Mộc Ký Kỳ 4 Phần 53

Lan
131 Người theo dõi
NỘI DUNG TỐT Huyền Mộc Ký#HuyềnMocKy #TruyenTuLuyen #ChanhKienNet #TruyenThanThoai
Podcast Kể Chuyện: Huyền Mộc Ký - Truyện Huyền Huyễn Tu Luyện | Chánh Kiến Net
Chào mừng bạn đến với podcast kể chuyện Huyền Mộc Ký – bộ tiểu thuyết thần thoại huyền huyễn đầy hấp dẫn của tác giả Thoại Bản Tiên Sinh, được đăng tải trên Chánh Kiến Net. Hãy cùng khám phá thế giới Sâm Giới kỳ diệu, nơi Bích Dao Pháp Vương, Liên Ba tướng quân và các nhân vật đối mặt với mạt kiếp vũ trụ, hành trình tu luyện nội tâm, và sứ mệnh cứu độ chúng sinh.
Mỗi tập là một chương audio sống động, mang đến câu chuyện về thần tiên, yêu quái, bí mật sinh mệnh và bài học nhân quả sâu sắc. Thích hợp để nghe thư giãn, trước giờ ngủ hoặc tìm hiểu văn hóa truyền thống Đông phương.
Huyền Mộc Ký, kỳ 4, phần 53
Tác giả, Thoại Bản Tiên Sinh, lại nói
Dương Hồi và Trưng Hữu Nhân đang rảo bước ở Ngọc Tuyền Sơn
thì Lý Không Đồng đúng lúc đó tình cờ bay nhang qua trong thấy.
Trong tâm Lý Không Đồng có chút nghi hoặc,
lại ngửi thấy quanh núi Ngọc Tuyền có một luồng khí do sát đánh tỏa ra,
liền từ trên mây hạ xuống, đi tìm sư đệ Ngọc Đĩnh.
Ngọc Đĩnh, ta thấy Hữu Nhân và Phu Nhân anh ta đang tản bộ trên núi của đệ đó.
Lý Không Đồng nói
Ồ, là họ đến thăm cháu trai bên ngoại của họ bị thương trong lúc chiến đấu.
Ngọc Đĩnh nói
Cháu trai bên ngoại của họ á?
Phải, chính là môn đồ dương tiễn của ta đó.
Lý Không Đồng có chút giật mình.
Ông thấy ký ức của Ngọc Đĩnh đã bị năng lực thần thông nào đó can thiệp.
Nhưng lực lượng thần thông này quá mạnh mẽ thuần hậu,
nên anh ta không thể động vào, không thể thăm dò hay cải biến gì được.
Một luồng khói bụi khét lẹt do sét đánh sọc vào mũi Lý Không Đồng,
khiến anh ta đoán rằng nhất định có chuyện gì đó đã xảy ra trên núi Ngọc Tuyền.
Vậy là anh ta liền sử dụng công năng túc nợn thông để tìm kiếm,
muốn tìm hiểu xem có chuyện gì vừa xảy ra ở đây.
Sau khi quan sát hồi lâu, Lý Không Đồng thở dài thang
Đại sư Huynh, Huynh nói gì thế? Ngọc Đĩnh hỏi
À, không có gì. Lý Không Đồng tỏ vẽ bình thẳng đáp.
Lý Không Đồng cũng sảo bước đi bộ lên núi, tình cờ chạm mặt Trương Hữu Nhân và Dương Hồi.
Dương Hồi nhìn thấy Lý Không Đồng liền chào. Hân hạnh diễn kiến đại sư Huynh.
Trương Hữu Nhân nhìn thấy Lý Không Đồng thì chấp tay chào.
Lý Không Đồng miễn cười đáp lễ.
Lý Không Đồng nhấc ống tay áo lên.
Bên hồ lập tức xuất hiện nào là bàn trà, bầu trà và mấy tách uống trà.
Dưới bàn trà đặt mấy chiếc bồ đoàn.
Bên cạnh bàn trà còn có tiểu đồng giúp pha trà và châm trà cho họ.
Ba người ngồi xuống.
Trương Hữu Nhân tinh thần đã ổn định.
Nhưng Dương Hồi vẫn chưa thoát khỏi dư âm của sự việc không vui vẻ vừa rồi.
Thần tình buồn bã hiêu hắc.
Lý Không Đồng nói.
Dương Hồi cười nói.
Quả thật là duyên phận.
Đại sư Huynh đã bao năm nay không ra khỏi núi.
Lý Không Đồng cũng nói.
Trương Hữu Nhân nghe vậy liền hỏi.
Lý Không Đồng trả lời.
Dương Hồi hỏi.
Biến mất á?
Dương Hồi và Trương Hữu Nhân gực gực đầu.
Lý Không Đồng kể tiếp.
Lý Không Đồng lại nói.
Lý Không Đồng phóng tầm mắt hướng ra ngắm nhìn cảnh sát núi non sông nước rồi hồi tưởng lại.
Lúc bấy giờ chính là trong thời kỳ mạc kiếp của nhân loại.
Con người ở thời kỳ này rất cực đoan.
Đối với tình cảm cũng rất cực đoan.
Người ta đều rất dễ dàng vì bi lụy tình cảm mà phát điên.
Không mạng lý trí.
Khi đó những người mẹ mất con đều bị thứ tình cảm nhi nữ dày vò đến sống cũng dở mà chết cũng không xong.
Con người thậm chí còn nghĩ cách quyên sinh.
Khi đó ta mới 7 tuổi nhưng cũng đã khá hiểu chuyện nên tình cảm với cha mẹ đương nhiên sâu nặng.
Lúc ta tu luyện trong động đã rất lo lắng suy tư và thương nhớ mẹ của mình.
Ta rất lo sợ mẫu thân ta vì quá nặng lòng với con cái mà sẽ làm điều dại dột tổn thương thân thể hay hại đến tính mạng bản thân.
Dù sư vụ đã nhọc công hết lời khuyên răng an ủi nhưng đối với ta vẫn chẳng ít gì.
Thấy con đường tu luyện sắp đích bản chỉ vì một tấm lòng lo lắng cho mẹ.
Sư vụ bàn dẫn nguyên thần của ta ra ngoài để ta đi nhìn mẫu thân một lần.
Ta phiêu diêu bay trở về quê nhà của mình.
Thấy cha mẹ đang thư thái nhàng nhã chụp hẳnh giữa những khóm hoa.
Lúc đó có một vật gọi là máy ảnh, một phát minh công nghệ thời bấy giờ để phục vụ nhu cầu giải trí và giúp con người ghi lại những kỷ niệm của mình.
Thấy nét ư tư đượm buồn trên khuôn mặt của cha nhưng mẹ ta lại nói.
Tùy tiểu đồng biến mất nhưng nó nhất định đã thoát khỏi thế giới thập ác này để đi tu đạo rồi.
Ta chợt nhớ đến lời mẹ dặn.
Mẹ đặt tên cho ta là không đồng.
Chính là hy vọng ta ngày sau sẽ đạt được cảnh giới như chốn hư vô bao la mênh mông kia.
Trong thầy mạc thế đó, mẹ ta không những không hề bị lũy tình mà còn cảm thấy vui mừng vì ta đã thoát ra khỏi chốn nhân gian hiểm ác.
Trong khoảnh khắc đó, tâm lo lắng cho mẫu thân của ta đã nhanh chóng tiêu tan.
Trong tâm hoàn toàn chỉ còn nghĩ về tu luyện.
Không đồng, không vô đại đồng.
Hết thầy đều mênh mông vô tận.
Chắc hẳn là niềm mong mỏi giai diết của mẫu thân ta.
Sau khi nghe đại sư Huynh giải bày một hồi lâu, Dương Hồi liền hiểu ra đây chính là điểm hóa của sư phụ.
Cô liền mỉm cười như vừa gỡ được xuống một thứ cảm xúc đang đè nặng trong tâm.
Cô nói, mẫu thân của đại sư Huynh quả là một người mẹ phi thương.
Lý không đồng cười nhìn Dương Hồi rồi nói,
Sau này khi đã tu xuất thần thông, ta vẫn không nhìn thấy nguyên thần của mẫu thân ta ở đâu.
Liền biết rằng mẫu thân ta có lai lịch siêu phàm.
Mãi đến 37 vạn năm sau, ta mới được gặp lại bà ấy.
Dương Hồi hỏi,
Lý không đồng chỉ cười không nói.
Dương Hồi cũng đoán đại sư Huynh không tiện nói.
Nên cô không hỏi thêm gì nữa.
Trương Hữu Nhân ngồi đó nghe cuộc đàm thoại,
cũng hiểu ra ý tứ nội dung câu chuyện này của Lý không đồng.
Chỉ là anh cũng chỉ cười mà không nói năng gì.
Lý không đồng ngước nhìn vần thinh không xa thẩm rồi nói tiếp,
Trương Hữu Nhân và Dương Hồi đứng dậy hành lễ bái biệt Lý không đồng.
Sau khi Lý không đồng rồi đi,
Dương Hồi và Trương Hữu Nhân cũng quay trở về ốc đảo Trương Gia.
Đoạn sự việc này đến đây coi như đã khép lại.
Về phần Dương Hồi, khuôn mặt cô không bị già đi dù đã ngoài 40 tuổi,
trông chỉ như một thiếu phụ ngoài 20 tuổi.
Tuy vậy, cô vẫn chưa tu xuất thần thông.
Một ngày nọ, Độ Hà Tản Nhân đến ốc đảo Trương Gia
trình trọng mời Trương Hữu Nhân và Dương Hồi đến thăm thú bàn đào viên.
Nhìn lúc rảnh rỗi hiếm hoi,
Trương Hữu Nhân đã đưa phu nhân Dương Hồi đến công lưng dào chơi một chuyến.
Hoa đào trong vườn lúc này đang nở rộ.
Mỗi cây đào đều cao lớn xương xuê,
sắc hồng tư tắn, tràn đầy sức sống.
Diện mạo khắp nơi là sắc thắm,
hương thơm lăng tỏa khắp công lưng.
Cành đào cao như cành trúc,
rễ đào cắm sâu vào lòng đất,
vẫn chảy hiên ngang.
Hai người chậm rãi tảng bộ trong vườn,
bức giờ những cánh hoa đào màu hồng phấn lã tả rơi xuống.
Một làn gió trong lành thổi tới,
khuấy lên làn sóng hoa phấp phới trong không trung,
hương thơm lan ra ngào ngạt khắp vùng.
Phu nhân nàng nhìn kìa,
những trái đào non mới kết này
trông giống như khuôn mặt trăng tròn,
tươi nhuận hồng hào của nàng vậy.
Trương Hữu Nhân vừa nói,
vừa hướng mắt nhìn lên những trái đào.
Lúc này, độ hà tảng nhân bước đến,
tỉ mỉ quan sát những trái đào,
rồi gật gù nhận xét.
Những trái đào được kết ra lần này
không dẹt như lần trước,
trái lại chúng trong trọn trịa căng mỏng
và có màu hồng phấn đẹp thật.
Độ hà tảng nhân lại tiếp tục quan sát,
rồi tấm tắc khen,
giọng đầy ngưỡng mộ.
Tốt, tốt, lần này còn tốt hơn,
lần này còn tốt hơn nữa.
Ông chậm rãi tỉ mỉ,
rão mấy vòng quanh vườn,
thỉnh thoảng gật đầu tán thưởng,
như phát hiện ra điều gì rất tâm đắc.
Cuối cùng, ông quay sang hỏi Dương Hồi.
Lần này,
vẫn gọi chúng là bàn đào chứ?
Dương Hồi suy nghĩ dây lát,
đáp, bàn đào,
bám và đào,
ngụ ý là bám vào,
leo lên rồi đào thoát ra.
Vậy chúng ta hãy cứ gọi chúng là bàn đào đi.
Được.
Những năm sau đó,
hữu nhân và Dương Hồi tiếp tục suy ngẩm
và thảo luận với các vị thần
về văn hóa, lễ nhạc
của toàn bộ hệ thống văn hóa
được thấm nhuận và xuyên suốt
trong các diễn dạy thí điểm ở Úc Đảo Trương Gia.
Từ thời điểm đó,
chúng cơ bản đã được hình thành.
Ví dụ như ngũ lễ trong chu lễ,
các lễ,
gia lễ, tân lễ,
quân lễ và hung lễ,
còn có đề cao chữ Đức,
tung kính ngôi cao, gần gũi người thân,
kính trọng người già, yêu thương con trẻ
và đủ mọi phương diện khác.
Toàn bộ xã hội
ở Úc Đảo Trương Gia
khắp nơi đều phủ kính lễ và đạo.
Lễ nhạc,
lễ và nhạc là không thể tách trời.
Còn âm nhạc ở Úc Đảo Trương Gia thì sao?
Việc cơ bản
nó kế thừa tiết tấu,
âm luật, nhạc khí
và nhạc lý trong âm nhạc
của thời kỳ viêm hoàng ngũ đế.
Mọi người biết hoàng đế
là tổ tiên khai thủy ra nền
văn minh nhân loại chúng ta,
nhưng ít ai biết rằng
Ngài còn là một bậc thầy
về văn học nghệ thuật xuất sắc nhất,
một nhà âm nhạc uyên thâm
và sâu sắc nhất của chúng ta.
Đúng vậy,
nên dùng từ tối trong trường hợp này.
Nếu không có vô số những nhạc khí,
nhạc lý cho đến rất nhiều hình thức văn nghệ
mà hoàng đế đưa ra,
nhân loại sẽ trở nên hoang dã
và cục cằn mang dở,
thì còn nói gì đến nền văn minh nào nữa?
Các vị thần đặc định văn hóa
đến Úc Đảo Trương Gia
đều là những chính thần được Phục Hy Đại Đế
phái xuất mà đến,
mà hoàng đế chính là Phục Hy Đại Đế
chuyển sinh.
Nền văn hóa thần truyền Trung Hoa chúng ta
thật đáng trần quý biết bao.
Cho nên, đôi khi cảm thấy rằng
được chuyển sinh làm người,
tuy phải chịu đựng nhiều khổ ái to lớn,
nhưng cũng là chính là đã nhận được
một sự may mắn vô cùng lớn lao.
May mắn là đến Tam Giới
thì Nguyên Thần vẫn đang ở đây.
May mắn là nền văn minh này
được Thánh Chủ ân cần dẫn dắt.
May mắn là được đồng tại
một thời kỳ với vị Vạn Vương Chi Vương
Vô Thượng Vương.
Trước mắt, nền văn minh lễ nhạc
ở Úc Đảo Trương Gia vẫn chưa được
triều đại nhà Chu áp dụng hoàn toàn,
bởi vì mọi thứ đều cần có quá trình.
Mãi đến thời Chu công,
ác nghi lễ của nhà Chu
cơ bản mới hình thành.
Ví dụ như một số chế độ quy định hay chế độ quân binh,
bởi vì Úc Đảo Trương Gia
không quá lớn, cũng không có chiến loạn,
nên việc này chỉ cần Chu Thiên Tử
tự mình đi hoàn thiện.
Tuy nhiên, Trương Hữu Nhân và Chư Thần
cũng sẽ xây dựng một số hình thức
ở mức độ sơ khai.
Những chế độ như phong vương, tông pháp,
canh điền, trang phục mấy bộ
hay tước lọc ngôi vị
hiện nay đã bị người đời bẻ công rồi.
Khái niệm xã hội phong kiến
ngày nay thật ra chính là một từ
để chỉ chế độ phân phong thời xa xưa.
Nói xã hội phong kiến
là nói việc phân chia đất đai
thổ nhưỡng thành từng vùng một
giữ lại vùng trung tâm ổn định
và dễ kiểm soát nhất cho bản thân,
còn vùng xung quanh thì phân phong cho
thân tộc và công thần.
Điều này cũng đúng với tư tưởng
thân thân và tôm tôm
trong quan niệm của nhà châu.
Rút cuộc thì thân thân và tôm tôm
là lời lẽ của các bậc quyên chủ
thời xưa dùng để củng cố vương quyền.
Lời giải thích này thật chất là
đứng trên góc độ của thuyết vô thần
và vụ lợi cho bản thân mà phân tích,
thật chất không phải như vậy.
Mỗi triều, mỗi đại đều có
nguồn góc riêng, đều là đại biểu
cho một thể thể thiên thể trên thiên thượng.
Dù là hoàng đế, hoàng thân quýt thích
hay người trong hoàng tộc cũng vậy,
tại sao họ lại nhận vai diễn này?
Tại sao họ sinh ra đã là huynh đệ
tỷ mụi của thiên tử?
Bởi vì nguồn góc của họ không hề tầm thường,
nguyên lai của họ có quan hệ
đối ứng với thiên thể của triều đại đó,
cho nên họ được phong vương cũng vậy,
các đất phong hầu cũng vậy,
đó là trong mệnh của họ
đã mang theo phần trách nhiệm như vậy
trong triều đại đó.
Nếu bạn đem đất đai đó phân chia cho dân thường,
thì vì nguồn góc của họ không nằm ở đó,
góc rễ của họ không kết nối với thiên thể đó,
nên họ cũng không cần phải gánh vác
phần trách nhiệm này.
Vậy, phân đất cho họ làm gì?
Ngày nay, người ta đứng ở góc độ của thiết vô thần
mà phân tích hay phán xét củ nhân,
mô tả người xưa xấu tệ hơn
con người ngày nay,
thậm chí còn ích kỹ, tự tư, tự lợi hơn.
Văn hóa của người Trung Hoa
ngày nay sớm đã bị phá hủy rồi.
Người Đại lục ngày nay
coi văn hóa thần truyền như người
mù sờ voi, cực kỳ hời hợt,
hơn nữa còn hay lấy lòng tiểu nhân
mà đo lòng quân tử.
Những quan niệm văn hóa sơ khai nhất
được cấp cho con người,
chủ trương là vô tư vô ngã.
Tại sao người xưa xưng ngô thay cho ngã?
Chính là để dạy bạn
đừng quá tự tư,
đừng quá coi trọng cái tôi,
vì tôi chính là vô mà.
Vì vậy, nếu một nền văn minh
như thế này được truyền thừa
một cách trọng vàng,
thì con người dù làm việc gì
cũng sẽ không chỉ nghĩ cho riêng mình,
mà đều sẽ suy xét
đến đạo đức, lễ nghi,
điểm sĩ, cách trị quắc
của các bậc quân vương
thời xưa cũng là như vậy.
Các chế độ, thể chế,
lễ nhạc, đạo đức,
chúng ta vừa rồi
đại thể đã nhìn nhận khái quát
từ chính diện.
Giờ đây, hãy thưởng nhìn
xã hội này từ góc độ phụ diện.
Xã hội nhân loại
là nằm ở tầng thấp của vũ trụ,
do đó quy luật
tương sinh tương khắc biểu hiện
vô cùng rõ rệt,
biểu hiện thiện ác cũng cực kỳ nổi trội.
Con người chỉ khi biết
thế nào là đau khổ
thì mới biết trân quý hạnh phúc
có được là không hề dễ dàng.
Cho nên,
dù tiêu chuẩn đạo đức có cao đến đâu,
xã hội nhân loại
vẫn sẽ tồn tại mặt phụ diện kia.
Thiên nghĩ
cũng nên đưa một vài dẫn chứng.
Sau khi ốc đảo
trưng gia đổi người dân với Tây Kỳ,
tình trạng trộm cướp
bắt đầu xuất hiện ở đây.
Điều này cũng tạm gọi là bình thường,
bởi vì
văn hóa ở nhân gian muốn diễn giải
toàn diện.
Nếu không có vườn trộm cướp
dường như cũng không thích hợp.
Nhân gian này
chính là như vậy.
Sau nhiều năm được cột rửa bởi lễ nghi văn hóa,
giới trộm cắp,
cướp vật hay thổ phỉ
ở ốc đảo trưng gia
cũng có bộ quy tắc riêng.
Ngay cả vườn đạo chích
cũng còn có đạo của chúng đó thôi.
Nghề nào cũng đều phải có
quy tắc. Nếu không,
tất sẽ dẫn đến hỗn loạn.
Đạo tặc thổ phỉ
ở ốc đảo trưng gia
có ba quy tắc dính.
Thứ nhất, không phá hoại kinh sách,
không được làm tổn hại đến đạo.
Anh có thể làm kẻ trộm
nếu bất đắc dĩ không còn cách khác.
Còn nếu anh chính là
muốn đi ăn trộm,
bản thân anh muốn tạo nghiệp,
người khác chỉ có thể khuyến thiện.
Từ pháp chỉ có thể trừng phạt
thân thể của anh, nhưng không thể
quản được cái tâm của anh.
Tất nhiên, anh vẫn là
không được phép hủy hoại kinh sách
hay các thư tịch liên quan đến
tu luyện. Nếu tình trộm hay
cướp kia phá hoại sách thể tre
liên quan đến tu luyện,
thì tên đạo chích đó sẽ bị trục xuất
khỏi phường trộm cướp,
không được chứa chấp nữa.
Không có tình trộm nào dám giao du với hắn
bởi hắn bị coi là xui xẻo.
Vì vậy, thủ lĩnh đạo chính
sẽ đuổi hắn khỏi hội
bởi vì sự phá hoại quy tắc
điều luật của bang nhóm.
Thứ hai, không giết người
tu luyện. Anh cứ
nhất định muốn làm kẻ cướp bóc
thì cũng chẳng còn cách nào khác.
Nhưng lúc tư pháp ở Úc
đảo trương gia chưa bắt được anh,
đức của anh vẫn chưa bị tổn
hết. Anh vẫn cứ nhất định
đi làm việc trộm cướp đó.
Thì chẳng ai có thể làm gì được.
Chỉ là anh
không được phép giết người tu luyện.
Nếu giết một người tu luyện,
thì cả chính đạo hay tà đạo
đều sẽ không đắn đo
mà xuống tay giết chết anh.
Bởi vậy, đám thổ
phỉ trộm cướp ở Úc đảo trương
gia căn bản sẽ không làm việc này.
Chúng hiểu, theo
luật pháp ở Úc đảo, đây
chính là một tội ác tai trời.
Không chỉ liên lụy đến toàn bộ
cứu tộc, mà còn liên lụy đến cả
9 đời trước và 9 đời sau
của người đó. Vì vậy,
không ai dám làm điều ác này.
Thứ ba,
những sự việc dơ bẩn không sạch sẽ
phải tránh xa chùa chiền,
miếu mạo, đạo quán
hay từ đường.
Nếu muốn ăn trộm hay đột nhập cướp ốc,
tuyệt đối không được thực hiện
ở bên trong hoặc gần chùa miếu,
đạo quán có liên quan đến tu luyện.
Cũng không được làm những việc này
ở trong hay gần
các từ đường thờ cúng tổ tiên
viêm hoàng, thần nông.
Thời bấy giờ,
ở ốc đảo Trưng Gia
chưa có Phật giáo, đạo giáo.
Nhưng các đạo quán miếu mạo
thờ phụn Phật, đạo, thần
lại có khá nhiều.
Nếu như tên cướp nào đó dám
bất kính với thần minh hoặc tổ tiên,
ở nơi thần thánh tôn nghiêm
thanh tĩnh mà làm chuyện bậy bạ
ô ế, thì những tên
thổ phị khác cũng sẽ tránh
xa hắn vì họ biết hắn
sắp phải chịu báo ứng.
Ai cũng sợ bị vạ lây.
Sự thật đúng là như vậy.
Làm thổ phị
vốn đã ít đất, nếu lại
phẩm phải ba tội lớn neo trên,
thì sẽ sớm hứng chịu trừng phạt,
sẽ chết bất đắc kỳ tử.
Vì vậy, trong số ít
những thổ phị đạo chích
hiện diện ở ốc đảo Trưng Gia,
người ta thấy chúng cũng không phải
là những kẻ quá xấu xa.
Ở thế gian, thiện
ác đồng tồn. Nhưng
dù ác, cũng phải có tiêu chuẩn.
Nếu như quá ác,
thì ngay cả việc làm con người
ở thế gian cũng là không thể.
Sẽ bị đánh hạ xuống địa mục,
chờ bị tiêu hủy triệt để.
Lấy một ví dụ
như thế này. Ốc đảo
Trưng Gia trước nay chưa từng có
chiến tranh. Nhưng
phản lý ở thế gian là thắng
làm vua, thua làm giặc.
Cho nên cần đặc định một chút
văn hóa liên quan đến chiến tranh.
Vì vậy, trong lần
trao đổi người dân giữa Tây Kỳ
và Ốc đảo lần này,
chính là sẽ trao đổi một số người
dũng cảm và thiện chiến.
Để những cá nhân dũng cảm và thiện chiến này
sau đó sẽ nắm giữ
một số chức quan nhỏ ở Tây Kỳ.
Khi đến Tây Kỳ,
trường Hữu Nhân chọn
hai tòa thành nhỏ. Một tòa
là Tu Thành, còn tòa kia
là Đàm Thành. Rồi
chọn ra hai trong số những người
chuyển đến đây để làm vương chủ
Hai tiểu tòa thành này
tuy không lớn, nhưng nằm ở
đối diện nhau. Cổng thành này
nằm đối diện cổng thành kia.
Vì cổng đối diện nhau
và lại còn là những người hiếu chiến
và đều giữ những vị tí
quan chức nhỏ, nên bên nhau
cũng cho rằng mình có bản sự
xuất sắc hơn bên kia.
Vì vậy, hai thành này rất dễ
nảy sinh mâu thuẫn, xung đột.
Đương nhiên rồi, chính là
sự việc nên được an bài như vậy.
Các quan viên cai quản
hai thành này trình lên trường Hữu Nhân
rất nhiều tố trương. Càng
ngày càng nhiều, lời
biểu đạc trong đó đều chất chứa sự
bất mãn, thang phiền và tranh cãi.
Trường Hữu Nhân
triều kiến Tế Tướng Phong Vân Kiều
tham vấn ý kiến ông ấy xem việc này
nên giải quyết thế nào.
Tế Tướng Phong Vân Kiều cũng là thân
đến đây để đặt định văn hóa
nên tạm thời đảm nhiệm chức
Tế Tướng ở ốc đảo Trương Gia.
Tế Tướng Phong Vân Kiều
thưa, đã vậy
sao đảo chủ không để họ đánh nhau đi?
Như vậy có lẽ sẽ hóa giải
được án khí sân hận của cả hai bên.
Trường Hữu Nhân gật gù
như hiểu ra, liền nói
cũng được. Sau đó
Tế Tướng liền say sứ giả
đi báo tin cho vị vương của
hai thành rằng cho phép
hai bên được công thành, chiến đấu với
đối phương. Hai vị vương
của hai thành nghe vậy rất đắc ý
đúng lúc họ đang rất muốn
chiến đấu, khi thế sụp sụp
bởi sự oán hận như ngọn lửa thiêu đốt
trong tâm đã rất lâu rồi.
Tuy nhiên, ngay khi
cả hai đang bên bờ vực chiến tranh
cuộc chiến đã sắp sửa bắt đầu
vị Tế Tướng đích thân lên trước
trận tiền đưa cho hai bên
mỗi bên một bản
chiến sự lễ pháp của ốc đảo Trương Gia
để nói với hai bên
rằng có thể cho phép có chiến tranh
nhưng nhất định phải tuân thủ
lễ pháp. Đầu tiên
chiến sứ, vị sứ giả
chiến tranh của mỗi bên sẽ
hỏi thăm tình hình sức khỏe của tướng lĩnh
và vị vương thành của đối phương.
Ngày thứ nhất,
tu thành vương thân thể có chỗ không được khỏe
nếu nhân lúc đối phương
yếu đuối để thắng thì kể cũng an ủng
không hợp với tinh thần võ hậu
nên không thể giao chiến.
Ngày thứ hai, con trai
của đàm thành vương đột nhiên
ốm bệnh, cần lấy lễ pháp
kính già yêu trẻ làm trọng
lại từ bản thân mình mà nghĩ cho người khác
trong tình thế như vậy
mình sẽ thế nào?
Lại đành hoảng binh ngày nữa
vậy là lại không thể giao chiến.
Ngày thứ ba,
chiến sứ bẩm báo với tệ tướng rằng
tu thành vương bệnh trạng sơ sơ không quá
nghiêm trọng, còn con của đàm thành
tuy ốm bệnh nhưng cũng chỉ là
cảm lạnh vẫn tràn đầy sức sống
giờ không ai bị bệnh cả
vậy hai bên đã có thể
giao chiến được chưa?
Tệ tướng lại nói
chưa được, phải đợi người già, phụ nữ
và trẻ em trong thành thu dọn đồ đạc
cẩn thẳng và rời khỏi thanh đá
rồi đợi người trong đảo bố trí
cho họ chỗ ăn ở và
lương thực đâu đấy rồi hẳn hay.
Ngày thứ tư, khi mọi
việc đã được an bài đâu đấy ổn thỏa
lại hỏi vậy, đã có thể
giao chiến được chưa?
Nhưng lại vẫn chưa được
Vậy còn phải làm gì?
Phải đem toàn bộ các bức tượng
Phật, Đạo, Thần hoặc
các bức tượng có liên quan di dời ra ngoài
những va tượng không thể di dời
được thì phải phủ vải lên
rồi quay rào lại để tránh
làm hư hại va tượng hoặc gây
ra sự bất kính với thần linh do
sát khí sinh ra trong chiến trận
Hai ngày này thật thú vị
xe ngựa của tu thành không đủ
nên họ đến mượn đàm thành
Vải vóc của đàm thành không đủ
thì họ phái người đến mượn của tu thành
Vì nóng lòng đẩy nhanh
cuộc chiến, hai bên thành ra
đã hỗ trợ lẫn nhau
Bởi vì phụ nữ, người già và trẻ em
tạm thời đã được sơ tán ra ngoài
nên trong thành chỉ còn lại
những đàn ông trưởng thành sinh sống
làm việc. Việc dựng hàng rào
bảo vệ, di chuyển tượng và
bọc vải mất hai ngày
nên cả hai thành ai nấy đều
kiệt sức. Vậy là hai bên đều
phải nghỉ ngơi thêm một ngày nữa
Đến ngày thứ bảy
cuối cùng trận chiến cũng đã có thể bắt đầu
nhưng trước tiên họ phải
sửa soạn lễ vật dân lên
cúng bái thần linh và tổ tiên
để báo cáo sự việc chiến tranh
Sau khi cúng bái thần linh và tổ tiên xong
họ phải khóa chặt cửa miếu
và nhà thờ tổ để tránh
bầu không khí chiến tranh phát tán
làm phiền tổ tiên và các vị thần linh
Khi việc cúng bái hoàn thành
thì đã đến trưa
mà buổi trưa còn phải nghỉ ngơi
nên trận chiến sẽ dời lại sang buổi chiều
Đến buổi chiều
tỵ tướng tuyên bố
cả hai thành đều có thể bắt đầu chiến đấu
không khoan nhượng với đối phương
Điều này có nghĩa là
hai thành đã có thể tận sức chiến đấu
lăn xả hết mình
Trải qua bảy ngày vừa rồi
cả hai thành đều đã không còn mấy mặn mà
với việc chiến đấu nữa
Nhưng nếu không chiến đấu
thì công sức mỏ ra để thực hiện các bước thủ tục vừa rồi
chẳng phải là lãng phí thời gian oan uổng sao
Vậy nên
cuộc chiến vẫn sẽ bắt đầu
Trải qua mấy ngày chiến đấu
Tu Thành đã giành chiến thắng
Tuy Đàm Thành bại trận
nhưng vì trận chiến được tiến hành dưới lễ pháp
và sự công chính, minh bạc và công bằng
không hề có thủ đoạn hay quỷ kế lừa gạt
nên Đàm Thành đã tâm phục khẩu phục
chấp nhận thất bại
Hơn nữa, trong suốt cuộc chiến
không hề làm bị thương phụ nữ
người già hay trẻ em
cũng không hề làm tổn hại một pho tượng thân
và cũng không xâm phạm chùa miếu
thờ phật hay đạo quán
Từ đó trở đi
mâu thuẫn giữa hai thành không chỉ được giải quyết rốt ráo
mà còn được vung bồi
khiến mối quan hệ hai bên ngày càng gắn bó
Đàm Thành Vương ngưỡng mộ
sự kiềm chế
và ý chí khiêm nhường
thắng không kêu của Tu Thành Vương
Còn Tu Thành Vương lại ngưỡng mộ
sự tôn trọng lễ nghi, giữ gìn luật lệ
và ý chí chấp nhận
bại mà không oán
của Đàm Thành Vương
Thật bất ngờ, cuối cùng
hai vị vương đã kết nghĩa huynh đệ
hai thành trở thành anh em
Đây chính là sức mạnh của lễ
trong văn hóa thần truyền
