Lê Quý Đôn - Thiên Chương - P1/3

Kẻ Học Trò
775 Người theo dõi
30 Lượt xem video·17 thg 4, 2026
Kiến Văn Tiểu Lục
Tác giả Lê Quý Đôn
Quyền thứ tư
Thiên Chương
Tô Tử Chiêm nói
Thờ ông Đỗ, văn ông Hàn, chữ viết ông Nhan
và sử ông Tà
đều là tập đại thành
Tiên Nho nói
Dùng chữ để đối với nhau trong thể văn biểu
có sáu phép
Thứ nhất, chính danh đối
tức là đối đúng từng chữ
như Thiên Địa đối với Nhật Nguyệt
Thứ hai, đồng loại đối
tức là chữ cùng loại đối với nhau
như Quỳnh Cư đối với Ngọc Bạch
Thứ ba, liên châu đối
tức là chữ điểm âm đối với nhau
như Minh Minh đối với Hách Hách
Thứ tư, tá tự đối
tức là mượn nghĩa để đối
như Ngũ Tướng đối với Thiên Quân
Ngũ là họ, Thiên là số
Thứ năm, tự cú đối
tức là chữ câu nào trọi với chữ câu nấy
như Nhất Huy Ngũ Quận
dự thập tải dĩ lâm dân
đối với Bạch Thủ Đan Tâm
Quy Đồng Đình Nhi Sự Chúa
tức là một tay năm quận
hơn mười năm cai trị nhân dân
đầu bạc lỏng son
về Sân Đỏ Phụng Thờ Vua Chúa
Thứ sáu, bất đối trì đối
tức là hai câu không có ý đối
mà thành đối với nhau
như Tự hữu sinh dân dĩ lai
đối với vị như Kim Nhật Chi Thỉnh
nghĩa là từ có sinh dân đến giờ
chưa bằng ngày nay là thỉnh
Thể văn bây giờ
không dùng lối tự cú đối
một khi có ai dùng đến
liền có người chỉ trích là văn làm không đối
ngày xưa Hàn Dũ nói
người mưu cầu lợi lọc
thi thố đạo học ở đời này
mà văn làm để cho người ta không thích
thì không khác gì người ôm đàn
đứng trực ở cửa vua nước tè
cho nên người làm văn
muốn học theo lối cổ cũng cần
phải làm cho hợp phép
Tô Tử Chiêm là tiên tự của Tô Thức
một danh nho đời nhà Tống
Đỗ ở đây tức là Đỗ Phổ
Hàn tức là Hàn Dũ
Nhan tức là Nhan Trân Khanh
ba người này có tiếng là thơ giỏi
văn hay và chữ tốt
ở đời nhà Đường
Tả tức là Tả Khâu Minh
theo tử nguyên thì Tả Khâu Minh
làm quan Thái Sử nước lỗ
Khổng Tử làm Kinh Xuân Thu
Tả Khâu Minh suy diễn ý Khổng Tử
để làm ra chuyện gọi là Tả Chuyện
cũng gọi là Tả Thị Xuân Thu
Bài tử Đằng Vương Cá có câu
Lạc Hà Cô Vụ
Thu Thủy Trường Thiên
là hai câu tuyệt hay
Nhưng trước kia văn của Thẩm Ước đã có câu
Lạc Hoa Giữa Chi Cái Đồng Phi
Rừng Liễu Cộng Xuân Kỳ
Nhất Sắc
Nghĩa là đá hoa rụng cùng nấm cỏ chi đều bay
Cây rừng liễu cùng cờ mùa xuân một sắc
Tờ Chiếu của Thiên Nguyên
Nhà Hậu Chu cũng có câu
Trước Cống Giữa Văn Vũ Câu Thông
Hiến Trường Cộng Quang Hoa
Tịnh Cắng
Nghĩa là cống nạp cùng văn vũ
Đều thông đồng
Hiến Trường với văn hoa cùng vĩnh viễn
Duy câu văn của Vương Bột
Tinh thần sáng sủa hơn cả mấy câu trước kia
Bài thơ của Tống Trân Tông
Cho rừng ước
Tỏa thát vãng niên tử chế cáo
Cộng ra tảo tứ loại tương như
Bồng sơn kim nhật
Thuyên phần sử
Hoàn ngưỡng đa văn quá trọng thư
Báo chính liệt thành quy cận hậu
Sở vinh cao các bái ân sơ
Trừ sinh tẻ tẻ di chiêm vọng
Duyên tạm tư tuần biện lỗ ngư
Bài thơ này
Hai câu trên đối với nhau
Cũng là một thể cách riêng
Xin tạm dịch
Cửa cấm trước từng biên chế cáo
Tài cao mừng đã giống tương như
Non bồng nay lại nghiền kinh sử
Học rộng còn mong vượt trọng thư
Vào ít tâu bày công việc quần
Đội ơn rào rạt sủng vinh xưa
Học trò lũ lượt đương trông ngóng
Chữ nghĩa cha tường lỗ với ngư
Nước ta hai chiều nhà Lý nhà Trần
Ngang vào khoảng chiều nhà Tống nhà Nguyên
Ở Trung Quốc
Lúc ấy tinh anh nhân tài
Khí cách văn chương không khác gì Trung Quốc
Nhưng sách vở ghi chép sơ lược
Thiếu sót không tưởng tận
Tôi thu nhặt những văn còn sót lại
Ở đồ đồng và bia đá
Tức là kim thạch di văn
Được mấy chục bài
Thì thấy văn thời nhà Lý lối biển ngẫu
Bóng bẩy đẹp đẽ còn giống thể văn nhà đường
Đến thời nhà Trần
Thì lưu loát chỉnh tè
Đã giống khẩu khí người nhà Tống
Này đem danh mục chép ra đây
Để biết đại khái
Bài mình khắc vào quả chuông
Chùa Thiên Phúc núi Phật Tích
Do Thầy Chùa là Huệ Hương Soạn
Để năm nguyên hóa thứ 9 chiều nhà Lý
Bài mình khắc vào bia
Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh ở Ái Châu
Do Thầy Chùa là Pháp Bảo Soạn
Dựng năm đại khánh thứ 9
Bài mình khắc vào bia
Tháp Hội Thánh núi Lăng Già
Do Pháp Sư là Lê Kim Soạn
Dựng năm hội phong thứ nhất
Bài mình khắc vào quả chuông
Và bia Chùa Viên Quang
Đều do Dĩnh Đạt Soạn
Dựng năm ruệ vũ thứ 3
Bài bia ở Bảo Tháp Sùng Thiện Diên Linh
Núi Đội Sơn thuộc huyện Duy Tiên
Do Mai Công Bật viên ngoại Lăng Bộ Binh Soạn
Dựng năm ruệ vũ thứ 2
Bài bia ở Chùa Ngưỡng Sơn Linh ứng
Xã Ngọ Xá thuộc huyện Vĩnh Phúc
Nay là huyện Vĩnh Lộc thuộc Thanh Hóa
Do Thầy Chùa là Pháp Bảo Soạn
Dựng năm ruệ vũ thứ 7
Bài bia Chùa Diên Phúc thôn cổ Việt
Do Nguyễn Công Diễm
Gia Khách của Đỗ Anh Vũ Soạn
Dựng năm Đại Khánh thứ 4
Bài mình khắc vào bia Di Đà Bảo Khám
Ở Bỏng Hương thuộc Hồng Lộ
Lập vào thời đại Trần Anh Tông
Không rõ tên tác giả
Bài mình khắc vào chuông Chùa Đại Bi
Do Trần Đạo Tái tức Văn Túc Vương
Biên Soạn
Dựng năm Hưng Long thứ 2
Bài bia nói về chuông Chùa Đại Bi
Xã Mộ Đạo
Do Sa Môn là Sùng Nhân Biên Soạn
Bài mình khắc vào chuông Chùa Sùng Quang
Xã ỉ Lan cầu Mang Lãng
Do Đặng Lân Trùng Hàn Lâm Thị Giảng
Biên Soạn
Dựng năm Đại Khánh thứ 7
Bài mình khắc vào chuông Chùa Diên Thánh Báo Ân
Ở phường Đông Ngạc
Do Trần Trấn Khanh Ngợi Sử Trung Tán
Biên Soạn
Dựng năm Khai Hựu thứ 4
Bài ký Tháp Linh Tế núi Dục Thúy
Do Trường Hán Siêu Tả Thị Lan
Biên Soạn
Dựng năm Thiệu Phong thứ 3
Bài mình khắc vào bia Viện Báo Ân
Hương An Đăng
Do Hồ Tôn Thốc Trung Thư Lạnh
Biên Soạn
Dựng năm Sương Phủ thứ 7
Bài mình khắc vào bia Chùa Phúc Minh
Hương Man Đẻ
Do Đỗ Nguyên Trương Hàn Lâm Quền Học Sĩ
Biên Soạn
Dựng năm Long Khánh thứ 5
Bài ký Đại Bi Nham Chùa Sùng Nghiêm
Núi Vân Lỗi
Do Phạm Sư Mạnh
Hữu Bọc Sạ Biên Soạn
Dựng năm Thiệu Khánh thứ 3
Xem tập Tục Thuyết Phu Thiên Nam Hành Kỳ
Tử Minh Thiện Nhà Minh Biên Soạn
Có thể biết được thời đại nhà Trần
Từ Hàn Khôn Khéo
Và Số Lễ Vật Cống Nạp Hằng Năm
Xem tập Nam Ông Mộng Lục
Lê Trừng Nhà Minh Biên Soạn
Có thể biết được thời đại nhà Trần
Có những việc đặc sắc
Và việc chuyển ngôi cho con
Xem tập Bình Định Nam Giao Lục
Khâu Tấn Nhà Minh Biên Soạn
Có thể biết được cái lỗi cha con nhà hồ
Sờ hở lầm lẫn
Mở đường cho giặc kéo vào cướp nước
Và tài năng khí phách oanh hiệt của vô tôi nhà hậu Trần
Đọc tập Sứ Giao Châu
Và Thơ An Nam Tức Sự
Trần Cương Trung Nhà Nguyên Biên Soạn
Thì lễ nhạc, y quan, thuế khóa
Hình luật, phong tục
Xu hướng, thị trấn quan ải
Thời nhà Trần có thể biết được đại khái
Xem tập Thủ Vực
Chu Tư Lục
Nghiêm Tọng Giản Nhà Minh Biên Soạn
Thì về nghi lễ sai sứ thần
Đi sinh vấn của đời trước
Về gốc ngọt việc nhà Nguy Mạc sinh hàng
Về sự khó khăn trong khi gây dựng
Cơ nghiệp trung hưng
Về lòng thành khấn tố cáo của di thần triều trước
Và đại cương quan chế binh chế nước ta
Đều có thể biết rõ được
5 tập sách kể trên
Có thể bổ khuyết cho Việt sự
Sách Lệnh Nam Trích Quái
Tường truyền tác giả là Trần Thế Pháp
Bài tựa sách Thiếu Vi Lam Bản
Cũng có nói đến
Không rõ Thế Pháp người sứ nào
Nay chỉ thấy bài tựa của Vũ Quỳnh
Nêu ở đầu sách mà thôi
Sách này những chỗ vay mượn phụ hội không sao kẻ xiết
Ở đây chỉ dẫn ra một việc
Để chứng minh
Như chuyện Việt tỉnh
Chuyện này thấy chép trong sách Trung Quốc
Mà tác giả phụ hội soạn ra
Theo sách Nam Hải cổ tích ký
Của Ngô Lại Nhà Nguyên
Thì sống núi Việt tỉnh tức là Diếng Việt
Ở phía nam Nam Hải
Có một tên là Diếng Triệu Đà
Lại có một tên là Diếng Bảo Cô
Bảo Cô là vợ cá tử xuyên
Thường đi châm cứu cho bệnh nhân
Vùng Nam Hải
Rất lành nghề chứ bệnh bướu
Thôi vĩ nhà đường gặp Bảo Cô
Được Bảo Cô trao cho lá ngải
Ở sống núi Việt tỉnh
Nhà Nam Hán gọi là Ngọc Long Tuyền
Theo sách Tài Quỷ Ký của Trương Quân Phòng
Nhà Tống
Thì Thôi vĩ bị ngã xuống Diếng Nhâm Hiêu
Bàn đêm thoát nạn chạy ra
Được Ngọc Kinh Tử dẫn đến gặp Triệu Vũ Đế
Gả Điền Phu Nhân cho làm vợ
Và ban cho Ngọc Dương Tụy
Rồi lại sang người dẫn về nhân gian
Việc này chép ở sách Thuyết Phu
Hồi đầu Niên Hiệu Khai Hậu Nhà Trần
Tức khoảng năm 1329-1341
Lý Tế Xuyên Phụng Mạnh chép
Việt Điện U Linh Tập
Kỳ Đền Miếu Thở Các Vị Thần
Có trình bày hạo khí linh tích
8 vị đế vương lịch đại
Và 12 vị nhân thần
Sách này lời văn trang nghiêm
Sự việc xác thực
Cũng tỏ ra tài nhà sử học lành nghề
Trong sách có dẫn Giao Châu Ký
Của Tăng Cồn, Sử Ký Của Đỗ Thiện
Và Chuyện Báo Cực
Những sách này nay đều không thấy lưu truyền
Cao Hùng Trưng
Giáo Thụ Phủ Tư Minh Nhà Đại Minh
Có biên soạn Bộ An Nam Trí
Về phần vị trí cương vực
Lị Sở, Thành Trì, Núi Sông
Phường Quách, Hương Chấn, Thổ Sàn
Cống Phú, Phong Tục
Hình Thế Hộ Khẩu, Học Hiệu
Quân Vệ, Đàn Tràng, Kho Tàng
Chùa, Quán, Đền, Miếu
Cầu, Cống, Cổ Tích
Cung Nhà, Bến Đò, Cửa Ại
Hang Động, Vườn Ao
Đê Bối và Cảnh Vật
Đại Khái, Căn Cứ vào Tài Liệu của Nhà Trần
Còn Xót Lại và Sự Tích
Thờ Nhà Minh
Trong 10 phần cũng được 2-3 phần
Nhưng đáng ghét là lời nói nhiều phần phù bạc
Ngay như Giải Tấn Nhà Minh
Vì trái ý thành tổ
Phải chuất chức và cho làm tham nghị giao chỉ
Không đầy một năm lại chịu về
Thế mà Hùng Trưng lại cho là
Nước Nam từ khi được Giải Tấn Dạy Bào
Mới biết xu hướng về việc học
Nên họ gọi Giải Tấn là Giải Phu Tử
Chép như thế thật là cản rỡ
Khi tôi phụng mệnh sang sứ
Thấy các nhà nho Trung Quốc
Hỏi về việc
An Nam tôn thờ Giải Phu Tử
Tôi đã biện bạch về sự sai lầm
Tôi lại đưa quấn, trích diễm thi tập
Cho Chu Bội Liên, Đồ Đốc Quảng Tây
Để họ biết Triều Nhà Trần đã có
Nhiều văn học thi chương
Không phải từ Giải Tấn
Người ta mới biết văn học
Thời đại Trần Nhân Tông
Trần Cương Trung sứ thần nhà nguyên sang nước ta
Lúc ấy nhưng sau khi Nam Bắc chiến tranh
Nên người phương Bắc sang nước Nam
Phần nhiều lo sợ
Xem tập Sứ Giao Châu của Cương Trung
Có bài thơ đầu đề là
Sứ Hoàn Cảm Sự
Tức là cảm tưởng sau khi đi sứ trở về
Thì đủ rõ
Bài thơ ấy như sau
Thiếu niên ngẫu thử
Thỉnh trường Anh
Mạnh lạc Nam Châu nhất vũ khinh
Vạn lý thượng lâm vô nhạc đáo
Tàm canh hàm cốc hữu kê minh
Kim qua ảnh lý đán tâm khổ
Đồng cổ thanh chung
Bạch phát sinh
Dĩ hạnh quy lai thân kiện tải
Mọng hồi do giác chướng hồn kinh
Tạm dịch là
Trẻ thơ vâng lệnh
Sứ phương xa
Thần nhẹ như lông ngũ lĩnh qua
Mùn dạm thượng lâm tin vắng nhạt
Bà canh hàm cốc gáy mong gà
Bóng lè gươm sắc
Lòng thêm đắng
Tiếng rộn trống đồng tóc đốm hoa
Được sống trở về mừng vẫn khỏe
Còn ghê khí độc
Rất nam kha
Chiều nhà Trần
Phó Nhật Kim sang xứ nước ta
Có soạn tập thanh giang
Thơ cũng đúng đắn
Bài thơ đầu đề là
Lạp nhật nhập cảnh
Đồng nhập An Nam Quốc
Vân Nginh xứ giả thiều
Quận văn tần nhất trí
Trụ tường hán thời tiêu
Giàng lộ hoàng do thát
Sơn điền đạo thủy miêu
Hoàng ân hàm viễn cận
Hạnh dịch bất từ lao
Tạm dịch
Mùa đông vào nước An Nam
Đóa mây mừng đón xe loan xứ thần
Quận nghe đặt tự đời tần
Cột đồng nhớ thùa
Hán nhân dựng thành
Đường sông mò ấp che xanh
Ruộng đèo lúa mới nảy nhành lá non
Gần xa nhuần thấm hoàng ân
Phận tôi hạnh dịch
Chẳng sờn gian lao
Khi về đến Bắc Tinh
Phó Nhật Kim lại có bài thơ như sau
Xứ tiết vi sông khuyết
Thiên thư hạ bách man
Vũ trưng quy nhật lộ
Vân hợp xuất thời san
Lĩnh biểu binh do động
Loàn dương giá vị hoàng
Yên biên phu sách tải
Bất đắc phạm long nhan
Tạm dịch
Tử kinh khuyết tay cầm cờ xứ
Ban chiếu trời xuống xứ Nam Giao
Ngày về tường lội non cao
Mây quanh từng đám
Mưa rào từng cơn
Trốn lĩnh biểu binh còn đánh phá
Đất loàn dương xa giá chưa về
Yên biên trước vấn đề hòe
Tâu bày chẳng được
Liền kề long nhan
Mình thái tổ mới dựng cơ nghiệp
Sai dư quý sang xứ nhà Trần
Lúc ấy
Giáp thạch phạm sư mạnh
Giữ việc tiếp khách
Có họa thơ của sứ thần như sau
Tạm thập niên tiền mộng kiến khang
Thù phòng vạn lý nhất chinh hoàng
Lục chiều nhân vật trung sơn tải
Bách chiến quan hà
Giang thủy trường
Thiết úng thạch đầu duy dạ nguyệt
Ô y châu tước chỉ tà dương
Đại minh kim nhật
Đô giang tả
Hổ vận nguy vong
Hán vận sương
Tạm dịch
Kiến khang năm trước vẫn mơ màng
Muôn rậm con thuyền thuận gió sang
Nhân vật sáu chiều ghi đỉnh núi
Quan hà trăm trận suốt tràng giang
Thạch đầu thiết úng
Chơ trăng lạnh
Châu tước ô y lạt bóng vàng
Giang tả đại minh nay vững trái
Hổ suy hán thịnh
Việc không thường
Phạm sư mạnh
Lại có thơ tiếng biệt sứ thần như sau
Vạn lý đông hành
Lưỡng sứ quân
Nhất bôi biệt tử ý ân cần
Mã hàm rũ lĩnh mai hoa tuyết
Thuyền quá ngô giang nhạn ảnh vân
Sóc mạc binh trần
Kim tấu tiệp
Nam chiều nhân vật tổng năng văn
Quỳ lai mật vật bồi chiên hạ
Tiến giảng trùng hoa
Giữ phóng huân
Tạm dịch
Sứ quân muôn rằm
Bỗng chia tay
Chén diệu đưa chân ý nhị đầy
Non rũ ngựa rong
Mai giống tuyết
Sông ngô thuyền vượt
Nhạn đường mây
Bình nhung cõi bắc
Tấu tin thắng
Văn vận chiều nam
Lắm bậc hay
Thèn chốt giữ gìn
Khi bái yết
Công nghiêu đức thuần
Hai bài thơ trên
Trình bày công việc vừa lịch duyệt vừa lao luyện
Thổ lộ lời văn vừa cứng cáp
Vừa vui tươi
Có phần làm mạnh được quốc thể
Năm quý hợi niên hiệu chính hòa
Tức năm 1683
Minh đồ sứ thần nhà Thanh
Qua quỷ môn quan
Có văn tế ở miếu thờ mã phục ba
Lời văn như sau
Tướng tinh ráng hạ đất tây tần
Ánh sáng tỏ hơn sao bắc
Phòng độ nêu cao đời Đông Hán
Danh thơm vang mãi trời Nam
Gần xa đều kính mến
Thần nhân cùng nương nhờ
Nhớ đại tướng quân xưa
Chính khí muôn thùa vĩ nhân một thời
Ngào ru khoảng giữa hai nhà
Về thờ chân chúa
Khen ngợi mạnh thay nhất bù
Kính trọng lão thần
Lên tướng đàn năm trước
Hết hò vỡ mật quần hùng
Cầm tiết Việt tuổi già
Chỉ xử tan hồn man nữ
Tên nêu đồng trụ
Sáu chữ chia nội ngoại hai đàng
Đất vạch quỷ môn
Chiếc khóa cản thiên nhân đôi ngà
Mình đổ chúng tôi
Tài hèn tựa gỗ mục
Hình yếu như ngựa già
Tự xét trong mình
Rất hẹn với câu văn vẽ hồ
Phụng mạnh đi xứ
Thường nghe về khí độc sa chim
Sông Lý Thủy mong oai phủ hộ
Việt hữu xuôi buồm
Thành An Châu nhớ đức linh thiêng
Nhật Nam rừng ngựa
Kính dân lễ mọn giãi tỏ lòng thành
Cuối vong đức tài nhật nguyệt
Khắp trần gian xoay sáng không riêng
Công sánh núi non
Giúp đệ thất lâu đài thêm vững
Viên sán sứ thần nhà Thanh
Sang nước ta
Có biên soạn một cuốn sử
Sứ giao kỷ sự
Ở cuối sách lại có phụ lục
Bài sứ giao ngâm
Sách ấy do Ngô Hưng Tổ
Tổng đốc lưỡng quảng đề tựa rằng
Tổ này vâng đặc mệnh cửu trùng
Cai trị lưỡng Việt
Nhân sau khi giấy binh đánh dẹp
Bọn gian nhũng chưa yên
Người giao người đồng ở lẫn lộn
Tổ này vẫn nâm nớp lo sợ
Việc đổi xấu thành tốt là việc khó khăn
Này chiếu trời ban bố
Việt thường là nơi xa xăm
Cũng nhảy múa vui mừng ở ngoài muôn rộng
Đức hóa yên ủi thấm khắp gần xa
Không đầu là không sợ ai cảm đức
Làm cho tổ này cầm cờ tiết
Ngồi chấn trị
Cũng được hưởng phúc lành
Sống trong biển lặng không bao giờ cùng
Đầu tiết ra bình
Xe sứ quân trở về qua đất Đoan Châu
Tổ này đã may mắn
Biết hết được công việc ở Nam Quan
Lại được đọc sách này
Càng mừng đủ cả bốn điều tốt
Vậy vì sứ quân trên vị triều đình
Tuyên dương đức hóa
Dưới vị man phương ban bố sủng vinh
Mà giảng thi thư, nói lễ nhạc
Mở rộng thực học về sự theo đòi
Nhân nghĩa ở phương xa
Hơn nữa trong sách ghi về đường xá
Diên cách, nhân vật, phong tục
Cả đến những vật nhỏ mọn
Như cây cối chim muông
Làm cho người xem sách có thể mở rộng kiến văn
Cũng như mình đã ra ngoài lịch duyệt
Đến như những bài ca vịnh
Ý tứ phong phú, lời lẽ sáng sủa
Không phải chỉ có mấy chương
Như thơ hoàng hoa mà thôi
Bài tựa
Của lý sĩ Trinh Tuần Phủ nói
Ngày trước tiên vương Sai Sứ Thần
Khen về sự cần lao trong khi đi đường
Mà thuật rõ lòng mong muốn của họ
Rằng
Hoàng hoàng giả hoa
Vô bỉ nguyên thấp
Sần sần chinh phu
Mỗi hoài mỹ cập
Tức là rực rỡ sắc hoa
Nở cả trên cao và dưới thấp
Những người đi xa vội vàng
Thường nghĩ không làm kịp công việc
Đến chương cuối thì nói
Ngã mã duy nhân lục bí ký quân
Tái chi tái khô
Chu viên tư tuân
Nghĩa là
Ngựa ta là ngựa rán sắc
Sáu giây cương đã điều hòa
Dòng ruổi ra đi
Hỏi hết những việc cần thiết
Này sứ quân đi sứ lần này
Cốt để tuyên dương đức ý người trên
Và thông suất tình trạng người dưới
Việc ấy đã làm đầy đủ trước trách rồi
Đến như tập sách chép khi đi sứ
Từ núi sông đường xá
Phong tục nhân vật
Cho đến các loài cỏ cây
Không việc gì không hỏi han
Mà biên chép cho bằng hết
Không những thế
Lại còn thổ lộ ra lời ca vịnh
Sáng tác thành thiên trương
Làm cho người xem đến quyến luyến tán thường
Mà không nỡ rời tay
Sách Mao thì nói
Lạc chỉ quân tử bang ra chi quang
Nghĩa là người quân tử vui vẻ
Làm cho nước nhà được vinh quang
Sứ quân có thể xứng đáng với câu thơ ấy
Ngày trước
Tường như Phụng Mạnh đi thông hiếu
Với nước Cùng Tạc
Về chiều tâu bày
Và dâng bài phú Đại Nhân
Hán Vũ Đế khen là có chí khí bay nhảy
Như muốn sông lên tận tận mây
Thế thì cuốn sách này
Sách cùng với bài phú của Tường như
Cùng lưu truyền bất hù
Tôi nhận thấy
Bọn Minh Đổ và Viên Sán sang xứ nước ta
Vừa đi vừa về chẳng qua có 1 tháng 8 ngày
Thế mà vào trong nước hỏi phong tục
Đã biết được chút ít đại khái
Và lại đối đáp hợp với lễ nghi
Bàn luận có phần trung hậu
Biên chép đẻ vỉnh có tẩm mắt coi trọng viêm giao
Đấy là điều đáng khen
Trong sách xứ giao kỷ sự
Hơn 10 điều tạp ký
Ngợi khen nước ta nhân dân xung hợp đông vui
Địa thế bằng phẳng
Buông mắt trong xa thế một dài đều là đồng ruộng
Không chỗ nào bỏ hoang
Làng xóm ở liền sát với nhau
Người nhiều mà đất ít
Còn phần ghi chép về chế độ, lễ nghi, phong tục, khí hậu
Cũng được chính xác rõ ràng
Năm Tân Tị
Niên Hiệu Cảnh Hưng
Tức năm 1761
Sứ thần Trung Quốc là Đức Bảo
Thị Độc và Cố Nhữ Tu
Tự khanh sang nước ta sách phong
Lúc ấy tôi phụng mệnh đi sứ Trung Quốc trở về
Cùng gặp châu ở phủ Thái Bình
Nhân hết năm
Nên giữ lại khoảng đãi hơn 10 ngày
Đức Bảo tên hiệu là Thận Trai
Có 48 bảy thơ thất ngôn luật
Đề là
Tại giao phái vận thi
Tức là thơ làm khi sung phái bộ giao châu
Và 160 bài thất ngôn tuyệt cú
Đề là
An Nam Trúc Tri Điệu
Cố Nhữ Tu tên hiệu là Mật Trai
Có 67 thơ tuyệt cú
Đề là An Nam Khẩu Chiếm
Đức Bảo và Nhữ Tu
Đưa những thơ ấy trình bày với cha Tuân Thúc
Thái Thú phủ Thái Bình
Nhân đấy tôi được xem
Bài thơ Độ Sương Giang Ngẫu Thành
Của Đức Bảo như sau
Nhật Đường Thiêm Tuyến Độ Sương Khê
Tiếu Sát Đông Pha Nhập Mãn Đê
Cảo Phục Tà Hòe Thanh Nhược Lạp
Họa Thuyền Hoành Tiệt Bích Pha Lê
Như Đàn Hoa Nhị Khai Nhưng Bão
Tự Duấn Ương Trâm Sáp Dục Tề
Bát Nhập Phọng Thiên
Thôn Phong Thái Cổ
Mau Thiểm Viễn Cẩn
Tiếp Vân Đê
Tạm dịch là
Ngày dài cưỡi sóng vượt Sương Khê
Cười Bạn Đông Pha đến Trật Đê
Áo Vải Tay Đeo Nón Lá Cỏ
Thuyền Hoa Đậu Trẻn
Sóng Pha Lê
Họa Như Son Đỏ Màu Túc Nở
Mạ Tựa Măng Non Cấy Trình Tề
Mắt Thấy Xóm Làng Đầy Thói Cổ
Gần Sa Nhà Lá
Bóng Mây Tre
Lúc ấy tôi có đưa cho
Hai Viên Khâm Sứ mỗi người một bài thơ
Bài của Đức Bào đáp lại có câu rằng
Vị Báo Nhu Hoài
Sùng Sứ Tiết
Hảo Hưng Lễ Nhược Cố Phiên Duy
Nghĩa là
Vì Tỏ Lòng Yên Uỷ Phương Sa
Nên Kính Trọng Cở Tiết Mau Sứ Bộ
Cần Đề Cao Lễ Nghĩa Khiêm Nhược
Đề Vững Bền Nơi Phiên Trấn
Của Triều Đình
Đức Bào tặng lại tôi một câu đối rằng
Chuẩn Thằng Quy Củ Sư Tiền Tiết
Ôn Hậu Hòa Bình Khải Hậu Côn
Nghĩa là
Dây Mực Khuôn Thước
Bắt Trước Chiết Nhân Đời Trước
Hòa Bình Ôn Hậu Mở Đường Con Cháu Đời Sau
Cao Biển Nhà Đường
Tên Tự Là Thiên Lý
Sang Trấn Giao Châu Đánh Dẹp Ma Nam Chiếu
Đến Nay Người Trong Nước
Còn Gọi Là Cao Vương
Nhiều Người Chỉ Biết Cao Biển Có Võ Lược
Mà Không Biết Có Tài Làm Thơ
Trước Đây Tôi Xem Trong Quấn
Toàn Đường Thi Lục
Thấy Có Vài Chục Bài Thơ Xin Chép Ra Đây
Bài Ngôn Hoài
Tức Là Cảm Tưởng
Hận Phạp Bình Nhung Sách
Tàm Đăng Bái Tướng Đàn
Thủ Trì Kim Việt Lãnh
Thần Quải Thiết Y Hàn
Chúa Thánh Phù Trì Dị
Ẩn Thầm Báo Hiệu Nan
Tàm Biển Do Vị Tính
Tạm Dịch
Khả Năng Hưu Mộng Nhập Trùng Thành
Chỉ Biên Tả Sự
Sư Tiển Bối
Tọa Hữu Đẻ Minh Luật Hậu Sinh
Ngầm Xá Khách Quy Tần Độ Ván
Tùy Hương Ngư Khứ Mỹ Pha Tình
Xuân Lai Bất Đắc
Sơn Tung Tín
Nhật Tận Vô Nhân Bang Thủy Hành
Tạm Dịch
Ở Ẩn Quên Phăng Mọi Việc Đời
Vào Thành Giấc Mộng Đá Nguôi Rồi
Học Tiển Bối
Chữ Đẻ Bến Nước
Dạy Hậu Sinh Châm Viết Chỗ Ngồi
Khách Vịnh Thơ Về Thuyền Trở Muộn
Trải Say Diệu
Tách Nắng Sa Soi
Xuân Về Chẳng Thấy Tin Trong Núi
Dạo Cảnh Ven Sông Vắng Bóng Người
Họa Bài
Tạng Động Đình Triệu Tiên Sinh
Của Tiến Sĩ Vương Chiêu Phủ
Vị Ái Quân Sơn
Cảnh Tối Linh
Dốc Cần Thu Lễ Nhất Đàn Tinh
Dược Tương Kê Khuyền Vân Gian Thí
Cầm Hứa Ngư Long Nguyệt Hạ Thinh
Tự Yếu Thừa Phong Tùy Vũ Khách
Thùy Đồng Chủng Ngọc
Nghiệm Tiên Kinh
Yên Hà Đạng Bạc Vô Nhân Đáo
Duy Hữu Ngư Ông Quá Động Đình
Tạm Dịch
Yêu Phong Cảnh Quân Sơn Đẹp Đẽ
Khăn Ngà Bò Giảng Lễ Bậc Thầy
Thuốc Tiên Gà Chó Lên Mây
Dạo Đàn Dòng Cá
Vui Vày Dưới Trăng
Gió Muốn Cưỡi Theo Bằng Đạo Sĩ
Ngọc Ai Trồng Nghiền Nghĩ Kinh Tiên
Nón Khè Tĩnh Mịch Ai Nhìn
Động Đình Chỉ Có Con Thuyền Ngư Ông
Bài Đề Đền Thờ Thần Nam Hải
Thương Minh Bát Thiên Lý
Kim Cổ Quý Ba Đào
Thử Nhật Nam Trinh Tướng
Yên Nhiền Độ Vạn Cao
Tạm Dịch
Minh Mông Tám Ngàn Giảm
Sóng Gió Giữ Từ Xưa
Tướng Sĩ Nay Nam Tiến
Muôn Trèo Nhẹ Nhẹ Đưa
Bài Khiển Hứng
Bà Tràn Phi Liên Tử
Chỉ Can Bất Vị Ngư
Duy Ưng Kê Thúc Giả
Tự Ngã Tính Dung Sơ
Tạm Dịch
Nâng Chén Phải Đâu Vì Thích Diệu
Gieo Câu Nào Giám
Há Cho Nhiều
Chỉ Vì Tính Biến Lười Thô Lỗ
Thúc Giả Cùng Ta Cũng Một Triều
Bài
Gửi Tơ Tào Khi Đến An Nam
Tẳng Khu Vạn Lý Thướng Thiên San
Phòng Khứ Vân Hồi
Khoành Khắc Gian
Kim Nhật Hải Môn Nam Quốc Sử
Mạc Giao Hoàng Tử Phượng Lâm Quan
Tạm Dịch
Thiên Sơn Muôn Giằm
Tới Hàng Ngày
Chốc Lát Đi Về Thuận Gió Mây
Công Việc Nước Nam Ngoài Cửa Biển
Phượng Lâm Đâu Đẻ Đến Ngày Nay
Bài Khuê Bi
Tức Là Lòng Nhớ Thương
Của Người Chính Phụ
Nhân Thế Bi Hoan Bất Khả Chi
Phù Quần Sơ Phá Hắc Sơn Quy
Như Kim Hậu Hiến
Trinh Nam Sách
Tảo Vãn Thôi Phùng
Đái Hiệu Y
Tạm Dịch
Tẻ Vui Nào Biết Việc Trên Đời
Tràng Phá Hắc Sơn Mới Nghỉ Ngơi
Nay Lại Nam Trinh Dân Kế Sách
Sớm Chiều May Áo Dục Tơi Bời
Bài
Nam Trinh Tự Hoài
Tức Là Bài Bày Tỏ Tâm Sự
Khi Đi Đánh Phương Nam
Vạn Lý Khu Binh Quá Hải Môn
Thử Sinh Kim Nhật
Báo Quân ơn
Hồi Kỳ Trực Đãi Phong Yên Tĩnh
Bất Khiển Trinh Y
Hữu Lệ Ngân
Tạm Dịch
Cửa Biển Cẩm Quân Vạn Rộng Đi
Báo ơn Nay Thỏa Trí Nam Nhi
Ngày Về Quyết Đợi Tan Minh Lửa
Nước Mắt Không Làm Ổ Chiến Y
Bài
Quá Thiên Oai Canh
Tức Là Bài Thơ Khi Đi Qua Canh Thiên Oai
Sải Lan Khanh Tần
Khước Chiều Thiên
Chiến Mã Hưu Tê Chướng Lĩnh Yên
Quỳ Lộ Hiểm Hi Kim Thản Đáng
Nhất Điều Thiên Lý Trực Như Huyền
Tạm Dịch
Hùm Béo Trôn Hết
Mới Về Chiều
Khói Lửa Không Làm Ngựa Chiến Kêu
Đường Trước Gặp Gành Nay Phẳng Phắn
Lối Về Ngàn Dặm Thẳng Trăm Chiều
Bài
An Nam Tống Tào
Biệt Sắc Quy Chiều
Nghĩa Là Ở An Nam Tiễn Tơ Tào
Vâng Sắc Chỉ Từ Biệt Về Chiều
Vân Thủy Thương Mang
Nhật Dục Thâu
Giã Yên Thâm Sứ Giá Cô Sầu
Chi Quân Vạn Lý Chiều Thiên Khứ
Vị Thuyết Trinh Nam
Dĩ Ngũ Thu
Tạm Dịch
Mình Mông Mây Nước Sắp Về Chiều
Khói Nội Gà Cô Khoắc Khoải Kêu
Muôn Giảm Anh Về Chầu Đế Khuyết
Năm Thu Năm Tiến
Nhớ Tâu Chiều
Bài Phó Tây Xuyên Đổ Kinh Quắc Huệ Tạc
Nghĩa Là
Đến Tây Xuyên Khi Đi Qua Huệ Quắc
Á Phô Chủng Quá
Liễu Doanh Môn
Lộ Chỉ Dân Nga Cách Mộ Vân
Hồng Ngạch Thiếu Niên Giả Đạo Bái
Ẩn Cần Nhận Đắc Cựu Tương Quân
Tạm Dịch
Tế Liễu Quay Về
Tướng Á Phô
Dân Nga Thẳng Trò Cách Mây Mồ
Thiếu Niên Khăn Đỏ Đầy Đường Đón
Nhìn Nhận Tỏ Tường Vẫn Tướng Xưa
Bài Cẩm Thành Tả Vọng
Tức là
Tả Cảnh Lúc Trông Ra Cẩm Thành
Thục Giang Ba Ảnh
Bích Du Du
Tứ Vọng Yên Hoa Táp Quận Lâu
Bất Hội Nhân Gia Đa Thiểu Cẩm
Xuân Lai Tận Quải Thụ Tiêu Đầu
Tạm Dịch
Ánh Sóng Biếc Ngần Ngần
Sông Thục
Hoa Bốn Về Quanh Bọc Lầu Thành
Ít Nhiều Gống Vóc Mọi Ngành
Xuân Về Treo Hết Đầu Cành Cây Cao
Bài
Biên Phương Xuân Hứng
Tức là Thú Mùa Xuân Ở Biên Tái
Thảo Sắc Thanh Thanh Hiễu Sắc Nùng
Ngọc Hồ Khuynh Tử
Mãn Kim Trung
Sình Ca Liệu Lượng Tùy Phong Khứ
Bộ Tuận Quan San Đệ Kỷ Trùng
Nghĩa là
Sắc Cỏ Xanh Xanh
Sắc Liễu Gầy
Diệu Nghiêng Hồ Ngọc
Chén Vàng Đầy
Tiếng Vang Đảng Hát Đưa Theo Gió
Đi Hết Quan San Khắp Đó Đây
Bài
Tái Thượng Ký Gia Huynh
Nghĩa là
Ở Trên Cửa Ái Gửi Cho Anh
Lệ Ngạc Phân Trương
Tín Sứ Hy
Kỷ Đa Hương Lệ
Xái Trinh Y
Già Thanh Vị Đoạn
Trường Tiên Đoạn
Vạn Lý Hồ Thiên
Điều Bất Phi
Tạm Dịch
Anh Em Cách Biệt Bấy Lâu Nay
Giọt Lệ Hương Quan
Áo Thấm Đầy
Trời Hồ Muôn Rậm
Nhạn Không Bay
Hai Bài Tả Hoài
Ngừ Can Tiêu Nhật
Tử Tiêu Sầu
Nhất Túy Vong Tình
Vạn Sự Hưu
Khước Hận Hàn Bành
Hưng Hán Thất
Công Thành Bất Hướng
Ngũ Hồ Du
Hòa Mãn Tây Viên
Nguyệt Mãn Trì
Xinh Ca Giao Rệ Họa Thuyền Di
Như Kim Ám Giữ
Tâm Tương Ước
Bất Động Trinh Kỳ Động Tử Kỳ
Tạm Dịch
Cầu Cá Hết Ngày
Diệu Hết Lo
Say Rồi Muôn Việc Nguội Như Cho
Hàn Bành Giúp Hán Thành Cơ Nghiệp
Giận Chẳng Vui Chơi Cảnh Ngũ Hồ
Hoa Đầy Vườn
Nguyệt Đầy Ao
Thuyền Đưa Đàn Hát Tiêu Giao Kịp Thì
Thỏa Lòng Ao Ước Đôi Khi
Trinh Kỳ Quận Lại
Tiểu Kỳ Tung Bay
Bài Sơn Đình Hạ Nhật
Tức là Sơn Đình Ngày Mùa Hè
Lục Thủ Âm Nung Hạ Nhật Trường
Lâu Đài Đào Ảnh
Nhập Trì Đường
Thủy Tinh Liêm Đồng Vi Phong Khởi
Nhất Đóa Tường Vi Mãn Viện Hương
Nghĩa là
Cây Xanh Bóng Giợp Gặp Ngày Dài
Chiếu Lộn Trông Ao Ánh Điện Đài
Dèm Động Thủy Tinh
Hơi Hảy Gió
Hòa Vi Ngào Ngạt Khắp Trong Ngoài
Bài Đối Tuyết
Lục Xuất Phi Hoa
Nhập Hộ Thì
Tọa Khan Thanh Trúc Biến Quỳnh Chi
Như Kim Hảo Thướng Cao Lâu Vọng
Cái Tận Nhân Gian
Ác Lộ Kỳ
Tức là
Hòa Bay Sáu Cánh Vào Nhà
Ngồi Xem Cây Trúc Khóa Ra Cành Quỳnh
Lên Lầu Buông Mắt Nhìn Quanh
Con Đường Nhân Thế Gặp Gành
Gặp Trăng
Bài Tầm Ẩn Giả Bất Ngộ
Nghĩa là
Tìm Người Ẩn Giật Mà Không Được Gặp
Lạc Khoa Lưu Thủy Tổng Thiên Thai
Bán Túy Nhàn Ngâm
Đọc Tự Lai
Chủ Trướng Tiên Ông Hà Sứ Khứ
Mát Đình Hồng Hành
Bích Đào Khai
Tạm Dịch
Nước Trôi Hoa Dụng Vẫn Thiên Thai
Chánh Choáng Nghêu Ngao Tự Đến Chơi
Ngắn Nỗi Tiên Ông Đâu Vắng Tá
Đẩy Sân Đào Hành
Bài Ký La Phù Biệt Nghiệp
Tức là
Gửi Đề Nhà Riêng Của Người Ở La Phù
Bất Tường Trân Tính
Nhiễm Ai Trần
Vị Hiểu Yên Hà Bạn Thử Thân
Đái Nhật Trường Giang Tương Hảo Tin
Bác La Sơn Hạ
Bích Đào Xuân
Tạm Dịch
Tinh Trời Không Chút Bận Hồng Trần
Bởi Có Yên Hà Quẹn Với Thân
Tin Tốt Trường Giang Ngày Gửi Đến
Bác La Đào Nở Biết Bao Xuân
La Phù Ở Đây
Là Núi La Phù
Ở Địa Phận Huyện Tăng Thành
Tỉnh Quảng Đông
Bài Bộ Hư Động
Thanh Khê Đạo Sĩ Nhân Bất Thức
Thượng Thiên Hạ Thiên Bạc Nhất Chích
Động Tiền Thâm Tòa Bích Song Hàn
Chích Lộ Nghiên Châu Điểm
Chu Dịch
Tạm Dịch
Người Chẳng Biết Thanh Khê Đạo Sĩ
Hạc Một Con Mặc Ý Xuống Lên
Lạnh Lùng Trước Động Khóa Thên
Chấm Phò Chu Dịch
Mài Nghiên Son Già
Bài Tặng Ca Già
Nghĩa là Tặng Người Hát
Công Tử Yêu Hoan Nguyệt Mãn Lâu
Giài Nhân Ít Điệu Sướng Ý Châu
Tiện Tỏng Thịch Thượng Thu Phong Khởi
Trực Đáo Tiêu Quan
Thủy Tận Đầu
Tạm Dịch
Đầy Lầu Bóng Nguyệt Đón Vui Chơi
Khúc Hát Ý Châu Rọng Lả Lơi
Trên Tiệc Sang Thu Luồng Gió Thổi
Tiêu Quan Nước Cạn
Tiệc Vừa Thôi
Thời Đại Nhân Tông Nhả Tống
Tức khoảng 1023-1059
Đào Bật Cai Trị Ung Châu
Là Người Có Thi Tài
Ngâm Vịnh Rất Nhiều
Bài Đề Cửa Côn Lôn Phủ Nam Ninh
Quan Lộ Hạ Côn Lôn
Màn Phòng Dĩ Lý Phân
Phòng Quang Thiên Trước Thảo
Vũ Ý Bất Ly Vân
Tục Dị Quân Tu Đức
Thời Bình Tướng Dũng Văn
Tạm Dịch
Bài Vĩnh Bình Đạo Trung
Điệp Trướng Thâm Thiên Lý
Cùng Biên Kim Nhất Ngu
Bắc Phong Gia Tín Tức
Nam Đầu Khách Trình Đồ
Lĩnh Thế Tần Khai Hợp
Viện Thành Xã Hữu Vô
Quá Khê Nhân Tiếu Ngữ
Cách Ngạn Thú Yên Cô
Tạm Dịch
Thế Non Khép Mở Nhiều Bề
Nhỏ To Tiếng Vượn Vọng Về Sa Sa
Nói Cười Khe Nước Người Qua
Cách Ngạn Đồn Thú Khói Đà Quạnh Hưu
Bài Đề Dương Sóc Huện Xá
Tức là Đề Nhà Huện Dương Sóc
Thạch Bích Thâm Thâm
Nhễu Huện Nha
Bất Ly Sảng Nhẫm
Kiến Yên Hà
Dân Canh Tử Vũ Vi Chiêu Tử
Tăng Chử Hoàng Tinh Đại Vãn Trà
Bọc Bố Thanh Trung Khuy Án Độc
Nữ Là Âm Lý Khuyến Tăng Ma
Dục Chi Ngôn Yền Huền Ca Sứ
Thủy Mạc Bình Phong
Sổ Bách Gia
Tạm Dịch
Vách Đá Sâu Sâu Bọc Huện Nha
Không Rời Chăn Chiếu Thấy Yên Hà
Dân Trồng Khoai Tía Thay Cơm Sáng
Sư Nấu Hoàng Tinh Thế Nước Trà
Thác Nước Tiếng Vang Trong Án Độc
Bóng Cây Đứng Nhủ Việc Nông Gia
Muốn Tìm Đàn Hát Nơi Ngôn Yền
Nét Vẽ Bình Phong Có Lắm Nhà
Lại một bài nữa
Dư Điển Ngộ Vũ Tiểu Khê Hồn
Viễn Cận Vân Phong Hộ Thổ Thôn
Thủ Tục Dị Hôn Tam Lý Vụ
Ẩm Nhài Hốt Lộ Nhất Gia Thôn
Quế Hoa Hương Lý Tầm Tăng Tử
Dung Thủ Âm Trung Ẩn Huện Môn
Tỉnh Thuế Vị Thâu Binh Giáp Hậu
Tâm Cần Phủ Tử Thả Hư Luân
Tạm Dịch
Duộng Đồi Mưa Xuống Đầy Khe
Núi Non Ẩn Hiện
Mây Tre Xa Gần
Sương Dày Ngảy Tối Bất Thần
Hàng Sâu Trợt Lộ Cư Dân Mấy Nhà
Chùa Sư Tìm Trốn Quế Hoa
Cửa Thành Núp Giới Bóng Đa
Úm Tùm
Giặc Tan Thuế Khóa Chưa Tròn
Liêu Tâm Giúp Đỡ Khoan Bàn
Trưng Thu
Bài Tân Châu Duyệt Võ Đường
Tức là Đề Nhà Duyệt Võ Ở Tân Châu
Nam Kiệu Phong Vân
Tịch Túc Thanh
Hoại Câu Tản Lũy Hiệu Thăng Bình
Quan Tàu Duy Thức Bạ Thư Tử
Dân Tục Bất Chi Kim Cổ Thanh
Vãng Tuế Hốt Truyền Nam Chiếu Hịch
Cận Thì Phương Trúc Phục Ba Doanh
An Thành Thái Thú Thâm Biên Kế
Nám Hám Hoa Khai Duyệt Thủy Binh
Tạm Dịch
Đất Nam Kiệu Sa Khơi Thịnh Trị
Đời Thăng Bình Hào Lũy Bỏ Tồi
Quàn Nhà Trăm Việc Tờ Bồi
Tục Dân Hảo Bình
Hịch Nam Chiếu Trợt Đưa Nam Trước
Doanh Phục Ba Đắp Được Gần Đây
An Thành Thái Thú Trước Hay
Dưới Hoa Hám Nám Duyệt Bày Thủy Binh
Long Châu Tú Lĩnh
Tức là Đề Núi Tú Lĩnh Ở Long Châu
Lộ Tùy Vân Đặng Thạch Thê Hành
Hạn Cách Hoa Di Thiên Ý Minh
Tự Giữ Đại Quân Vi Ngoại Bình
Hạ Lao Chư Tướng Tác Trường Thành
Phúc Dân Khai
Khả Bái Tam Công Tước
Thọ Thánh Năng Hô Vạn Tuế Thanh
Hải Quốc Mặt Cương Giai Thạch Lão
Đãi Thủy Lai Thử Lặc Công Danh
Tạm Dịch
Đường Đi Theo Kẽ Mây Thang Đá
Chìa Hoa Di Trời Đá An Bài
Giúp Vua Che Trở Mặt Ngoài
Trường Thành Nọ Phải Nhọc Tay Tướng Thần
Lễ Tam Công Đặc Ân Ban Tế
Chúc Muôn Năm Thánh Đế Sống Lâu
Cõi Xa Vách Đá Bạc Đầu
Công Danh Ai Kẻ Khắc Sâu Sau Này
Hồi Quốc Sơ
Phan Phu Tiên chép những bài thơ của Vua Chúa
Công Khanh và Sứ Thần về Đời Nhà Trần
Lại chép những bài ngự chế của Cao Đế
Văn Đế
Cùng những bài ngâm vịnh của các Nho Thần
Về Bạn Triều
Thành Quyền Việt âm Thi Tập
Dương Đức Nhan lại chép nối theo những bài
Không có trong Việt âm Thi Tập của Phan Phu Tiên
Làm Tinh Tuyển Thi Tập
Hoàng Đức Lương
Lại chép nối theo những bài
Còn thiếu trong hai tập kể trên
Làm Trích Diễm Thi Tập
Hợp cả ba tập thơ ấy mà xem
Thì văn thơ nước Nam có thể tìm được đầy đủ
Nhưng vẫn còn có chỗ bỏ sót
Như bài thơ của Phạm Sư Mạnh
Để núi Thạch Môn
Theo cổ thể
Này vẫn còn khắc vào đá
Trong sách An Nam Trí của Người Nhà Minh
Có chép bài thơ này
Nhưng bỏ mất một nửa
Bài ấy như sau
Hành Dịch Đăng Gia Sơn
Kiều Thủ Vạn Lý Thiên
Đồ Bằng Nam Minh Ngoại
Tân Nhật Đông Nhạc Tiền
Yên Phủ Thiên Nhất Ác
Tượng Đầu Nhận Cửu Thiên
Tăng Tăng Tử Tiêu Vân
Hội Phòng Yên Kỷ Tiên
Hùng Hùng Bạch Đằng Đào
Tưởng Tượng Ngô Vương Thuyền
Ích Tức Trùng Hưng Đe
Diệu Chuyển Khôn Cán Kiền
Hải Phố Thiên Mông Đồng
Giáp Môn Vạn Tinh Chiên
Phản Trường Điện Cao Ngực
Vạn Hà Tẩy Tinh Chiên
Trí Kim Tứ Hải Dân
Do Ký Cầm Hồ Niên
Tạm Dịch
Núi quê hành dịch trèo qua
Ngửa trông trời thầm
Bao la muôn trùng
Biển Nam chim lớn vẫy vùng
Non Đông mừng đón
Vừng Hồng ló ra
Đỉnh Yên Phủ trời xa với được
Ngọn Tượng Đầu nhận ước chín nghìn
Tử Tiêu mây bọc liền liền
Gặp Yên Kỳ hỏi lên tiên đường nào
Bạch Đăng lồng lộng ba đào
Tưởng thuyền ngô chúa Thét Gào
Năm xưa
Trùng Hưng nhớ Đức hai vua
Xoay vần trời đất có thừa tải hoa
Ngàn thuyền hải phố sông pha
Giáp môn hàng vạn cờ đà tung bay
Dựng cột cờ trở bàn tay
Nước sông rửa sạch
Mọi bầy tanh hôi
Đến nay bốn bể hoan hô
Còn ghi công Đức cầm hồ
Năm nào
