Lê Quý Đôn - Thư tịch ngữ - P1/2

Kẻ Học Trò
779 Người theo dõi
19 Lượt xem video·17 thg 4, 2026
Vân đài loại ngữ
Tác giả Lê Quý Đôn
Quyền thứ 7
Thư tịch ngữ
Gồm 107 điều
Điều thứ nhất
Sách giải nan nói
Nếu các thiên, điển, mô, nhã tụng không ôn thuần, sâu sắc, nhuận hoạt thì không đủ để biểu dương công đức to sáng.
Món ăn quý bao giờ cũng đạm, thanh âm lớn bao giờ cũng thưa.
Sách trung luận của từ cán bàn rằng
Ngày nào cũng tập thì học không quên, tự gắn gỗ thì thân không trụy lạc, thường nghe những lời nói hay trong thiên hạ thì trí ngày mới càng rộng.
Ngũ kinh là sách của các bậc thánh kế tiếp nhau làm ra cho nên học phải hiểu đại nghĩa trước, danh vật sau.
Đại nghĩa đã hiểu thì danh vật cũng hiểu, lời nói ấy rất phải.
Điều thứ 2
Cổ kinh có 6 loại
Nhà tần đốt mất kinh nhạc nên chỉ còn có 5
Sau lại thêm chu lễ và nghi lễ thành 7 kinh
Thêm hiếu kinh luận ngữ thành 9 kinh
Lại thêm xuân thu, tam chuyện, mạnh tử, nhĩ nhã là 13 kinh
Từ đời tống tiên nho niêu cao trung dung, đại học, luận ngữ, mạnh tử gọi là tứ thư
Nhà mình định phép học chỉ lấy tứ thư ngũ kinh cùng dạy
Còn hiếu kinh nhĩ nhã không lấy mà ra bài
Nên học giả ít người thông hiểu lời huấn hỗ của nó
Cổ kinh bị bò cũng là có lỗi
Điều thứ 3
Ngũ kinh bị nhà tần đốt
Đến nhà hán lại được hưng phục lại
Nhưng nhà làm tiên chú
Thường thường nhờ cái sở học của mình mà được nổi tiếng
Thì trước có trịnh huyền, sau có khổng dĩnh đạt
Đã tổng học tất cả
Từ khi tập truyện của họ trình họ tru đẩy tống ra đời
Thì các chú sở cổ đều bỏ hết
Đạo học đến nhà tống lại được sáng tỏ
Học thuyết của các phái, liêm, lạc, quan, mân
Có chỗ phát minh được những điểm từ xưa chưa có
Nhưng lấy ở lời chú xưa cũng đến sáu bảy phần mười
Sau cuộc cho tàn, tức cuộc đốt sách của nhà tần
Một mảnh, một chữ xót lại đều lại được thu thập
Chú thích, truyền dạy cho nhau
Khiến cho trăm nghìn đời về sau
Còn thấy được cái văn còn xót lại của cổ nhân
Và biết được tâm trí của Thánh Hiền
Và ý tứ của tác giả
Đó là công của các bậc nho đời hán đời đường
Điều thứ 4
Vua thành tổ nhà Minh
Tức khoảng từ năm 1403 đến năm 1424
Sai nho thần làm thành pho ngũ kinh, tứ thư đại toán, mau thi và tứ thư
Thì lấy tập truyện của họ chu làm chính
Kinh dịch thì lấy trình truyện và chu bản nghĩa làm chính
Kinh thư thì lấy thái truyện làm chính
Kinh xuân thu thì lấy hồ truyện làm chính
Kinh lễ thì lấy tập thuyết của Trần Hiệu làm chính
Những lời của nho thần đời Minh nêu ra rất là hay
Không còn phê bình vào đâu được
Từ đời Tống về trước, bỏ hết chú sớ, không dùng, nghĩ cũng hẹp hỏi
Tôi trộm nghĩ nên phụ thêm cổ chú ở dưới tập truyện
Để cho người học được biết nguyên ủy và dễ khảo cứu
Dù có phiền phức nhưng cũng đem lại được cái học cổ
Và tóm tắt được cả toàn bộ
Điều thứ 5
Đời đường triều đình hạ chiếu cho ai thông hiểu tam truyện và nghi lễ
Đều được bổ gọi là tản quan
Tức là người nhàn tản có quan hàm mà không có chức việc
Ấy đời xưa trọng học như thế
Đầu đời Tống có đặt ra các khoa tiến sĩ chuyên khoa
Mỗi người chuyên một bộ môn, học vẫn tinh thầm
Đến đời Nguyên Minh thì không có khoa ấy nữa
Điều thứ 6
Phó hàm đời Tấn
Điện tập những câu nói trong kinh truyện
Làm thành ra thơ, chép trong sơ học ký
Này xin sao lục một số sau đây
Bài thơ chứ các câu trong hiếu kinh
Lập thân hành đạo, thủy ư sự thân
Thượng hạ vô oán, bất ố ư nhân
Hiếu vô trung thủy, bất ly kỷ thân
Tàm giả bị hỉ, dì lâm kỷ dân
Dĩ hiếu sự quân, bất ly lệnh danh
Tiến tư tận trung, nghĩa tắc bất tranh
Khuôn cứu kỷ ác, tài hại bất sinh
Hiếu đẽ trì trí, thông ư thần minh
Dịch nghĩa tức là
Sửa mình làm đạo, bắt đầu ở chỗ thở cha mẹ
Trên dưới không ai oán, thì không bị người ta ghét
Hiếu không cứ gì trước sau
Nhưng lúc nào cũng phải giữ lấy hiếu
Bà điều ấy có đủ cả đem ra trị dân
Xuy hiếu ra chung mà thở vua
Thì không bất thanh danh
Làm quan trọng đạo chung, có nghĩa
Thì không ai tranh
Vua có lầm lỗi thì can ngăn
Tài hại không bao giờ sinh
Ăn ở hết đạo hiếu đẽ
Thì thông cảm được thần minh
Bài thơ chi các câu trong luận ngữ
Thủ tử thiện đạo, ma nhi bất lẫn
Trực tai xử ngư, khả vị đại thần
Kiến nguy thụ mạnh, năng trí kỳ thân
Khắc kỳ phục lễ, học ưu tắc sĩ
Phú quý do thiên, vi nhân do kỳ
Dĩ đạo sự quân, tử nhi hậu dĩ
Tức là, giữ đạo phải cho đến khi chết
Dù có đem mài cũng không mòn nổi
Quan xử là ngư rất thẳng
Cho nên gọi là bậc đại thần
Trong lúc nguy biến, vua trao cho mệnh lệnh gì
Có thể hy sinh được tính mạng
Sửa mình cho hợp lễ
Học giỏi hãy ra làm quan
Giẩu sang tự trời, làm điều nhân là tự ở mình
Lấy đạo phải mà thở vua, đến chết mới thôi
Bài thơ chỉ các câu trong mau thi
Vô tường đại xa, duy trần minh minh
Tẻ tẻ đa sĩ, văn vương dĩ ninh
Hiển dõn quân tử, đại du thị kinh
Duật tu quyết đức, lệnh trung hữu thục
Miện nhĩ hạ tư, ngã ngôn duy phục
Đạo ngôn khỏng cam, kỳ hà năng thục
Sảm ngôn võng cực, hữu diến diện mục
Dịch nghĩa tức là
Chớ đem xe to, bụi bay mù mệt
Được nhiều hiền thần, vua văn yên tâm
Nhà vua sáng suốt tin thật, đạt ra mưu lớn
Phải sửa sang đức mình, mới có tiếng hay về sau
Khuyên người nghĩ xa, phải nghe lời ta
Lời nói kẻ gian rất ngọt, lành làm sao được
Những lời rẻm pha, tai hại vô cùng
Trơ mặt không thẹt
Bài thơ chỉ các câu trong chu dịch
Ti dĩ tự mục, khiêm nhi rũ quang
Tiến đức tu nghiệp, ký hiểu điển thường
Huy quang nhật tân, chiếu vu tứ phương
Tiểu nhân vật dụng, quân tử đạo trường
Dịch nghĩa tức là
Nhũng nhận để giữ mình, khiêm tốn thì lại càng quang vinh
Tiến đức tu nghiệp, đã có lẻ lối thường
Rực rỡ càng ngày càng lớn, xoay khắp bốn phương
Chớ dùng tiểu nhân, đạo quân tử mới lớn mạnh được
Bài thơ chỉ các câu trong chu quan
Duy vương kiến quốc, thiết quan phân chức
Tiến hiền hưng công, thời văn khổng cực
Trừ kỳ bất quyên, vô cảm phản chắc
Dĩ đức chiếu tước, doãn trăn kỳ cực
Hạ kỳ khả nhiệm, dĩ cáo vô chính
Trưởng kỳ giới cấm, trị kỳ chính lệnh
Các tu nãi chức, dĩ thính vương mạnh
Nghĩa là, vô dựng nên nước, đạt quan chia chức
Tiến người hiền làm mọi công việc, văn hóa thời đó thật là rất hay
Bỏ sự không hay, không ai dám phản chắc
Dựa vào đức để cho tước, thật rất công bằng
Người dưới thấp mà dùng được việc, phải bảo cho biết
Giữ việc ngăn cấm để thi hành chính lệnh
Ai nấy đều giữ chức vụ, để nghe theo lệnh nhà vua
Bài thơ chỉ các câu trong tả truyện
Sự quân dĩ lễ, cảm bất tận tình
Kính phục đức nghĩa, thụ chi phong thanh
Chiêu đức tắc vi, bất vẫn kỉ danh
Tử nhi lợi quốc, dĩ vi kỉ vinh
Tư tâm bất sàng, trung nhi năng lực
Bất vi tà siểm, cổ chi dĩ trực
Hàm chuất bất đoan, vật sự năng thực
Dịch nghĩa tức là, lấy lễ thở vua dám không hết tình
Kính đem đức nghĩa, dựng lấy phong thanh
Làm cho đạo đức rõ rệt, lấp bỏ những sự sai lầm
Như thế thì không mất danh tiếng
Chết mà lợi cho nước, cho là minh riêng của mình
Lòng đó không sai, chung mà hết sức
Không làm điều gian dối, không siểm nịnh
Là người có đức tính thẳng, đời xưa còn xót lại
Những người không ngay thẳng, đều chuất bỏ đi, đừng để cho nó mọc mầm
Vua tuyên đế nhà Hán, lập ra cốc lương xuân thu
Và hạ hậu thắng thượng thư
Về việc ấy, Liêu Hàm bảo rằng
Bỏ đi có quá, thà rằng lập ra có quá
Sư khoáng sảnh âm nhạc
Công thâu khéo chế tạo nhà cửa độ vật
Do cơ bắn giỏi, vườn lương cầm cư ngựa giỏi
Các người ấy đều do sành nghề riêng mà được nổi tiếng ở đời
Không ai bằng kịp, sở dĩ như vậy là nhờ một chữ tinh
Đọc kinh thi, kinh thư mà không biết người
Giữa việc âm nhạc mà không nói được nghĩa
Cũng không khác gì người chưa học vậy
Điều thứ 9, Trường Hành cho rằng
Sau khi nhà Hán trung hưng, các nhà nho tranh nhau làm sách đồ vĩ
Sách kiểm nghiệm thuật số
Bèn tâu lên vua rằng
Cha con lưu hướng xét định cửu lưu
Mà trong những lưu phai ấy cũng không có ngành sấm lục
Vậy ta biết rằng, đồ sấm có từ đời Ai Đế và Bình Đế
Là của bọn giả dối làm ra, lừa người lấy lợi
Này xét, lục kinh vĩ với hiếu kinh vĩ gọi là thất vĩ
Gồm cộng 35 thiên
Từ đời tần bộ kiên nghiêm cấm
Thì từ bây giờ sấm tự mới hết hẳn
Đời đường tống không còn ai biết sấm nữa
Đến nay thì những sách ấy mất hết cả rồi
Trong bộ thuyết phu, tác giả chỉ thu thập được mấy mươi thiên
Thì chương đều trùng phức
Những điều chép trong chú sớ thì không có trong thuyết phu
Ta cho rằng, vĩ thư tuy không phải là sách của thánh nhân làm ra
Nhưng cũng là do các vị đại nho học rộng
Đã thầu thái những chuyện ký của đời thượng cổ mà làm thành sách
Sách ấy không phải là thứ mà sách của bọn hạ lương theo kịp được
Thế mà sách trong chính lưu phái của lưu hướng không thấy nói đến
Có lẽ vĩ thư chưa dâng lên bí phủ
Phù mạng của vương mãng tạo ra không liên quan gì đến vĩ thư
Đời Đông Hán có những câu sấm
Xích phục phù và hội xương phù đều chép vào sách khác
Chứ không chép vào sách thất vĩ
Lại còn có các nhà nho thích trích nhặt nửa chữ nửa câu trong sách
Cho là phù hợp với tên vua, hiệu nước
Đến lúc so sánh với đời văn thì thấy không thông
Khảo sát bài biểu khuyên vua triêu liệt, tiến binh
Chép trong phò tam quốc thục trí
Thì thấy lời lẽ xẻo xén phụ hội không phải ý chỉ trong vĩ thư
Này xem trong sách, quyền khôn tạc độ
Bàn đến cửu cung bát quái, nhiều câu ý nghĩa thâm thúi
Như nói rằng dịch biến dịch giã
Tức là kinh dịch là biến đổi
Trình từ và tru tử đều cho là phải nghĩa
Sách lễ ký dẫn lời sách thông quái nghiệp nói rằng
Căn bản đã vững thì vạn vật tự chỉ
Còn như các phép nạp ráp, quái khí, thế ứng
Thì họ quách, họ kinh, đã dùng để xem bói
Đến nay vẫn linh ứng lắm
Sách hạ đồ quái địa tương nói
Về sự huyền bí của trời đất như ngũ hành, ngũ nhạc
Bát khí, bát hoang, bát phong, cửu trâu, cửu đạo
Tứ duy, tứ độc cùng với thuyết phương tây bắc là cửa trời
Phương đông nam là cửa đất
Các nhà nho mỗi khi thảo luận phần nhiều viện dẫn
Căn cứ vào đó
Sách Xuân Thu Vĩ nói về tinh tượng rất là tưởng tất
Như nói rằng trời như quả trứng gà
Trời to đất nhỏ, trong ngoài đều có nước
Đất nhỏ khí mà đứng vững, trở nước mà nổi
Trời quay tròn như bánh xe, đây là thuyết hồn thiên
Đấng vương giả coi trời như cha
Tế trời ở đàn viên khẩu, tức gò tròn
Coi đất như mẹ, tế đất ở đàn phương trạch, tức đàn vuông
Đó tức là thuyết nhị dao
Sách Thượng Thư Vĩ nói, đất có tứ du
Lên về phía đông, xuống về phía tây, không quá 3 vạn dặm
Sách Chính Mông của Trương Tử cho thế là phải
Vòng trời 365 độ và 1 phần 4 độ
Sách Thư Chuyện Họ Thái cũng cho thế là phải
Những thuyết trên đây cũng đủ giúp cho việc khảo cứu
Và mở rộng kiến thức, nhưng ta chớ cho thế mà giả sối
Mà bỏ qua, sau khi nhà tần đốt sách đi
Các sách cổ đều tàn mát đã lâu, may còn lại được mấy phò
Còn khảo cứu được, há nên bảo rằng
Chỉ có lục kinh mới là chính nghĩa, còn thì không đáng tin cả hay sao
Sách Hiếu Kinh Vĩ có nói
Đức Phu Tử lấy Kinh Xuân Thu, giao cho ông Thương
Sách Hiếu Kinh giao cho ông Sâm
Xuân Thu chúc Thương, Hiếu Kinh chúc Sâm
Điều thứ 10, học thuyết của Kinh Phòng
Gốc ở Vĩ Thư
Vĩ Thư lại dùng lục thần, lục giáp
Phối hợp với thập nhị chi, tí siểu
Sự khảo cứu về khoa chiêm biến rất tinh tường
Mà từ xưa đến nay, tương truyền rằng ứng nghiệm rất nhiều
Không còn giả sối nữa
Kinh Phòng sinh vào đời Nguyên Đế
Tức khoảng từ năm 48 đến năm 33 trước công nguyên
Theo học Tiêu Duyên Thọ, mà Duyên Thọ lại sinh vào đời Tuyên Đế
Tức khoảng năm 73 đến năm 49 trước công nguyên
Vậy thì Vĩ Thư có đã lâu, chứ không phải vào đời Ai Bình
Sách dịch của Kinh Phòng
Lấy Hảo Sơ, quản 10 ngày thượng tuần
Hảo Nhị, quản 10 ngày trung tuần
Hảo Tam, quản 10 ngày hạ tuần
Những thiên nói về chính trị đều có cân bản, nguồn gốc
Như thiên nội nghiệp bàn về chính trị có nói
Tâm phải tĩnh
Thì cũng như sách đại học nói, chính tâm
Đọc kỹ quản từ vài lần, ta sẽ thấy cõi lòng thông hoạt
Thấu hiểu việc đời, cùng với lúc chưa đọc khác hẳn nhau
Phà Công bảo rằng
Học thuyết của quản từ giống như thương ưởng
Lời nói của quản từ giống của Hàn Phi
Phà Công chê thế là quá lắm
Thực ra, quản từ trên bàn kỷ cương trời đất
Dưới nói tình hình nhân vật, sáng đạo đức, chuộng nhân nghĩa
Đủ cả danh lẫn thực mà không phiền toái
Hình pháp tuy nghiêm mà trung hậu
Xét gió, ý nghĩa không khác gì ý nghĩa của đạo Tam Vương
Còn như học thuyết Hàn Thương, thiên trọng về hình danh
Không được đầy đủ, kém quản từ xa lắm
Điều thứ 12
Quản từ học vấn thuận chính, bàn việc giản yếu, tải cao viết rộng
Lời nói từ trong bụng nói ra, điều gì cũng là trí lý cả
Còn Hàn Phi từ
Văn khí không phải là không lỗi lạc, kỳ kiệt
Nhưng nói đến đạo đức, trung quy là hạ khắc
Nói xong câu nào là xong, không còn có hương vị gì cả
Như thế khác Hàn quản từ
Điều thứ 13
Quản từ nghi người đời sao treo sách không đúng
Như nói rằng vua nước sở thích người lưng nhỏ
Ta gọi là lưng ong, thì mỹ nhân trong cung bớt ăn
Vua nước ngô thích kiếm khách, thì quốc sĩ coi thường sự chết
Không đúng với thời thế chút nào
Điều thứ 14
Quản từ làm tướng nước tè, sự nghiệp ở cả một thiên nội nghiệp
Mà trong thiên nội nghiệp không ngoài 4 chữ
Nội tĩnh, ngoại kính, tức là trong bình tĩnh ngoại kính cần
Điều thứ 15
Tăng củng nói, văn lão tử thì giàn cổ
Văn liệt tử thì hỏa hoãn, văn trang tử thì khích liệt
Tăng củng bình phẩm cổ nhất như thế rất là đúng
Trong trang tử có nhiều câu thương thời, giận đời
Mượn những chuyện hoang đường làm nhàm mà đem ra nghị luận
Điều thứ 16
Trù tử khi nói năng hay dạy bào, không hề chê lão tử là dị đoan
Dương Quy Sơn nói
Sách luận ngữ bảo lão bành là lão tử
Lão tử có ngũ thiên ngôn mà đều nói tự nhiên
Có thể bảo là lão tử chỉ thuật lời người khác mà không tự mình làm ra
Trù tử lại nói
Chỉ lấy một đoạn về lẽ số trong thiên tăng tử vấn gia mà chứng thực
Cũng đủ biết lão tử chỉ thuật mà không tác
Tín mà hiếu cổ
Ông đam là sử quan nhà tru, giữ sách đời tam hoảng ngũ đế của nhà nước
Ngũ thiên ngôn nói trên có lẽ cung của lão tử truyền lại
Liệt tử dẫn sách tam hoảng ngũ đế
Tức là trương cốc thần bất tử của lão tử
Cốc là nuôi, nuôi được tinh thần ngũ tạng thì không chết
Điều thứ 17
Đạo đức ngũ thiên ngôn là sách sửa sang việc nước, cai trị người đời
Tự do nói
Đạo lấy thanh tĩnh vô vi làm tôn chỉ
Lấy hư vô ứng vật làm công dụng
Hiền từ kiệm ước làm nết tốt
Điều thứ 18
Lão tử có những câu như là
Tuyệt thánh khí trí, dân lợi bách bội
Tuyệt nhân khí nghĩa, dân phục hiếu từ
Tuyệt lợi khí xào, đạo tặc vô hữu
Dịch nghĩa ra tức là
Tuyệt thánh bỏ trí, dân lợi gấp trăm
Tuyệt nhân bỏ nghĩa, dân ở hiền từ
Tuyệt lợi bỏ khéo léo, không có giặc cướp
Ba câu ấy là lời nói khích của lão tử
Nhưng kết cục ý nghĩa là câu dưới đây
Đại pháp ký tán, lợi xào rũ đa
Sở dĩ rũ sinh, đạo tặc giã
Nghĩa là khí chất pháp thực đã mất hết
Thì lòng tham lợi, lòng xào trá càng nhiều
Cho nên lại càng sinh nhiều giặc cướp
Mạnh tử rất ghét nói lời
Điều thứ 19
Mềm dẻo là bọn sống, cứng rắn là bọn chết
Xem ngay việc các nước thì biết
Cầu tiễn nước Việt, thác bạc nước Nguy, ẩn dấu không tranh
Đến lúc giấy lên thì như nước lụt
Phủ sai mất nước trước nước tẻ, nước tấn
Thục hán mất nước trước nước ngô
Doanh tần bổ kiên và tủy dưỡng đế
Đều chỉ hai đời thì mất nước
Nhà xài chu mất ngôi vua trước nhà đường
Nhà kim mất nước trước nhà tống, xem thế đủ nghiệp
Điều thứ 20
Kinh âm phủ rất là huyền diệu, tinh túy
Chu tử bảo, nếu không phải người biết đạo thì không làm được
Học thuyết của Tô Tần chương nghi chỉ là mỏ mẫm
E không phải là sách này
Điều thứ 21
Trong sách có nhiều chữ đôi, tức là lệ ngữ
Loại từ có hai chữ đối nhau, như những câu
Bất thí, bất huệ, nhì vật tự túc
Bất tụ, bất liễm, nhì kỷ, vô khiên
Nghĩa là không ơn, không huệ mà dân vẫn đủ
Không tích lũy, không vơ vét mà mình không lỗi
Và những câu sau này
Đông cửu hạ cát, thủy trú lục xa
Thanh chấn lâm mộc, hưởng át hành vân
Ý đoàn kệ hữu hồ lạc chi ôn
Tức là lỏng lo ra nghiệp
Đông mặc áo kiều, hè mặc áo mỏng
Đi thủy có thuyền, đi vã dùng xe
Tiếng động cây rừng, vang át mây bay
Mặc áo ngắn mà ấm, như áo da trồn, da lạc
Ăn gạo lốc mà ngon, như lúa lương, lúa đạo
Vua tôi cũng đều yên, người với ta đều lợi
Lối văn như thế khác hẳn với lối văn tả chuyện
Lối văn quốc ngữ, trong tả chuyện
Chỉ có một câu giống lối ấy
Xào vẫn chư phàn, hôn tường tái ngô
Nghĩa là cái tổ bị rơi ở đất phàn
Người gác cửa bị đánh trở về nước ngô
Điều thứ 22
Liệt tử và trang tử là bậc ẩn cư phóng ngôn
Nhưng thật ra liệt tử có thẩn vận
Trang tử có khí cách
Điều thứ 23
Tính tình người ta ai cũng vậy
Mắt muốn trông sắc thật đẹp
Tai muốn nghe tiếng thật hay
Miệng muốn ăn thật ngon
Mũi muốn ngửi thật thơm
Bụng muốn được thật nhàn rỗi
Năm món tuyệt vời ấy tức là ngũ cơ
Nhân tình ai cũng có thế
Nuôi ngũ cơ ấy phải có đủ điều kiện
Không thì không được
Cho nên những bậc vua hiền
Phải làm cho nước được thịnh trị yên ổn đã
Thì chăm sự vui thích mới được thích chung
Thàn ôi nếu tin lời tuân tử nói là phải
Thì từ xưa đến nay đạo trị nước
Cũng chỉ là cái khí cụ để tìm vui thú
Thỏa tình dục hay sao
Điều thứ 24
Chính sự của vua văn vua vũ
Chép ở phương sách
Người còn sống thì chính còn
Người mà mất thì chính bị bỏ
Tuân tử nói
Phép không đứng một mình được
Việc không thể tự thi hành được
Dùng được người hay thì phép còn
Dùng phải người dở thì phép phải hỏng
Nhưng lời nói của thánh nhân thì bằng thẳng
Còn tuân tử nói
Hữu trị nhân vô trị pháp
Nghĩa là có người làm nên thịnh trị
Không có phép làm nên thịnh trị
Ý nói phép hay mà giao người dở thi hành cũng hỏng
Điều thứ 25
Hàn Phi Tử nói
Nước dĩnh có người đưa thư cho tướng nước yên
Thư viết đêm mà đèn không sáng
Người đốt đuốc nói rằng
Cửa trúc
Tức là đốt đuốc
Người viết thư viết ngay hai chữ cửa trúc
Chính ra trong thư không có nghĩa gì là cửa trúc
Tướng nước yên xem thư thích thú lắm
Nói rằng cửa trúc nghĩa là cần sáng
Cần sáng là cửa người hiền mà dùng
Nói đoạn
Vua rất vui mừng theo lời tâu dùng người hiền
Mà nước yên được thịnh trị
Vậy nước yên trị là tốt nhưng không phải là ý trong thư
Ấy vì tướng nước yên là người hiền
Điều thứ 26
Sách Xuân Thu của Lã Thị
Có những chỗ nói về đạo trị nước
Lời lẽ sáng sủa, ý nghĩa xúc tích
Còn có thể hơn, hơn hẳn hoài nam tử
Điều thứ 27
Lý Tả Sa có trích dẫn câu sau này
Lấy trong sách Yến Tử Xuân Thu
Thánh nhân thiên lự tất hữu nhất thất
Ngu nhân thiên lự tất hữu nhất đắc
Nghĩa là bậc thánh nhân nghĩ nghìn điều, tất cũng có một điều hỏng
Người ngu xuẩn nghĩ nghìn điều, tất cũng có một điều được
Điều thứ 28
Sách Lã Thị Xuân Thu chép về ca nhạc của đời Cát Thiên Thị
Tức một đời vua nguyên thủy trong truyền thuyết
Có ghi bộ múa tên là Bát Sĩ Chóc Ngư
Tức là 8 người lực sĩ bắt trâu
Người thì dẫm chân, người thì co đuôi
Người thì gõ sừng, loạn xạ cả lên
Mà hát bài hát trung là bát trung, cũng gọi là bài tải dân
Cao dụ chú thích
Đầu túc tức là dẫm chân, cũng như điệp túc
Tải dân là nói tóm tắt muôn vật và là tên của 8 thiên nhạc
Theo ý riêng tôi, đầu túc là điệu múa
Đạp chân xuống đất để gõ nhịp mà thôi
Điều thứ 29
Sách tố như nói về đạo tư thân tiếp vật
Tức là sửa mình và tiếp xúc với người ngoài
Sách âm phù nói về sự huyền bí của trời đất nhân vật
Sách tam lược nói về thuật trị nước và dụng binh
Nói về những sách cổ nghĩ lý sâu xa
Thì không pho nào hơn được 3 pho ấy
Liều hầu tức là trương lương học sách ấy nên làm được thầy vua
Mà thân danh đều nhàn, có người bảo tử phòng
Học khoa chiêm nghiệm, nói thế thì kiến thức nông hẹp lắm
Điều thứ 30
Hán thư nói, Trần Bình nhà nghèo ham học
Chuyên trị học thuyết của hoàng đế và lão tử
Về trương lương thì cũng chỉ nói binh pháp
Còn nói về thi thư thì chỉ có một lục giả thôi
Sách tân ngữ của lục giả rất là thuần chính
Có lẽ là dòng dõi của sách thất thiên của mạnh tử
Mỗi lần tâu một thiên hào lên vua cao tổ đều được khen ngợi
Sau này nhà hán chuộng thi thư mở đầu từ đó
Điều thứ 31
Điều thứ 32
Cũng như là thầy trò giảng dạy nhau ở trong nhà lớn
Trên đệm êm, có thể dùng để cha cứu và làm gương mẫu
Còn hàn thi ngoại truyện
Chứng dẫn cũng nhiều và nhiều danh ngôn cách luật
Nhưng nó lại hơi bác tạp, không được thuần túy như thuyết huyền
Điều thứ 33
Điều thứ 34
Điều thứ 35
Người làm sách ngoại kỷ nói qua là
Hán nhò lại xuyên tạc thêm, chấm thêm đến chữ
Thân thiết câu là một câu
Còn chữ sách thì ngoặc xuống câu dưới
Đọc là
Cưỡng giải đến như thế là cùng
Điều thứ 36
Hoài Nam Tử lại còn nói
Chua thêm rằng
Liệt Tử cũng nói
Điều thứ 37
Tôn Khanh Tử cũng nói
Điều thứ 38
Điều thứ 39
Điều thứ 40
Điều thứ 41
Điều thứ 42
Điều thứ 43
Điều thứ 44
Điều thứ 45
Điều thứ 46
Điều thứ 47
Điều thứ 48
Điều thứ 44
Điều thứ 45
Điều thứ 46
Điều thứ 47
Điều thứ 48
Điều thứ 49
Điều thứ 50
Điều thứ 51
Điều thứ 52
Điều thứ 53
Điều thứ 54
Điều thứ 55
Điều thứ 56
Điều thứ 57
Thiền Khảo Công Ký trong sách Chu Lễ nói rằng
Điều thứ 48
Điều thứ 49
Điều thứ 50
Điều thứ 51
Điều thứ 52
Điều thứ 53
Điều thứ 54
Điều thứ 55
Điều thứ 56
Điều thứ 57
Điều thứ 58
Điều thứ 59
Điều thứ 60
Điều thứ 63
Điều thứ 64
Điều thứ 54
Điều thứ 55
Điều thứ 56
Điều thứ 57
Điều thứ 58
Điều thứ 59
Điều thứ 60
Điều thứ 59
Điều thứ 60
Điều thứ 61
Điều thứ 62
