Vạn sự đều TÙY DUYÊN - Cái gì CỦA MÌNH thì trươc sau cũng sẽ LÀ CỦA MÌNH không thế TRỐN CHẠY

Sống thuận tự nhiên
439 Người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AIThis content presents two moral tales centered on the themes of destiny, karma, and the rewards of virtue. The first story follows Thuy Phan and Thiet Chu, whose childhood betrothal survives social class barriers and betrayal through perseverance. The second story depicts Doctor Tu, whose selfless act of saving a beggar boy leads to his eventual rescue and prosperity years later.
Nghe xong câu chuyện dưới đây, bạn sẽ hiểu.
Ngày xưa có một thầy bói nổi danh thiên hạ tên là Triệu Mũ.
Mắt không thấy ánh sáng, nhưng tài xem mệnh trời thì thiên hạ ít ai bị kịp.
Kẻ sĩ, phú thương, dân thường trong vòng trăm dầm hế nhắc đến cái tên ấy là đều phải gật gù nề phục.
Cũng nhờ tài trời ban ấy mà ông cưới được Chù Thị, một người phụ nữ sắc nước hương trời, nổi danh đoan chính, đảm đàng.
Năm sau, Chù Thị sinh hạ một bé gái, đặt tên là Thúy Phân.
Từ ngày con ra đời, Triệu Mũ chẳng khác gì người tìm thấy Trân Bảo.
Mỗi lần ôm con vào lòng, ông đều khẽ lầm nhầm những câu không ai hiểu nổi.
Đêm nọ, sau khi đưa con ngủ say, ông nắm tay vợ mà thì thầm như gió thoảng.
Thân ta tuy không còn sáng mắt, nhưng lòng thì sáng như gương.
Mạng ta không dài, nhưng còn thở ngày nào, phải liệu đường cho con ngày đó.
Một buổi chiều, sau khi xem khỏe ở nhà một quan chức địa phương, ông trống gậy trở về,
giữa đường gặp một người tiều phu đang gánh củi nặng chĩu trên vai.
Thấy một người mù mò mẫm bên lề đường, tiều phu chẳng đắn đo, bỏ gánh, chạy lại đỡ tay giác giúp.
Gặp người thành thật, Triệu Mũ cảm mến, vừa đi vừa trò chuyện.
Qua câu chuyện dọc đường, Triệu Mũ biết được, người tiều phu kia sống trong nghèo khó,
làm lũ từ bé, mãi đến năm 35 tuổi mới lấy được vợ.
Một quả phụ lớn tuổi hơn mình.
Hai vợ chồng nhọc nhằn gây dựng, sinh được đứa con trai đầu lòng, giờ mới năm tuổi,
là ánh sáng trong căn nhà tranh đơn sơ.
Bỗng Triệu Mũ khựng lại giữa đường, mặt không còn nét thư thạ thường ngày, mà nghiêm nghị đến lạ.
Tay ông nắm lấy cổ tay người tiều phu, giọng chầm đục.
Lão Huynh là người hữu phúc, cả phần phúc đức đời ông đều đổ dồn vào đứa nhỏ kia rồi.
Tiều phu thoáng sự người, rồi bật cười hồn hậu.
Tiên sinh đừng nói đùa mà khiến tôi mừng hụt.
Chỉ cần nó lớn lên khỏe mạnh, không bệnh không tật, làm dân thường thôi cũng mãn nguyện rồi.
Triệu Mũ lắc đầu, bàn tay buông nhẹ, giọng vẫn đanh như tiếng chuông gó vào tâm khảm.
Không đâu, đứa nhỏ đó, có số làm quan lớn, thậm chí có mệnh cầm quân trong tay.
Về tới nhà, Triệu Mũ ngồi chưa kịp rót chén trà, đã nghiêm dọng với vợ.
Ta xem mạnh rồi, thằng bé con nhà Tiều phu kia, chính là phúc duyên của Thúy Phân.
Cưới về, cả đời con mình không lo khổ.
Chu thị giật mình, tưởng chồng đùa, nhưng nhìn sắc mặt nghiêm trọng thì biết không phải chuyện chơi.
Bà câu mày, chuyện đại sự cả đời con, sao ông nói cưới là cưới?
Nó chỉ là con nhà bần hàn, đầu óc quê mùa, người lại xấu xí.
Có gì xứng với Thúy Phân?
Triệu Mũ gần rộng, bà nhìn cái áo dách, tôi nhìn mệnh khí.
Bà chê cái nghèo, tôi chọn cái số.
Bà nghe tôi, đừng cãi nữa.
Biết chồng tính đã quyết thì không ai lây chuyển được, chu thị đành miễn cưỡng gật đầu.
Hôm sau, vợ chồng họ khăn gói đến tận nhà Tiều phu, dắt theo bé Thúy Phân.
Triệu Mũ mở lời, đề xuất việc kết duyên cho hai đứa nhỏ.
Tiều phu nghe song bàng hoàng, tay run run, tưởng là mình nghe nhầm.
Một kẻ mù, nổi danh mấy chục dặm, lại muốn gả con gái duy nhất cho thằng bé quê mùa nhà mình.
Ông lắp bắp, tiên sinh, thật sự muốn gả tiều thư cho thằng con nông giã nhà tôi xáo.
Đây là lọc trời giáng.
Chuyện được quyết định, từ đó Thúy Phân và Thiết chủ thường xuyên gặp gỡ, lớn lên bên nhau như hình với bóng.
Đứa thì lanh lợi, đứa thì chất phác, ai nhìn vào cũng bảo một trời một vực.
Nhưng càng ngày, chu thị càng thấy khó chịu với Thiết chủ.
Bà không vừa mắt cái cách nó nói năng lắp bắp.
Ăn mặc lôi thôi, nhìn thì ngờ nghẹt, đầu óc chậm chạp, học chữ mãi vẫn không thuộc.
Một hôm, bà nói thẳng với chồng.
Ông bị mù thật rồi.
Cái thằng quê mùa ấy mà là tướng với tá, cả đời nó còn chưa chắc viết được cái tên.
Tôi mà để con gái lấy nó, sau này người ta cười vào mặt.
Triệu mù ngừa mặt, hai hốc mắt trắng đục, nhưng giọng thì như tiếng trống ráng xuống.
Tôi nhìn đời bằng tâm, bà nhìn đời bằng mắt.
Bà không tin số thì đừng hỏi số, tôi nói mệnh nó là mệnh làm quan.
Thì dù bà có đốt hết giấy hôn thú, nó vẫn là chồng Thúy Phân.
Vài năm sau, triệu mù qua đời.
Để lại mẹ con Chu Thị trật vật, chống trọi với đói nghèo.
Không còn người đứng giữa giữ gìn hôn ước, Chu Thị mặc sức tính toan.
Trong mắt bà, cái mệnh quý chồng nói ngày nào giờ chỉ là lời vu vơ của một láo mù.
Thúy Phân năm ấy vừa tròn 15, nét xuân vừa he đã khiến cả trấn phải ngoái đầu.
Đôi mắt dịu hiền, dáng người thanh thoát, ăn nói lễ phép.
Bao người đánh tiếng hỏi cưới, nhưng bà đều khước tử.
Phần vì vẫn còn cái hôn ước, phần vì chưa thấy mối nào đủ nặng.
Cho đến khi Lưu Viên Ngoại xuất hiện.
Lưu gia giàu có nức tiếng, ruộng đất trải dài cả huyện.
Lưu Viên Ngoại có một người con trai độc nhất, 16 tuổi, nhưng thần chí có vấn đề.
Chẳng biết chữ, chẳng biết cư xử, chỉ quanh quẩn trong nhà, đầu óc ú ớ như trẻ lên ba.
Biết chuyện, nhưng Lưu Viên Ngoại vẫn sai bà mối đến nhà chư thị giảm hỏi.
Hôm ấy, người đưa lễ vào đông như đi hội.
Lễ vật trật cả sân, bạc trắng ánh mắt, gấm vóc phù kín chiếu.
Chư thị vừa trông thấy đã không rời mắt, lòng dối như tơ vò, nhưng ngoài mặt vẫn cố giữ thể diện.
Ơn trên đã đoái thương, nhưng nhà tôi, con bé đã có hôn ước từ nhỏ.
Bà mối cười khẩy chưa kịp mở miệng, thì Lưu Viên Ngoại đứng phía sau đã phẩy tay.
Hủy thì hủy, ta thêm 30% lễ vật nữa.
Chuyện nhỏ.
Chư thị nuốt nước bọt.
Lễ vật trước mắt như lửa thiêu trong lòng.
Một bên là tiền tài mở cửa, một bên là hôn ước cũ mềm với thằng bé thất học.
Được, để tôi thử xem sao.
Hôm sau, bà mặc áo mới, mặt lạnh như xương, đến thằng nhà tiểu phu.
Vợ chồng tiểu phu đang vá áo trong nhà, thì thấy bà sồng sộc bức vào.
Không một lời chào, không một nụ cười.
Bà nhìn thẳng.
Chuyện hôn sự của con trai ông với Thúy Phân giờ muốn thành thì trong 3 ngày mang đủ 30 lượng bạc sinh lễ đến.
Không có thì đừng trách tôi.
Tiểu phu choáng váng như xét đánh ngang tay, lắp bắp.
Ba, 30 lượng. Cô em nói đùa sao?
Nhà tôi cả đời chưa thấy nổi 3 lượng.
Chư thị chẳng nói thêm lời nào.
Bà quay gót, để lại phía sau là tiếng gọi yêu ớt, đau đớn vang vọng trong căn nhà rách.
Thúy Phân hoảng loạn, nước mắt đầm đĩa, chạy thẳng đến nhà tiểu phu, vừa gặp đã nhào vào lòng thiết chủ.
Chủ ca, phải làm sao bây giờ?
Thiết chủ nắm lấy tay nàng, ánh mắt kiên định như đá tạc.
Mội đừng lo, dù có phải bán mạng, ta cũng kiếm cho đủ 30 lượng bạc.
30 lượng bạc, với nhà nông tay lấm chân bùn, chẳng khác gì giấc mộng giữa ban ngày.
Cha con họ thiết vét sạch trong ngoài, bán luôn cả chiếc giường gỗ quý ông nội để lại,
mà vẫn chỉ gom được 10 lượng.
Cầm số bạc ít ỏi trong tay, tiểu phu chỉ biết ngồi thử ra trước hiên nhà, mắt vô hồn nhìn mặt đất.
Đăng lúc tuyệt vọng, thiết chủ hớt hải chạy về, mồ hôi đẫm lưng áo.
Cha, con nghe trên trấn loan tin, triều đình đang mở đợt chiêu bin.
Ai tình nguyện tòng quân, sẽ được phát trước 20 lượng trợ cấp.
Tiểu phu bật dậy, như kẻ bị đánh thức giữa ác mộng.
Con điên rồi à? Tòng quân là đánh giặc.
Ra chiến trường, tên vai đạn lạc, mạng sống như mành chỉ treo chuông.
Con mà đi, thì chẳng khác nào chui đầu vào chỗ chết.
Thiết chủ nghiến răng, ánh mắt như lửa cháy giữa đêm đông.
Nếu không có tiền, thúy phân sẽ bị gà cho người khác.
Con thả chết trận, còn hơn để nàng rơi vào tay kẻ khác.
Cha yên tâm, con đi rồi sẽ trở về, rước nàng bằng chính đôi tay này.
Tiểu phu không nói nổi một lời.
Ông quay mặt đi, tay run run lau nước mắt, cuối cùng cũng khẽ gật đầu.
Thiết chủ khăn gói lên đường.
Vài ngày sau, tứ biên quân gửi về một khoản bạc đúng hai mươi lượng.
Ông tiểu phu đích thân mang số bạc đến nhà chú thị, tay run bần bật.
Bà chủ, đủ rồi, ba mươi lượng như bà yêu cầu, xin giữ lời hứa.
Chú thị liếc qua môi cong lên lạnh lùng.
Tốt, coi như xong nở.
Ngày thiết chủ rời làng, không một lời từ biệt.
Chàng chỉ để lại một câu duy nhất với cha.
Nói với nàng, ta nhất định sẽ trở về.
Thúy phân ôm túi bạc mà lòng quạn thắt.
Tiễn người đi, bóng dáng mất hút sau dặng núi, nàng chỉ biết đứng lặng như hóa đá.
Từ đó, mỗi ngày đều ngồi chờ bên cửa sổ, đếm ngày theo gió.
Một năm, rồi hai năm, rồi ba năm.
Cây chức sân ra hoa ba lượt mà người vẫn biệt vô âm tín.
Năm thứ năm, làng trên xóm dưới bắt đầu xì xào.
Chắc chết rồi, năm năm rồi còn chưa có tin tức.
Nghe nhiều, lòng người mẹ lại càng ngội lạnh.
Chú thị bắt đầu tính toán lần nữa.
Đúng lúc đó, một phú thương già góa vợ từ vùng khác tìm đến.
Vừa thấy Thúy phân đã quyết phải cưới bằng được.
Hắn mang theo trăm lượng bạc, lễ vật phủ đầy cả sân trước nhà chú thị.
Chú thị sáng mắt.
Trăm lượng bạc, hơn cả ước mơ.
Thấy con gái vẫn còn ôm khư khư cái hôn ước cũ.
Bà ra sức khuyên rằng.
Con gái à, nó đi năm năm không tin tức, chắc chết rồi.
Đừng ngu dại nữa, lấy người này con sẽ sống sung sướng cả đời, khỏi theo mẹ chịu đói khổ.
Thúy phân lắc đầu.
Mẹ có thể không tin, nhưng con tin.
Trụ ca còn sống, huynh ấy sẽ trở về.
Chú thị nghiến răng, bỏ ngoài tai mọi lời con nói.
Hôm sau, nhân lúc Thúy phân không cảnh giác.
Bà sai người lén bỏ thuốc mê, rồi nhét con vào kiệu hoa giữa đêm, ép gã cho phú thương.
Đoàn rước dâu lên đường khi trời còn chưa sáng.
Kiệu hoa đi tới nửa đường, thì bị một toán kỵ binh áo giáp bạc chặn lại.
Người cỡi ngựa hô lớn như sấm.
Uy viễn đại tướng quân hồi hương.
Mọi người lập tức tránh đường.
Tiếng vó ngựa rồn rập rung chuyển cả đường làng.
Đám người khiêng kiệu hốt hoảng, nghiêng ngả, va mạnh vào cột tre bên đường.
Thúy phân trong kiệu bị lắc mạnh, đầu đập vào vách, trợt bừng tỉnh.
Mở mắt ra, thấy mình mặc áo cưới, đầu đội khăn hỉ.
Bên ngoài là tiếng kèn chống đám cưới.
Nàng lập tức hiểu hết mọi chuyện.
Không do dự, nàng xé tung dèm kiệu, lao ra giữa đường.
Đôi chân chân dẫm lên sỏi đá.
Ngay lúc ấy, một con chiến mã từ đoàn lính lao tới.
Người cưới vừa kịp kéo cương, nhảy xuống đỡ lấy nàng đang trao đảo ngã nhào.
Cô nương, cô có sao không?
Giọng nói ấy, hơi thở ấy, cánh tay ấy.
Thúy phân ngẳng đầu, toàn thân run dậy.
Giây phút ấy, nước mắt tuôn ra không kịp ngăn.
Trụ ca.
Trước mặt nàng là một người mặc chiến rắp bạc, trên ngực khắc rõ ba chữ Uy viễn quân.
Đôi mắt rắn giỏi, gương mặt đanh thép, nhưng khi nhìn nàng thì dịu lại như gió xuân.
Ta về rồi, Thúy phân.
Chàng kéo nàng nép vào lòng, quay mặt về phía đoàn lính.
Không ai được động đến nảng. Ai dám ép hôn, ta xử theo quân pháp.
Thì ra, sau 5 năm chiến trận, thiết chủ không chỉ sống sót, mà còn lập đại công,
được phong tướng quân, vâng mệnh vua trở về quê thành thân.
Lúc này, trong tay chàng đã nắm quyền dưới chướng ngàn binh,
nhưng trong tim vẫn chỉ có một người, Thúy phân.
Bạn thấy đó, mọi sự trên đời, đúng là vạn sự tại mệnh, nửa điểm không do người.
Cưỡng cầu chỉ chuốc khổ, tính toán lại thêm phiền.
Phật dạy rằng, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phủng.
Có duyên thì dù cách ngàn dặm cũng tìm thấy nhau.
Không duyên, đứng ngay trước mặt vẫn là người xa lạ.
Thiết chủ và Thúy phân, một người nghèo đến trắng tay,
một người tưởng đã chết giữa chiến trường, xát.
Vậy mà chỉ nhờ chữ nguyện, chữ tâm, chữ tin, họ vẫn đoàn tụ.
Không phải vì mưu mẹo, không phải vì tranh giành,
mà bởi nghiệp thiện đủ đầy, phước duyên chín mũi.
Trong Đạo Phật có một lời nhắc.
Open quote.
Chúng sinh vì mê nên cầu, Bồ Tát vì ngộ nên thuận.
Close quote.
Người mê thì cưỡng cầu theo ý mình, càng muốn lại càng khổ.
Người ngộ thì thuận theo nhân duyên,
sống trọn từng việc thiện nhỏ, không tranh hơn thua với đời.
Cuộc sống này, chỉ cần ta làm đúng bổn phận,
sống với tránh niệm, giữ lòng thiện lương, gieo nhân lành,
thì quả tốt nhất định sẽ đến, đúng lúc, đúng người, đúng thời.
Còn lại, hãy buông bỏ tâm lo lắng,
bởi thứ gì là của mình, chẳng ai cướp được.
Thứ gì không phải, giữ cũng hóa khổ đau.
Vậy nên, sống ở đời, hiểu nhân quả,
sống thuận duyên, hành tâm thiện, giữ lòng an,
ấy là đã đi đúng đường, dù chưa đến đích, cũng không lạc lối.
Tại sao có người sinh ra đã mang mệnh phú quý?
Nghe xong câu chuyện dưới đây, bạn sẽ hiểu rõ điều đó.
Vào thời Tống, tại huyện Thái Bình,
có một thầy thuốc họ từ tên Đình Sơn,
xuất thân trong gia tộc nhiều đời làm nghề y.
Từ khi còn nhỏ, ông đã được truyền thụ đầy đủ y lý,
dược tính và phương pháp trị liệu cổ truyền.
Không chỉ tinh thông y thuật, ông còn nổi tiếng là người có tâm thiện lương,
luôn sẵn lòng chữa bệnh, giúp người nghèo không lấy tiền.
Gặp cảnh bất bình, không làm ngơ.
Nhà ông mở tiệm thuốc lớn ngay mặt đường chính,
phía trước là dòng sông lớn quanh co như giải lụa,
nước trong vắt, soi bóng liễu rủ mát dượi hai bên bờ.
Mỗi ngày, thuyền bè tấp nập xuôi ngược,
tiếng trèo khua, tiếng người giao hàng rộn ràng không dứt.
Ngày mùng năm đầu năm,
khi đang trên đường trở về sau buổi khám bệnh ở làng xa,
ông tư trợt khựng lại.
Dưới gốc liễu trước nhà, một chiếc thuyền nhỏ cũ kĩ nằm im lìm.
Trên thuyền là ba bóng người lặng lẽ,
hai phụ nữ áo quần nhét nhát,
vai áo rách tạ tơi, nét mặt mỏi mệt đến não lỏng.
Cạnh họ là một cậu bé ốm yếu,
da bọc xương, mặt mày hốc hát,
ánh mắt dại đi vì đói và mệt.
Cậu gây đến mức, gió lớn thổi qua cũng khiến thân hình trao đảo.
Nhìn thoáng qua đã biết ngay ba người này từ nơi khác trôi giặt đến,
dường như đã chịu đựng cả một quãng đường dài,
đói khổ và bệnh tật.
Từ hôm ấy,
ông Từ thường bắt gặp cậu bé lò giò lên bờ xin ăn.
Có hôm nhặt được vài màu bánh thừa,
có hôm đói lạ phải lội xuống sông mò cua bắt cá,
run dày vì lạnh,
vẫn cố tìm chút gì để sống sót qua ngày.
Dáng đi siêu vẹo, chân tay run dày,
nhưng cậu không bao giờ xin quá một lần.
Nhận được chút gì, liền gật đầu cảm ơn,
rồi ôm lấy về thuyền.
Cứ thế, ba ngày, bốn ngày,
mỗi lần nhìn thấy cậu,
ông Từ lại thở dài trong lòng.
Chiều hôm ấy,
ông Từ vừa khám bệnh trở về.
Chưa kịp bước vào nhà,
thì nghe tiếng khóc xé lòng từ bờ sông vọng lên.
Linh cảm có chuyện chẳng lành,
ông lập tức chạy ra.
Dưới gốc liễu quen thuộc,
vẫn là chiếc thuyền rách nát kia,
nhưng cảnh tượng trước mắt,
khiến ông nhíu chặt mày.
Cậu bé ăn mày nằm bất động,
thân hình co rúm lại như bị vắt kiệt,
môi trắng bệch,
hai mắt nhắm nghiền.
Hai người phụ nữ bên cạnh khóc nức nở,
giọng lạc đi vì hoảng loạn.
Trời ơi!
Giờ phải làm sao đây?
Nó mà chết,
thì chúng tôi biết sống sao nữa?
Không kịp hỏi Hàn,
ông Từ đã ngồi thục xuống bên thi thể nhỏ bé ấy,
nhanh chóng bắt mạch.
Một lúc sau,
gương mặt căng thẳng của ông dãn ra,
ông gật đầu nói như chút được gánh nặng.
Không sao,
là trứng thương Hàn phát cấp,
chỉ cần uống vài thang thuốc là ổn thôi.
Tiếp tục phần sau.
Nói đoạn,
ông Từ quay ngoắt người,
tất tả chạy về hiệu thuốc.
Không nghỉ tay,
ông Đích Thân bốc thuốc,
rồi hối hạ sắc lấy một thang.
Trời đã nhá nhem tối,
ông vẫn một tay ôm thang thuốc,
còn bốc khói,
một tay bưng chén,
quay lại thuyền cũ.
Cuối người,
ông kiên nhẫn đút từng ngụm cho cậu bé.
Đến phần nửa bát,
môi cậu đã dần dần hồng lên.
Hết chén thuốc,
sắc mặt cậu đổi khác thấy rõ,
hai mí mắt khẽ động,
rồi dần hé mở.
Chưa đầy nửa canh giờ,
cậu đã tỉnh táo trở lại.
Sáng hôm sau,
khi ánh nắng đầu tiên vừa lên,
cả ba người,
hai phụ nữ cùng cậu bé,
đã có mặt trước cửa tiệm thuốc.
Họ đứng lặng hồi lâu,
rồi cùng nhau quỳ xuống,
dập đầu ba cái thật mạnh,
giọng nghẹn lại vì xúc động.
Ân nhân cứu mạng,
Đại Đức không quên.
Mai sau nếu có cơ hội,
nhất định báo đáp.
Nói rồi,
không đợi ông Từ đáp lời,
cả ba đứng dậy,
quay về thuyền.
Không ai quay đầu lại.
Chiếc thuyền nhỏ dần xa khỏi bến,
lẫn vào dòng nước.
Chỉ còn hàng liễu xào xạc
trong gió như đưa tiễn.
Ông Từ nhìn theo một lúc,
rồi quay vào,
không nói gì.
Vẫn như cũ,
ngày ngày bắt mạch bốc thuốc,
cứu người không quản nắng mưa.
Ông cũng không hỏi lai lịch,
chẳng để tâm đến việc ai nợ ai điều gì.
Cuộc sống lại trôi đi,
êm đềm mà nhẫn nải,
như nước sông trước cửa tiệm,
chảy mãi không ngừng.
Mười năm sau,
gió đổi chiều.
Hiệu thuốc nhà họ Từ
bắt đầu thưa khách.
Ban đầu chỉ là vài ngày
vắng bóng bệnh nhân.
Nhưng rồi hết tháng này
đến tháng khác,
người đến khám bệnh
ngày càng ít.
Khách quen dần vắng bóng,
khách mới lại
chẳng mới ai ghé.
Nguyên do cũng dễ hiểu.
Trung quanh mọc lên
hàng loạt tiệm thuốc mới,
bảng hiệu rực rỡ,
lại quảng bá dầm rộ.
Thầy thuốc mới thì trẻ trung,
ăn nói khéo léo.
Phương thuốc thì được
thổi phồng là bí truyền,
linh nghiệm tức thỉ.
Người ta đâu còn mặn mà
với hiệu thuốc cũ ký,
thầy thuốc tóc bạc,
vẫn dùng những thang thuốc đơn sơ
như thuở xưa.
Ông Từ bắt đầu lo lắng.
Từ ngày qua đi,
lòng ông như có lửa đốt,
ra tài tích góp bao năm
cứ thế vơi dần.
Gạo trong lưu,
củi trong bếp,
tiền trong hòm,
tất cả đều thưa thớt.
Bạn bè thân thích thấy vậy
cũng sốt ruột thay.
Có người khuyên.
Thời thế đổi rồi,
chỉ bốc thuốc không đủ sống,
nếu còn vốn,
chi bằng gom lại,
sang quan trung buôn bán.
Lái ít cũng hơn
ngồi chờ trong tiệm vắng.
Nghe vậy,
ông Từ ban đầu còn do dữ.
Nhưng nghĩ đi nghĩ lại,
chẳng còn cách nào khác.
Sau cùng,
ông quyết định bán đi
vài món đồ gia truyền,
vét sạch số bạc tích góp,
cộng thêm vây mượn
chút ít từ họ hàng,
quy đổi được hơn trăm lượng.
Ông rủ thêm người quen,
cùng nhau thu mua hàng hóa,
chuẩn bị chuyến đi lớn,
vượt biển sang quan trung
tìm đường làm ăn.
Chẳng ai ngờ,
vận hạn đã chờ sẵn
giữa biển khơi.
Thuyền mới đi được nửa đường,
bầu trời đột ngột chuyển màu.
Gió biển rít lên
từng hồi dữ dội.
Mây đen ùn ùn kéo tới,
ánh sáng mặt trời
bị nuốt chừng trong chấp mắt.
Sóng bắt đầu nổi lên,
cuộn thành từng lớp cao ngất.
Người trên thuyền chưa kịp trở tay,
đã nghe một tiếng rèn vang như trời ráng.
Một cột sóng lớn sô tới,
thuyền nghiêng ngả,
rồi bị đánh vật vào
một dãy đá ngầm hiểm trở.
Tiếng váng gãy,
tiếng người la,
tiếng hàng hóa đổ vỡ dồn dập.
Hơn trăm lượng bạc
cùng bao hàng hóa quý giá,
phút chốc tan biến vào lòng biển lạnh.
Không ai kịp giữ lại gì,
người thì ôm thùng nổi,
người bám mảnh ván,
cùng nhau vật lộn giữa biển gào.
Cuối cùng,
cả đoàn giạt được vào một hòn đảo nhỏ,
hoang vắng.
Quần áo tả tơi,
bụng đói,
chân chảy xước,
ai cũng kiệt sức.
Nhưng chưa kịp mừng thoát chết,
từ trong rừng rậm
đã có tiếng bước chân.
Một toán lính vũ trang xuất hiện,
mặt lạnh như sắt,
vùng đao quát lớn.
Không ai hay biết,
hòn đảo này thuộc địa phận nước bằng tử.
Chuyên có lính tuần tra canh phòng,
ngăn người vượt biển xâm nhập.
Chẳng mấy chốc,
nhóm người trốn nạn
bị quân lính phát hiện.
Chúng chói tay dẫn cả bọn về giam
trong một căn nhà đá bỏ hoang,
xung quanh là lính gác nghiêm ngặt.
Mỗi người được phát một miếng bánh khô như đá,
nhai chẳng nổi,
nhưng cũng đành nuốt vào
cho qua cơn đói.
Sau đó,
lính bắt từng người khai tên tuổi,
quê quán,
rồi lập danh sách,
báo lên cấp trên
theo quy định của quân đội biên thủy.
Hôm đó,
tiểu vương gia nước bằng tử
có chuyến tuần tra bất ngờ
tại vùng đảo ven biên.
Đến doanh trại,
tùy tướng trình danh sách
những kẻ bị bắt giữ trong ngày.
Vừa liếc qua,
ánh mắt tiểu vương gia trợt khựng lại.
Hàng chữ từ đình sơn
đập vào mắt
khiến chàng đổi sắc mặt,
lập tức đứng dậy.
Mao dẫn người này tới gặp ta.
Lính canh hốt hoảng,
vội chạy đi.
Một lát sau,
ông từ cùng mấy người bạn
bị áp giải đến trướng lớn.
Tiểu vương gia bước nhanh ra ngoài.
Vừa thấy ông,
chàng dừng lại,
nhìn chăm chăm hồi lâu,
rồi hỏi thẳng.
Trước nhà ông,
hai hàng liễu rủ bên sông,
vẫn còn chứ?
Ông từ giật mình.
Câu hỏi không đầu không đuôi,
nhưng nghe mà tim đập mạnh.
Cảnh vật ấy,
đâu phải ai cũng biết.
Hơn nữa,
đây là vương gia
của một nước xa xôi.
Cỡ sao lại hỏi như thế
từng đứng dưới tán liễu
trước cửa nhà ông?
Chưa kịp mở miệng,
tiểu vương gia đã quay sang hạ lệnh.
Đưa hết bạn bè của ông ấy
đến y viện chăm sóc.
Người nào bệnh thì chữa,
đói thì cho ăn,
rét thì phát áo ấm.
Xe ngựa chuẩn bị sẵn,
ngày mai lên đường về Kinh.
Hai ngày sau,
đoàn người ngựa dầm rộ
tiến vào hoàng cung nước bằng tử.
Ông từ vẫn ngơ ngác.
Chưa hiểu chuyện gì,
thì thấy tiểu vương gia
từ xa tiến lại.
Theo sau là hai vị phu nhân
mặc lễ phục
cùng bước đến trước mặt ông.
Rồi cả ba người đồng loạt
quỳ xuống,
dập đầu ba cái.
Ơn nhân cứu mạng năm xưa,
nay xin được báo đáp.
Ông từ hoảng hốt
lùi lại mấy bước,
xua tay liên tục.
Xin vương gia chớ làm vậy,
tôi chỉ là thầy thuốc quê mùa,
nào dám nhận đại lễ như thế.
Chẳng hay chuyện này là thế nào?
Tiểu vương gia lúc này
mới đỡ ông đứng dậy,
mắt dưng dưng kể lại.
Ông không nhớ ta ư?
Năm ấy,
ta và hai vị vương phi
bị truy sát,
trốn sang trung nguyên,
ẩn náo trong chiếc thuyền nhỏ
dưới gốc liễu.
Ta bị sốt mê man,
tưởng như không qua khỏi.
Chính ông đã đích thân
cứu sống ta.
Nếu không có ông,
cả ba người
đã bỏ sát nơi đất khách.
Sau đó,
loạn lạc trong nước
được dẹp yên,
ta trở về nối ngồi.
Bao năm qua
vẫn luôn nhớ mãi
người ơn cứu mạng.
Lần này sang tống triều cống,
nào ngờ gặp lại
đúng lúc ông lâm nạn.
Trời xanh quả
không phụ lòng người.
Dứt lời,
tiểu vương gia
quay sang quỳ xuống một lần nữa,
giọng đầy thanh khẩn.
Xin ở lại kinh thành,
làm quốc sư cho ta.
Nếu cần bạc vàng,
ta tặng vạn lượng hoàng kim,
chỉ mong được tận hiếu đáp nghĩa.
Ông từ nghiêng người,
cuối đầu
nói bằng giọng trầm tính.
Lòng tốt của vương gia,
tôi xin khắc ghi.
Nhưng tôi là người thôn giã,
chỉ mong đưa bạn bè bình an
về quê cũ.
Nếu có thể,
xin cho ít đậu nành đem về làm vốn,
đã là trọng hậu lắm rồi.
Tiểu vương gia bật cười.
Đậu nành à?
Đậu nước ta ngon nhất vùng đông bắc,
còn hơn cả đậu quan đông.
Muốn bao nhiêu ta cũng cho.
Vài tháng sau,
ông từ cùng nhóm bạn
được đưa vào hoàng cung
ở như khách quý.
Ăn ngon mặc đẹp,
thuốc thang đầy đủ,
ai nấy đều phục hồi sức khỏe.
Đến khi họ ngỏ ý hồi hương,
tiểu vương gia đích thân mở kho lương
cho người khiêng đậu nành
chất đầy mấy chục chiếc thuyền lớn,
loại nào cũng là hạt mẩy,
chắc, màu sáng bóng.
Chưa hết,
còn cử quân lính hỗ đoàn thuyền
về tận quê.
Về tới nhà,
ông từ đem đậu đi bán,
ai thấy cũng tranh nhau mua
vì đậu lạ,
ngon chưa từng thấy.
Giá bán cao,
hàng lại nhiều,
chẳng mấy chốc,
tiền bạc đổ về như nước.
Từ một thầy thuốc già
nua túng thiếu,
ông trở thành phú hộ trứ danh
khắp cả vùng.
Bài học đúc kết,
lòng thiện là gốc của phú quý.
Người biết yêu thương người,
sẽ được yêu thương trở lại.
Người biết nghĩ cho người khác,
sẽ luôn có người nâng đỡ mình
lúc khốn cùng.
Trong đạo Phật,
đây chính là lý nhân quả
vận hành trong từng hơi thở cuộc sống.
Thiện tâm là hạt giống.
Lòng tư bi là mạch nước ngầm
nuôi lớn phước báo.
Người biết gieo mầm thiện,
có thể không thấy quả ngay.
Nhưng như cây mai
trong mùa đông lạnh giá,
tưởng chừng khô cằn,
lại âm thầm tích nhựa
để nở bung trong ngày xuân ấm áp.
Quả lành đến muộn,
nhưng đến rồi sẽ trổ rộ,
thơm lâu.
Không phải ngẫu nhiên
có người sinh ra
đã được hưởng ấm no phú quý.
Đó không chỉ là mệnh,
mà là nghiệp lành
của bao đời tích tụ.
Có thể,
họ từng là người cha hết lòng
vì người khốn khó.
Từng là người con dốc lòng
phụng dưỡng mẹ già.
Từng là người qua đường
lặng lẽ đưa tay
cứu một sinh linh trong cơn hoạn nạn.
Làm thiện không phải để cầu báo,
nhưng làm thiện chính là
cách ta chủ động gieo phước
cho chính mình.
Tránh được một tai hỏa,
vượt qua một cơn hoạn nạn,
và biết đâu,
gặp lại một ân tình
tưởng như đã rơi vào quên láng.
Phật dạy,
muốn biết nhân đời trước,
hãy nhìn quả hiện tại.
Muốn biết quả đời sau,
hãy xem nhân hiện tại đang gieo.
Cho nên,
người sống lương thiện,
dẫu chưa thấy giàu sang tức khắc,
nhưng chắc chắn
sẽ được an ổn,
có quý nhân,
có người thương
và sẽ không bao giờ
rơi vào tuyệt lộ.
Đó chính là nền móng thật sự
của mạnh phú quý.
