Văn dĩ tải đạo là một trong những quan niệm nền tảng của văn học phương Đông, nhưng cũng là khái niệm thường bị hiểu giản lược hoặc hiểu sai. Có người cho rằng đó chỉ là yêu cầu văn chương phải phục vụ đạo đức hay giáo huấn con người. Thực ra, trong truyền thống Á Đông, chữ "đạo" mang ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều: đó là thiên lý, nhân tâm, là con đường giúp con người sống hài hòa với chính mình, với cộng đồng và với trời đất.
Trong video này, chúng ta cùng tìm hiểu nguồn gốc của quan niệm "văn dĩ tải đạo", vai trò của văn chương trong việc nuôi dưỡng đời sống tinh thần, cũng như ý nghĩa của tư tưởng ấy trong thế giới hiện đại. Từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu đến những vấn đề của đời sống hôm nay, có thể thấy rằng văn chương lớn không chỉ đem lại cái đẹp, mà còn giúp con người sống sâu sắc hơn, tử tế hơn và giữ gìn phần nhân tính giữa những biến động của cuộc đời.
Nếu yêu thích văn học, văn hóa và những giá trị tinh thần bền vững, mời bạn cùng đồng hành với Học Ngữ văn THPT.
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
Bài phân tích làm rõ khái niệm \"văn dĩ tải đạo\" trong văn hóa Á Đông, khẳng định văn chương không đơn thuần là công cụ giáo huấn khô khan mà là phương tiện chuyển tải những suy ngẫm sâu sắc về nhân sinh, vũ trụ và phẩm giá con người, từ đó giúp con người hiện đại tìm lại điểm tựa tinh thần giữa thế giới đầy biến động.
Trong truyền thống văn hóa Á Đông, có lẽ hiếm có mệnh đề nào vừa quen thuộc, vừa dễ bị hiểu lầm như câu văn dĩ tải đạo.
Ngày nay, mỗi khi nhắc đến khái niệm này, không ít người lập tức liên tưởng đến một thứ văn chương mang tính giáo huấn,
xem văn học như công cụ để truyền bá đạo đức hay phục vụ những lý tưởng chính trị và xã hội nhất định.
Thậm chí, có người còn cho rằng đó là dấu vết của một thời đại mà nghệ thuật chưa được tự do,
khi văn chương bị đặt dưới sự chi phối của luân lý và giáo điều.
Nhưng, nếu bình tĩnh nhìn lại lịch sử tư tưởng phương Đông, đồng thời đi sâu hơn vào nội hàm của chữ đạo,
có lẽ chúng ta sẽ thấy mọi chuyện không đơn giản như vậy.
Vấn đề nằm ở chỗ rất nhiều người hôm nay đang hiểu chữ đạo theo nghĩa quá hẹp.
Muốn hiểu đúng văn dĩ tải đạo, trước hết cần hiểu đúng chữ đạo.
Trong tư tưởng phương Đông, đạo không chỉ là đạo đức.
Nghĩa gốc của chữ đạo là con đường, nhưng đó không phải con đường theo nghĩa vật chất thông thường,
mà là con đường vận hành của vũ trụ, của tự nhiên và của đời sống con người.
Lão Tử từng nói, đạo khả đạo, phi thường đạo.
Cái có thể gọi thành lời thì chưa phải là đạo vĩnh hằng.
Đạo là nguyên lý sinh thành và vận động của trời đất.
Nó vô hình nhưng hiện diện trong mọi sự vật hữu hình.
Kinh dịch lại nói, nhất âm nhất dương chi vị đạo, một âm một dương gọi là đạo.
Người xưa nhìn thấy trong thế giới một sự cân bằng kỳ diệu giữa những mặt đối lập,
sáng và tối, động và tĩnh, cương và nhu, được và mất,
khi sự cân bằng ấy bị phá vỡ, hỗn loạn xuất hiện.
Đạo vì thế không chỉ là những chuẩn mực ứng xử giữa người với người,
đạo còn là lẽ vận hành của cuộc sống.
Nhò giáo về sau, chuyển trọng tâm của đạo từ vũ trụ sang nhân sinh.
Đạo trở thành con đường giúp con người sống đúng với phận vị và trách nhiệm của mình
trong gia đình và xã hội.
Từ đó xuất hiện những giá trị như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.
Nhưng dù được diễn dài theo cách nào, đạo vẫn luôn gắn với một câu hỏi cân bản,
con người nên sống thế nào để không đánh mất chính mình.
Nếu hiểu như vậy, ta sẽ thấy văn dĩ tải đạo không chỉ có nghĩa là
văn trương phải dạy điều hay lẽ phải,
đó còn có nghĩa rằng văn trương cần chuyên trở những suy ngẫm cân bản
về con người, về nhân tính, về lẽ sống và về vị trí của con người trong thế giới này.
Vậy vì sao người xưa lại đặt lên vai văn trương một nhiệm vụ như thế?
Muốn trả lời câu hỏi ấy, có lẽ cần đặt văn trương trở lại
trong bối cảnh văn hóa truyền thống?
Người xưa không xem văn trương đơn thuần là một hình thức giải trí
hay một phương tiện để biểu đạt cảm xúc cá nhân.
Văn trương được đặt trong một trình thể văn hóa rộng lớn hơn.
Nó tham gia vào việc dưỡng tâm, giáo hóa,
giữ gìn nền nếp tinh thần của xã hội và giúp con người hoàn thiện nhân cách của mình.
Bởi vậy mới có quan niệm thi dĩ ngôn trí, văn dĩ tải đạo.
Ở đây trí không phải là tham vọng hay khát vọng cá nhân theo nghĩa thông thường.
Trí là trí hướng tinh thần, là lý tưởng sống,
là điều mà con người xem là đáng để theo đuổi trong đời.
Văn trương vì thế trở thành nơi ký thác những suy tư sâu xa nhất về nhân sinh.
Nhìn vào văn học trung đại Việt Nam, chúng ta có thể thấy điều đó rất rõ.
Nguyễn Trãi viết về thiên nhiên với một tâm hồn khoáng đạt và thanh cao.
Nhưng phía sau những câu thơ tưởng như chỉ nói về cây cỏ, núi sông,
luôn thấp thoáng một tấm lòng yêu thời, mẫn thế,
một nỗi bận tâm thường trực đối với dân, với nước.
Ông từng viết,
Đó không chỉ là lời tự bạch của một cá nhân,
đó còn là sự khẳng định về những giá trị mà ông tin là không thể đánh mất
giữa mọi biến động của cuộc đời.
Đến Nguyễn Đình Chiều, mối liên hệ giữa văn trương và đạo nghĩa còn hiện lên rõ nét hơn.
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẩm, đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
Ở đây, đạo không phải là một khái niệm chiều tượng,
nó là chính khí, là tiết tháo, là phẩm giá của con người trước những thử thách của lịch sử.
Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào những câu thơ như thế,
rồi cho rằng văn trương truyền thống đơn thuần là công cụ tuyên truyền đạo lý,
thì e rằng vẫn chưa thật công bằng với người xưa.
Bởi các nhà nho chân chính chưa bao giờ xem văn trương là thứ minh họa khô cứng cho những giáo điều có sẵn.
Họ hiểu rằng đạo lý chỉ thực sự có sức sống khi được thấm qua trải nghiệm và cảm xúc chân thành.
Nếu không có sự rung động thật của tâm hồn,
mọi lời đạo đức đều rất dễ trở thành những lời huấn thị khô khan.
Nguyễn Du là minh chứng tiêu biểu nhất.
Chuyện Kiều không phải là một cuốn sách luân lý,
nó không được viết ra để dạy người ta phải sống thế nào.
Ngược lại, đó là một tác phẩm đầy những đau đớn,
mâu thuẫn và dai dứt về thân phận con người giữa một thế giới nhiều biến động.
Nguyễn Du không đứng trên cao để phán xét nhân vật của mình.
Ông đi vào nỗi đau của họ bằng sự thấu cảm hiếm có.
Ông hiểu những yếu đuối của con người.
Ông hiểu những hoàn cảnh khiến con người nhiều khi không thể sống như điều mình mong muốn.
Chính vì thế mà những suy ngẫm về chữ tâm trong chuyện Kiều mới có sức nặng lâu bền đến vậy.
Hiện căn ở tại lòng ta chữ tâm Kiều mới bằng ba chữ tài.
Điều đáng chú ý là Nguyễn Du không áp đặt chân lý ấy từ bên ngoài.
Nó xuất hiện như kết quả của một hành trình chiêm nghiệm rất dài về con người và cuộc đời.
Đó cũng là lý do vì sao những tác phẩm lớn thường không làm người đọc cảm thấy mình đang được dạy dỗ.
Chúng khiến người đọc tự suy ngẫm.
Và chính sự suy ngẫm ấy mới là con đường dẫn tới những giá trị tinh thần bền vững.
Đến đây có lẽ chúng ta cần nhìn lại một ngộ nhận khá phổ biến trong thời hiện đại.
Không ít người cho rằng khi văn trường gắn với đạo lý thì nghệ thuật sẽ mất tự do và cái đẹp sẽ bị hy sinh.
Thực ra trong Mỹ học cổ phương Đông, văn và đạo chưa bao giờ là hai phạm chủ đối lập.
Người xưa không tách chân, thiện và Mỹ thành những lĩnh vực hoàn toàn độc lập với nhau như cách tư duy hiện đại thường làm.
Họ tin rằng cái đẹp chân chính luôn có một nền tảng tinh thần nào đó.
Một bông hoa đẹp vì nó nở đúng bùa.
Một nhân cách đẹp vì nó thuận với lẽ phải.
Một bài thơ đẹp vì trong đó có khí chất và thiên lương của người viết.
Bởi vậy văn trường cổ điển phương Đông thường hướng tới sự hòa hợp giữa cái chân, cái thiện và cái Mỹ.
Đọc thơ Nguyễn Khuyến ta bắt gặp một bức tranh mùa thu vô cùng giản dị.
Áo thu lạnh lẽo nước trong veo, một chiếc thuyền câu bé tèo tèo.
Nhưng nếu chỉ nhìn thấy cảnh thu có lẽ vẫn chưa đủ.
Đằng sau sự thanh đạm ấy còn là một nhân cách biết giữ mình giữa thời cuộc đầy biến động.
Cái đẹp của bài thơ không chỉ nằm ở cảnh vật mà còn nằm ở khí tiết của con người.
Hay trong thơ Nguyễn Bình Khiêm ta dạy ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn người đến trốn lao sao.
Nếu tách câu thơ ra khỏi nền tàng tư tưởng về sự chi túc, về cách sống thuận tự nhiên và giữ gìn sự thanh thản trong tâm hồn,
ta sẽ khó cảm nhận hết chiều sâu của vẻ đẹp ấy.
Bởi vậy, khi nói đến văn dĩ tải đạo,
có lẽ điều quan trọng nhất không phải là văn chương có dạy đạo đức hay không.
Điều quan trọng là văn chương có chạm được tới phần sâu xa nhất trong đời sống tinh thần của con người hay không.
Và đó cũng chính là điểm khiến văn học phương Đông mang một sắc thái rất riêng.
Con người trong văn học phương Đông thường không hiện ra như một cá thể hoàn toàn tách biệt khỏi thế giới.
Họ luôn sống trong mối liên hệ với thiên nhiên, với cộng đồng, với lịch sử và với những câu hỏi về ý nghĩa của đời sống.
Bởi thế văn chương Á Đông thường không quá thiên về phơi bày mọi cảm xúc hay phân tích tâm lý đến tận cùng.
Nó truộng sự hàm xúc, truộng những điều gợi mở hơn là những điều nói hết.
Một cánh hoa rơi, một vầng trăng, một tiếng chuông chùa, một dòng sông xa nhiều khi không chỉ là hình ảnh của thiên nhiên.
Đó còn là nơi con người gửi gắm những suy ngẫm về thời gian, thần Phật, nỗi cô đơn, sự mất mát hay những quy luật âm thầm của cuộc sống.
Chính trong những khoảng lặng ấy, văn chương trở thành nơi con người học cách lắng lòng, chiên nghiệm và tự hoàn thiện mình.
Nếu chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu một khái niệm cổ của văn học phương Đông, có lẽ câu chuyện văn dĩ tải đạo sẽ không còn nhiều ý nghĩa đối với chúng ta ngày nay.
Điều khiến quan niệm ấy vẫn đáng để suy ngẫm nằm ở chỗ.
Nó chạm đến một vấn đề rất hiện đại, sự khủng hoảng tinh thần của con người trong thế giới đương đại.
Có thể nói, chưa bao giờ con người sở hữu nhiều chi thức và thông tin như hiện nay.
Chúng ta có thể đọc hàng nghìn cuốn sách điện tử, tiếp cận vô số bài giảng, xem những bộ phim từ khắp nơi trên thế giới chỉ bằng một chiếc điện thoại nhỏ trong tay.
Nhưng điều đáng suy nghĩ là, sự phong phú về thông tin không đồng nghĩa với sự phong phú trong đời sống tinh thần.
Nhiều người trong chúng ta biết rất nhiều, nhưng lại khó tìm thấy ý nghĩa cho cuộc sống của mình.
Chúng ta có thể kết nối với cả thế giới, nhưng lại cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết.
Chúng ta có nhiều phương tiện giải trí hơn, nhưng cũng dễ rơi vào trạng thái mệt mỏi, trống rỗng và bất an.
Tuy nhiên, không thể quy tất cả những vấn đề ấy cho văn chương hay nghệ thuật.
Nhưng rõ ràng, đời sống tinh thần của con người đang đứng trước những thách thức mới.
Trong một xã hội vận hành chủ yếu theo logic của thị trường và tiêu dùng,
gần như mọi thứ đều chịu áp lực phải trở nên nhanh hơn, hấp dẫn hơn và dễ tiêu thụ hơn.
Văn chương cũng không nằm ngoài xu hướng ấy.
Người đọc dễ bị thu hút bởi những gì gây sóc, mới lạ hoặc kích thích cảm xúc tức thời.
Những nội dung có thể khiến nghề xem dừng lại vài giây thường được ưu tiên hơn những nội dung đòi hỏi sự suy ngẫm lâu dài.
Điều đó không hẳn là sai.
Mỗi thời đại đều có nhu cầu và cách thưởng thức riêng.
Nhưng nếu một nền văn hóa chỉ còn lại những cảm xúc ngắn hạn,
nó sẽ dần đánh mất khả năng nuôi dưỡng chiều sâu tinh thần cho con người.
Có những tác phẩm được nhắc đến rất nhiều trong một thời gian ngắn,
mới nhanh chóng biến mất khỏi ký ức của công chúng.
Ngược lại, có những tác phẩm đã tồn tại hàng trăm năm,
nhưng vẫn tiếp tục được đọc, được suy ngẫm và được tìm về qua nhiều thế hệ.
Điều gì tạo nên sự khác biệt ấy?
Chắc chắn không chỉ là kỹ thuật.
Kỹ thuật có thể tạo nên sự hấp dẫn,
nhưng để một tác phẩm sống lâu trong tâm thức con người,
thường cần một điều gì sâu xa hơn.
Đó là khả năng chạm tới những câu hỏi căn bản của đời sống.
Ta là ai? Ta nên sống như thế nào?
Điều gì làm nên phẩm giá của một con người?
Làm thế nào để đối diện với khổ đau, mất mát, dục vọng hay sự hữu hạn của đời người?
Đó là những câu hỏi không bao giờ cũ.
Và cũng chính là những câu hỏi mà những tác phẩm lớn của nhân loại
luôn trở đi trở lại.
Có lẽ vì thế mà giữa thế giới hiện đại,
rất nhiều người vẫn tìm đến Đào Yên Minh, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tô Đông Pha, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du hay Ta Go.
Không phải vì họ muốn quay trở về quá khứ,
cũng không hẳn vì lòng hoài cổ,
mà bởi trong những trang sách ấy vẫn còn một nguồn ánh sáng tinh thần nào đó.
Một sự bình tĩnh trước biến động,
một lòng tin vào phẩm giá con người,
một khả năng đối diện với khổ đau mà không tuyệt vọng,
một cách sống hài hòa hơn với chính mình và với thế giới.
Đó là những điều mà con người hiện đại, dù sống trong một hoàn cảnh rất khác, vẫn luôn cần đến.
Ở nghĩa ấy, có lẽ điều người xưa gọi là đạo chưa bao giờ hoàn toàn biến mất,
nó chỉ thay đổi hình thức biểu hiện qua từng thời đại.
Còn người hôm nay có thể không còn nói nhiều đến đạo,
theo ngôn ngữ của Nho gia hay Đạo gia,
nhưng chúng ta vẫn không ngừng đi tìm những giá trị giúp đời sống có ý nghĩa hơn,
nhân ái hơn và đáng sống hơn.
Và đó cũng là lý do khiến câu chuyện về văn dĩ tài đạo vẫn còn nguyên tính thời sự.
Nó nhắc chúng ta nhớ rằng văn chương không chỉ là một trò chơi ngôn từ,
cũng không chỉ là một sản phẩm để tiêu dùng rồi nhanh chóng quên đi.
Ở dạng thức tốt đẹp nhất của mình,
văn chương là một cuộc đối thoại lâu dài giữa con người
với chính những câu hỏi sâu xa nhất của đời sống.
Cảm ơn quý vị đã dành thời gian đồng hành cùng Học Ngữ Văn Trung Học Phổ Thông.
Mong rằng mỗi trang sách, mỗi bài thơ và mỗi cuộc trò chuyện về văn chương
sẽ giúp chúng ta hiểu thêm về con người, về cuộc đời và về chính mình.
Xin kính chào và hẹn gặp lại trong những video tiếp theo.