Văn tế thập loại chúng sinh – Lời thương người, lời tỉnh thức Có lẽ ít có tác phẩm nào viết về người đã khuất mà lại khiến người đang sống phải ngoái nhìn vào chính mình như Văn tế thập loại chúng sinh của Nguyễn Du. Từ những bậc đế vương, kẻ quyền quý, người theo đuổi công danh, tiền tài cho đến những phận đời bé nhỏ, bất hạnh, Nguyễn Du gọi tên từng cảnh ngộ bằng một tấm lòng thương cảm sâu xa. Trước cái chết, mọi vinh hoa, sang hèn rồi cũng trở nên mong manh; chỉ còn lại một câu hỏi: con người rốt cuộc đã sống vì điều gì? Nhưng Văn tế thập loại chúng sinh không dừng lại ở nỗi thương. Trong tiếng khóc dành cho những cô hồn vất vưởng còn có một lời thức tỉnh rất khẽ mà thấm thía: đừng để một đời người trôi qua trong những điều tưởng là quý giá mà cuối cùng chẳng thể mang theo. Từ nỗi thương người của Nguyễn Du, chúng ta cùng chậm lại để suy ngẫm về vô thường, danh lợi, khổ đau, lòng từ bi và con đường tìm kiếm sự giải thoát của một kiếp người.
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Có những tác phẩm viết về cái chết để người sống khóc thương người đã khuất,
nhưng cũng có những tác phẩm nói về cái chết lại khiến người đang sống phải nhìn lại cách mình đang sống.
Văn tế thập loại chúng sinh thường được gọi là văn chiêu hồn của Nguyễn Du là một tác phẩm như vậy.
Đọc bài văn tế này, ta tưởng như đang bước vào một thế giới của những linh hồn cô độc trong tiết tháng 7
giữa mưa rầm, gió lạnh và những tiếng than văng vẳng từ cõi âm.
Nhưng càng đọc, ta càng nhận ra Nguyễn Du không chỉ gọi những người đã chết trở về,
ông đang gọi cả những điều mà người sống thường cố quên,
sự mong manh của kiếp người, sự vô thường của danh lợi,
nỗi cô độc của những phận người bị bỏ lại bên lề cuộc đời.
Và sau cùng là câu hỏi, con người phải sống như thế nào
khi biết rằng tất cả những gì mình đang có rồi sẽ có ngày phải buông tay?
Văn tế thập loại chúng sinh là một sáng tác bằng chữ nôm đặc sắc của Nguyễn Du,
được viết theo thể song thất lục bát, gồm 184 câu thơ.
Tác phẩm thường được chia thành 4 phần, mở đầu là cảnh tháng 7 và lễ cầu siêu,
tiếp đó là lời kể về những hạ người đã chết với những cảnh ngộ khác nhau,
cảnh những cô hồn vất vường không nơi nương tựa,
và sau cùng là lời cầu mong Phật Pháp cứu độ chúng sinh.
Nhưng nếu chỉ xem đó là một bài văn tế dành cho người chết,
thì dường như vẫn chưa chạm tới chiều sâu của tác phẩm.
Bởi sau hàng trăn câu thơ viết về những người đã khuất,
người đọc cuối cùng lại nhận ra rằng
đối tượng mà Nguyễn Du thực sự muốn đánh thức chính là những người đang sống.
Để có cái nhìn ấy,
Nguyễn Du đã phải đi qua chính những biến động khốc liệt của cuộc đời mình.
Ông sinh ra trong một gia đình danh ra vọng tập,
lớn lên giữa một thế giới giàu sang và quyền quý,
nhưng rồi cũng chính ông chứng kiến thế giới ấy từng bước sụp đổ.
13 tuổi đã mồ côi cả cha lẫn mẹ,
rồi đất nước bước vào những năm tháng biến động dữ dội.
Các triều đại thay nhau đổi ngôi,
những gia đình quyền quý hôm qua còn ở trên đỉnh cao
thì hôm nay có thể đã tan tác.
Bản thân Nguyễn Du từng trải qua những năm tháng phiêu bạc,
đói nghèo, bệnh tật và tha hương.
Có lúc ông chú Ngụ nơi cửa Phật từng có ý định xuất ra
rồi đi qua một quãng đường rất dài trên đất Trung Hoa.
Khi trở về nước,
những năm gió bụi đã để lại trong ông một vốn sống đặc biệt.
Những trải nghiệm ấy giúp ông hiểu sâu sắc
những cảnh đời lưu lạc,
những phận người chìm nổi
và nỗi đau mà con người phải gánh chịu
giữa một thời đại đầy biến động.
Vì thế, khi viết văn tế thập loại chúng sinh,
Nguyễn Du không đứng ngoài để thương xót,
ông nhìn họ từ chính sự từng trải
và lòng thương đời đã được hôn đúc
qua những năm tháng gió bụi của mình.
Nhìn rộng hơn,
đó cũng là một thời đại mà chiến tranh và loạn lạc
khiến mạng người trở nên quá rè rúng.
Cuối thế kỷ 18,
đất nước trải qua những biến động liên tiếp.
Chiến tranh, đói kém, thiên tai, dịch bệnh,
vu phen và binh lửa
đẩy vô số con người vào cảnh chết chóc và ly tán.
Chính trong một hoàn cảnh như vậy,
lời gọi hồn của Nguyễn Du mới mang một sức nặng đặc biệt.
Ông không chỉ gọi những linh hồn vô danh,
mà gọi cả một phần lịch sử đau thương của con người.
Bài văn tế mở ra bằng một buổi chiều tháng 7.
Tiết tháng 7, mưa rầm xui xụt,
toát hơi may, lạnh bút xương khô.
Não người thay buổi chiều thu,
ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng.
Chỉ mấy câu thơ mà cả một không gian đã hiện ra.
Mưa rầm, gió lạnh, lo bạc, lá vàng.
Tất cả đều mang một vẻ tiêu điều,
khiến cảnh vật dường như cũng nhuốm màu chết chóc.
Nhưng điều đáng nói là Nguyễn Du không tà cảnh,
chỉ để tạo không khí u buồn.
Cảnh vật trong văn triêu hồn
dường như đã thấm vào tâm trạng
của những linh hồn mà ông sắp gọi đến.
Lòng nào là chẳng thiết tha,
cõi dương còn thế, nữa là cõi âm.
Cõi dương còn tiêu điều như vậy,
cõi âm sẽ ra sao?
Một câu thơ rất nhẹ,
nhưng mở ra cả một chiều sâu nhân sinh.
Nguyễn Du dường như không còn phân biệt rạch ròi
giữa người sống và người chết.
Cõi dương và cõi âm
đều nằm trong một thế giới của đau khổ.
Chỉ khác nhau ở chỗ,
người còn sống có thể tìm được một mái nhà,
một người thân, một nơi để trở về,
còn những cô hồn thì không.
Thương Thầy thập loại chúng sinh,
hồn đơn phách chiếc,
lênh đênh quê người.
Thập loại ở đây không đơn thuần là 10 loại người,
còn số 10 mang ý nghĩa tượng trưng cho sự rộng khắp
gần như toàn thể chúng sinh.
Trong bài văn tế,
Nguyễn Du đã không bỏ xót một tầng lớp nào của xã hội.
Có những người từng đứng trên đỉnh cao quyền lực,
có những người từng sống trong màn lan trướng huệ,
có những quan lại, mũ cao áo rộng,
từng nắm trong tay quyền sinh sát,
có những tướng lĩnh đem quân ra trận để tranh công,
có người cả đời chỉ lo làm giàu.
Có sĩ tử lìa nhà theo đuổi khoa cử,
có người đi biển,
có người buôn bán đường xa,
người phải đi lính,
có những phụ nữ bị đầy vào trốn lầu xanh,
những kẻ hành khất,
những người chết trong lao ngục,
những đứa trẻ chưa kịp lớn đã lìa cha mẹ,
và những người chết vì đủ loại tai nạn.
Một thế giới rộng lớn như vậy,
nhưng khi bước vào cõi chết,
những khác biệt từng khiến họ tranh giành nhau suốt đời,
bỗng trở nên nhỏ bé.
Đó là một trong những phát hiện sâu sắc nhất của Nguyễn Du.
Trong thập loại chúng sinh,
hạng người được Nguyễn Du nhắc đến đầu tiên
là những kẻ tính đường kêu hãnh,
mang trong lòng trí lớn muốn cướp gánh non sông,
muốn tranh hùng, dựng nghiệp.
Nhưng rồi chiến cuộc đổi thay,
thế lực rụp đổ,
những con người từng có tham vọng lớn lao ấy,
cuối cùng chỉ còn lại những thân xác không nguyên vẹn.
Bỗng phút đầu mưa xa ngói lờ,
khôn đem mình làm đứa sứt phu,
lớn sang giàu, nặng quán thù,
máu tươi lai láng, xương khô dạ rời.
Câu mưa xa ngói lờ đặc biệt ám ảnh,
một công trình tưởng như vững chắc,
chỉ trong khoảnh khắc đã đổ xuống.
Một chiều đại, một gia đình,
một sự nghiệp, một đời người,
đôi khi cũng như thế.
Khi thời thế đổi thay,
những gì con người từng nghĩ là chắc chắn nhất
lại có thể tan thành cho bụi.
Nguyện Du không đứng về phía thắng hay phía thua,
ông nhìn thấy nỗi đau ở cả hai phía.
Những người tranh hùng cuối cùng
đều có thể trở thành những đoàn vô tự,
lạc loài, nheo nhóc,
những hồn ma không đầu không tên,
than khóc giữa đêm mưa,
và ông chỉ còn biết thở dài.
Cho hay thành bại là cơ,
mà cô hồn biết bao giờ cho tan.
Ở đây đã xuất hiện một cảm thức rất rõ
về sự vô thường của thế sự.
Thành hay bại, vinh hay nhục,
đôi khi chỉ cách nhau một bước ngoặt của thời cuộc.
Con người tưởng rằng mình đang làm chủ vận bệnh,
nhưng rồi chính thời thế lại cuốn mình đi.
Nguyện Du đã sống giữa những cuộc thay đổi như vậy,
nên ông hiểu điều đó sâu sắc hơn ai hết.
Quyền lực có thể mất đi,
thì nhan sắc và đời sống khuê cát
cũng không nằm ngoài sự đổi thay.
Nguyện Du tiếp tục gọi đến những người phụ nữ khuê cát
từng sống trong màn lan trướng huệ.
Những cậy mình công quế hàng Nga
từng có những tháng ngày đông đúc vui cười,
được người đời nâng niu.
Nhưng chỉ một phen thay đổi sơn hà,
mảnh thân chiếc lá biết là về đâu.
Hình ảnh mảnh thân chiếc lá ở đây thật xót xa.
Chiếc lá không tự quyết định được
mình sẽ rơi xuống đâu khi gió đổi chiều.
Những người phụ nữ trong chiến loạn cũng vậy.
Họ không phải những người gây ra cuộc tranh giành quyền lực,
nhưng lại thường là những người
phải gánh chịu hậu quả của nó.
Họ chỉ mong một cuộc đời bình yên,
vậy mà ngay cả một chữ an cũng trở nên xa xỉ.
Khi sao đông đúc vui cười,
mà khi nhắm mắt không người nhặt xương.
Một câu thơ như một nhát cách vào ảo tường
về sự đông vui của thế gian.
Lúc còn sống, quanh mình có thể rất nhiều người.
Nhưng khi chết đi,
chưa chắc đã có một người nhớ đến mình.
Đằng sau câu thơ ấy,
không chỉ là nỗi thương cảm
dành cho những người phụ nữ bạc mệnh,
mà còn là một câu hỏi
về bản chất của những mối quan hệ trong đời sống.
Khi còn danh, còn sắc, còn tiền, còn địa vị,
ta có thể có rất nhiều người ở bên,
nhưng khi tất cả những thứ ấy mất đi,
còn lại ai?
Rồi Nguyễn Du nhìn đến những người
từng mũ cao áo rộng,
những quan lại nắm trong tay quyền lực
và ngọn bút xinh xác.
Đó là những con người từng nghĩ
mình có thể xoay chuyển vận mệnh của người khác,
nhưng Nguyễn Du lập tức đặt quyền lực ấy
trước cái chết.
Thịnh mãn lắm, oán thù càng lắm,
trăm loài ma mồ nấm chung quanh,
nghìn vàng khôn đồi được mình,
lầu ca viện hát tan tành còn đâu.
Thịnh mãn càng lớn,
thì oán thù càng nhiều.
Đó là một lời nhận xét
rất tỉnh táo về quyền lực.
Khi một người có thể quyết định
sinh mạng của người khác,
quyền lực ấy cũng có thể
tạo ra vô số món nợ nghiệp.
Đến lúc chính mình nằm xuống,
nghìn vàng cũng không thể
mua lại một ngày sớm.
Những lầu ca viện hát
từng chứng kiến những cuộc vui,
rồi cuối cùng cũng chỉ còn
là một ký ức.
Rồi đến những tướng lĩnh,
bài binh bố trận,
những người đem thân mình vào cuộc tranh
Nguyễn Du nhìn rất rõ
cái giá của những cuộc chiến tranh
được khoác lên những cái tên cao đẹp
như công danh, sự nghiệp, vinh quang.
Một câu thơ ngắn
mà sức tố cáo rất mạnh.
Đằng sau công một người
là thây trăm họ.
Công danh của một cá nhân
đôi khi được xây trên tính mạng
của vô số người khác.
Nhưng chiến tranh vốn không biết phân biệt.
Khi thất thế,
chính những người từng dẫn quân ra trận
cũng có thể bơ vơ góc bẻ chân trời
nắm xương vô chủ
biết vùi nơi nào.
Đọc đến đây,
ta bắt đầu nhận ra một điều.
Nguyễn Du không chỉ đang kể về
từng loại cô hồn.
Ông đang lần lượt tháo bỏ những lớp vỏ
mà con người dùng để
phân biệt mình với người khác
khi còn sống.
Quyền lực không cứu được con người.
Nhàn sắc không cứu được con người.
Chiến công không cứu được
con người.
Và tiền bạc cũng vậy.
Những người tính đường trí phú
xuất hiện trong những câu thơ sau đó.
Họ không tranh giành non sông.
Không cầm quân ngoài trận địa.
Họ chỉ muốn làm giàu.
Nhưng trong cuộc miêu sinh ấy,
có người đã đánh đổi quá nhiều.
Mình là mình
mình nhịn ngủ kém ăn
ruột ra không kẻ trí thân
dẫu làm nên để
dành phần cho ai.
Câu hỏi cuối cùng mới là điều
đáng suy nghĩ.
Cả đời tích cóp nhưng rồi
để dành cho ai?
Nếu vì tiền bạc mà đánh mất tình thân
đến khi nằm xuống của cải
còn có ý nghĩa gì?
Sống thời tiền chảy bạc ròng
thác không đem được
một đồng nào đi.
Nguyễn Du không nói tiền bạc
là xấu, ông chỉ nhìn thấy
giới hạn của nó.
Tiền có thể giúp con người sống
nhưng không thể giúp con người
vượt qua cái chết.
Và nếu vì tiền mà con người
đánh mất hết những mối quan hệ
khiến đời sống có ý nghĩa
thì đến cuối cùng
chính sự giàu có ấy lại trở thành
một thứ nghèo nàn khác.
Từ những người giàu có
Nguyễn Du quay sang những sĩ tử
rắp câu chữ quý
đây cũng là một thế giới
mà ông hiểu rất rõ.
Bản thân ông từng theo đuổi khoa cử
từng trải qua đời sống của một nho sinh
và từng chứng kiến biết bao người
rời quê nhà, lên thành thị
đặt cả tuổi trẻ
vào một cuộc đánh cược với bảng vàng
mong tìm được một chỗ
đứng bằng chữ nghĩa.
Nhưng phía trước họ
là một tương lai đầy bất định
mấy thu lìa cửa lìa nhà
văn chương đã chắc đâu mà
thí thân
Chữ đã chắc đâu chứ đựng cả nỗi băn khoăn
về một con đường
chưa biết sẽ dẫn đến đâu
và đau đớn hơn
nếu chẳng may chết nơi đất khách
họ có thể chỉ được trôn cất vội vàng
giữa những người xa lạ
vội vàng liệm sấp
trôn nghiêng, anh em thiên hạ
láng giềng người dưng.
Đến đây
phạm vi của văn triêu hồn càng
mở rộng, không chỉ những người
có tham vọng lớn lao mới gặp
bất hạnh, những người đi biển
những người buôn bán đường xa
những người phải đi lính cũng đều
có thể trở thành cô hồn
Một chiếc đòn gánh tre
trong câu thơ, đòn gánh tre
chiến dạn hai vai gợi ra
cả một thế giới lao động
Có những con người chẳng mong gì
ngoài một cuộc sống đủ ăn
nhưng chỉ một cơn râm tố
một trận thiên tai, một cơn bệnh
bất ngờ cũng có thể kết thúc
tất cả
Rồi những người lính bị cuốn vào
chiến trận, nước khe cơm ống
gian nan, rãi dầu nghìn
dặm, lầm than một đời
Họ ra đi không nhất tiết
vì tham vọng của chính mình
nhiều khi họ chỉ mắc vào khóa lính
bỏ lại cửa nhà để gánh
việc quan, nhưng trong
chiến tranh số phận con người
vốn mong manh
Buổi chiến trận mạng người như rác
Phận đã đành, đạn lạc
tên rơi
Đến đây, Nguyễn Du đã đi gần như
hết một vòng quanh xã hội
Từ vua chúa, quý tập, quan lại
tướng lĩnh, đến sĩ tử, thương nhân
người lính, từ người giàu
đến người nghèo, từ người có
danh phận đến người không ai biết
tên, nhưng ông vẫn
chưa dừng lại
Ông cúi xuống những người phụ nữ
bị đẩy vào trốn lầu xanh
những người hành khất, những người chịu
toan tù rạc, những đứa trẻ
chết khi còn quá nhỏ
những người gặp tai nạn giữa sông nước
núi rừng, trong lửa cháy
hay dưới nanh vuốt thú dữ
Trong tất cả
những phận người ấy, có một câu
thơ khiến người đọc khó
có thể đi qua mà không
dừng lại. Đau đớn thay
phận đàn bà, kiếp sinh
ra thế, biết là tại đâu
Câu hỏi ấy không chỉ
dành cho những người đàn bà trong trốn
lầu xanh, nó vang lên
như một câu hỏi về
số phận nói chung. Vì sao
người này sinh ra trong dầu sang
người kia nghèo khổ? Vì
sao có người vừa sinh ra đã
được nâng niu, có người đã
phải chịu đau đớn? Vì sao
có người chết giữa vòng tay người
thân, có người chết nơi
đầu đường xóa trợ?
Nguyện dù không phải lúc nào cũng
đưa ra được câu trả lời
nhưng chính việc ông dám đặt câu hỏi
đã khiến tiếng thương
trong văn triêu hồn vượt ra
khỏi một bài văn tế.
Sau cùng, người đọc nhận
ra rằng trong bãi tha ma
loạn thế ấy, phong liều
đại thần hay nho sinh bạc mệnh
nào khác gì nhau?
Vùa hay chiến tướng nào có khác
gì nhau? Thiền kim tôn quý
hay gái làng chơi nào
có khác gì nhau? Những ảo mộng
cao vời của một kiếp người
đất thảy cũng hư vô như những
mong ước tầm thường. Tầm thường
như một kẻ tính đường trí phú
mãi mê buôn bán, hay tầm thường
như một kẻ ăn xin nằm cầu
gối đất dõi tháng ngày
hành khất ngược xuôi.
Người giàu và người nghèo khi đứng
trước cái chết đều vô nghĩa cả.
Tất thảy rồi vẫn chỉ là
cảnh chết vùi đường quan.
Văn tế thập loại
chúng sinh phát nền một bức tranh
toàn cảnh của hồn ma bóng quế
viêu giạt, nhưng cũng là họa
nên một diễn cảnh về đời sống
khổ đau của con người.
Khổ đau suy cho cùng cũng đến từ
níu bám vào những điều hư ảo.
Với bậc tôn quý
thì hư ảo là công danh,
là ước vọng. Với những người thân phận
thấp hơn thì truy cầu
ảo mộng về tiền tài địa vị.
Với những kẻ chẳng may
mạng sống cũng là hư ảo.
Xét ra thì mọi sự đeo đuổi
truy cầu ấy có lớn
có nhỏ, nhưng hư ảo
vẫn chỉ là hư ảo
và vẫn cứ là vướng mắt
mà càng vướng mắt thì càng kéo lê đau khổ
tới mức giật giờ
vô hướng.
Bởi sau cùng, tất cả những khác biệt ấy
đều dẫn đến một nơi
cầu nại hà, kẻ trước
người sau, mỗi người một nghiệp
khác nhau, hồn siêu phách tán
biết đâu bây giờ.
Đó là một hình ảnh vừa mang
màu sắc vật giáo, vừa chế đựng
một nhận thức rất sâu về
thân phận con người.
Chúng ta thường dành cả đời để phân biệt
mình với người khác.
Ai cao hơn? Ai thấp hơn?
Ai thành công? Ai thất bại?
Ai giàu? Ai nghèo?
Ai đáng kính? Ai đáng khinh?
Nhưng cái chết đặt
tất cả những thang bậc ấy vào
cùng một khoảng lặng.
Những thứ từng khiến con người tự hào
bỗng trở nên vô nghĩa.
Từ đây, Nguyễn Xu
đưa người đọc vào cảnh tượng thê lương nhất
của Văn Chiêu Hồn
những cô hồn không nơi nương tượng
hoặc là ẩn
ngang bờ dọc bụi
hoặc là nương ngọn suối chân mây
hoặc là bụi cỏ bóng cây
hoặc nơi quán nọ cầu này
bơ vơ
không còn những cung điện lầu son
không còn những bảng vàng
ấn tín bạc vàng
chỉ còn bờ bụi, suối, cỏ cây
quán chợ, gò đống và
lau tre
Những nơi ấy trở thành
chỗ trú tạm cho những linh hồn
đã không còn một mái nhà
Sống đã chịu nhiều bề
thàm thiết, gan héo khô
dạ zét căm căm
rãi dầu trong mấy
mươi năm, thở than dưới
đất ăn nằm trên xương
Cái chết ở đây
không phải là một dấu chấm hết đơn giản
Trong thế giới quan
của Nguyễn Du, những gì con người
đã tạo ra trong đời sống
vẫn còn tiếp tục đeo đẳng họ
Những oán hận
tham vọng, chấp chước
và đau khổ dường như
chưa thể dễ dàng buông xuống
Vì thế
những cô hồn phải sống
một đời sống ngược với người dương gian
Họ tránh ánh sáng
chỉ xuất hiện khi mặt trời lặn
Nghe gà gáy tìm đường lánh ẩn
lặn mặt trời lần thần tìm ra
Nguyễn Du gọi họ
trở về với lời kinh
Từ đây, bài phân tế
bắt đầu chuyển sang một chiều hướng khác
Nếu những phần trước chủ yếu là
thương xót, thì bây giờ
trong tiếng thương đã xuất hiện
một niềm hy vọng
Nguyễn Du tin vào khả năng
cứu độ của Phật Pháp
Nhờ phép vật siêu sinh tịnh độ
phóng hào quang cứu hổ độ u
rắc hòa tứ hải quần châu
não phiền rũ sạch
toán thù rửa không
Điều đáng chú ý là
Nguyễn Du không xem sự cứu độ
chỉ như một nghi lễ dành cho người chết
Trong chiều sâu tư tưởng
của bài thơ, cứu độ trước hết
là giải thoát con người
khỏi những thứ đang chói buộc họ
phiền não, toán thù
tham dục và mê lầm
Bởi vậy câu thơ
Trong giấc mê khua tình
chiêm bao có lẽ là một trong những câu
quan trọng nhất của toàn bài
Nguyễn Du dùng hình ảnh rất mộng
để nói về kiếp người
Chúng ta sống trong thế gian
tưởng rằng những điều
trước mắt là bền chắc
nhưng rồi tất cả đều đổi thay
công danh, tiền bạc
sắc đẹp, quyền lực
thù hận, thậm chí
cả những điều khiến ta đau khổ nhất
cuối cùng cũng không thể
tồn tại mãi mãi
Kiếp phù sinh như hình bảo ảnh
có chữ rằng vạn cảnh dai không
Không ở đây
không có nghĩa là cuộc đời
hoàn toàn không có giá trị
Nó nhắc con người rằng
mọi cảnh giới hiện hữu đều vô thường
không có gì đáng để chấp giữ
như một thứ vĩnh viễn thuộc về mình
Vì vậy lời nhắc
Ai ơi lấy Phật làm lòng
tự nhiên siêu thoát
khỏi trong luân hồi
có thể được hiểu như một lời khuyên
về sự tu dưỡng
Lấy Phật làm lòng không chỉ là tin vào Phật
mà còn là học cách nhìn lại chính mình
bớt tham, bớt sân
bớt chấp chứa, biết thương người
biết tha thứ
và biết buông bỏ những điều không còn cần thiết
Nếu con người
không thay đổi cái tâm của mình
thì dù sống ở đâu
họ vẫn có thể tự tạo ra một
cõi khổ cho chính mình
Bởi vậy Văn Chiêu Hồn
tuy nói về người chết
nhưng cũng trở thành một bài học
cho người sống
Những người tính đường kêu hãnh
Những kẻ chạy theo quyền lực
Những người mãi mê tích cóp
Những sĩ tử khát vọng công doanh
Những kẻ mang theo oán hận
xuống nấm hồ
Thực ra đều là những tấm hương
để người đang sống soi vào
Ta có thể không phải
một vị tướng tranh hùng
nhưng có thể đang tranh hơn thua
trong đời sống của mình
Ta có thể không có quyền sinh sát trong tay
nhưng vẫn có thể vì lợi ích
của mình mà làm tổn thương người khác
Ta có thể không phải
người giàu có
nhưng vẫn có thể dành quá nhiều năm tháng
để chạy theo những thứ
mà đến cuối cùng chẳng thể mang theo
Đó chính là
chiều sâu thế sự của Văn Chiêu Hồn
Nguyễn Du không đứng
ngoài cuộc đời để phán xét
con người
Ông đi qua những phận người
cúi xuống trước những nấm mồ vô danh
rồi từ đó nhìn lại toàn bộ kiếp người
Và có lẽ vì thế
tác phẩm dù viết về cái chết
lại không chìm trong tuyệt vọng
Nó bắt đầu bằng mưa lạnh
đi qua bóng tối
qua những bãi tha ma
qua tiếng than của cô hồn
nhưng cuối cùng lại hướng về
ánh sáng của lòng từ bi
Bà Khổ Quế
đưa chúng ta trở về với đàn trần tế
lễ vật không có gì quá lớn lao
chỉ là bát cháo
nén nhang
manh áo thoi vàng
nhưng đằng sau những vật nhỏ bé ấy
là một điều rất lớn
lòng người còn nhớ đến những người đã khuất
của có chi bát cháo nén nhang
gọi là manh áo thoi vàng
giúp cho làm của
ăn đường thăng thiên
Có thể những lễ vật ấy
không thể thay đổi quá khứ
không thể làm người chết sống lại
nhưng lòng thành và sự tưởng nhớ
khiến người sống biết dừng lại
trước cái chết
biết rằng mình đang đứng trong một dòng chảy
dài hơn cuộc đời
riêng của mình
và cuối cùng Nguyễn Du
khép lại bài văn tế bằng lời niệm
Nam mô Phật
Nam mô Pháp
Nam mô Tăng
độ cho nhất thiết siêu thăng thượng đài
đến đây toàn bộ bài văn tế
dường như đã đi hết một vòng
từ cõi dương sang cõi âm
từ những cuộc đời cụ thể
đến quy luật vô thường
từ nỗi đau đến lòng từ bi
từ cái chết đến sự thức tình
đó cũng là lý do
khiến Văn Chiêu Hồn
không chỉ là một bài văn tế
nó là một trong những tác phẩm hiếm hoi
mà ở đó Nguyễn Du đã đưa
cái nhìn nhân đạo của mình
đi đến tận cùng
Ông thương người không phải vì họ cao quý
hay thấp hèn, thành đạt hay thất bại
thiện hay bất thiện
Ông thương họ trước hết
vì họ là những con người
phải chịu một kiếp sống hữu hạn
phải đi qua đau khổ, mất mát
và cuối cùng là cái chết
và chính ở đây
câu hỏi
còn chi ai quý ai hèn
còn chi mà nói ai hiền
ai ngu
trở thành chìa khóa để đọc toàn bộ tác phẩm
khi còn sống
chúng ta dựng lên biết bao ranh giới
người này quý, người kia hèn
người này thành công, người kia thất bại
người này đáng trọng, người kia đáng khinh
nhưng trước cái chết
những ranh giới ấy không còn giữ được ý nghĩa
như chúng ta từng tưởng
điều còn lại
là một sinh mệnh
một sinh mệnh từng biết vui
từng biết đau
từng có những người mình yêu thương
từng có những điều mình mong muốn
từng mắc sai lầm, từng hy vọng, từng tuyệt vọng
và cuối cùng
phải rời khỏi thế gian
Nguyễn Dù nhìn thấy điều ấy
nên tiếng thương của ông
không dừng ở một tầng lớp nào
ông thương cả người quyền quý
lẫn kẻ hành khất
cả người chiến thắng lẫn kẻ bại trận
cả người giàu lẫn người nghèo
cả những người có tên tuổi
lẫn những người chết không ai biết tên
đó là lòng nhân đạo rất lớn của Nguyễn Dù
nhưng còn một điều lớn hơn nữa
ông không chỉ muốn chúng ta thương
những người đã chết
ông muốn chúng ta tỉnh trước khi
mình trở thành một trong những cô hồn ấy
bởi triều hồn
cũng có thể hiểu theo một nghĩa
sâu xa hơn
gọi một linh hồn đang ngủ quên
trở về với chính mình
con người có thể đang sống
mà tâm hồn đã ngủ quên trong danh lợi
có thể đang đi giữa cuộc đời
mà không biết mình
đang đi về đâu
có thể sở hữu rất nhiều thứ
nhưng lại đánh mất điều quan trọng nhất
có thể dành cả đời để tích lũy
mà quên mất cách yêu thương
có thể giữ một mối oán họn quá lâu
đến mức chính mình trở thành
người chịu khổ trước tiên
nếu vậy thì tiếng gọi của Nguyễn Dù
sau hơn 200 năm
vẫn còn nguyên sức lay động
trong giấc mê hua tình chiêm bao
tỉnh ra
không có nghĩa là từ bỏ cuộc đời
Nguyễn Dù chưa bao giờ bảo
con người phải quay lưng với thế gian
điều ông nhắc nhở
là đừng để những thứ vô thường
làm chủ một đời người
ta vẫn có thể làm việc
kiếm tiền, xây dựng sự nghiệp
chăm sóc gia đình, theo đuổi ước mơ
nhưng nếu hiểu rằng
tất cả đều có giới hạn
ta sẽ biết đặt chúng vào đúng vị trí
của mình
có lẽ khi ấy
con người mới thực sự biết sống
biết quý một bữa cơm gia đình
biết trân trọng một người còn đang ở bên mình
biết nói một lời tử tế
khi còn có thể
biết tha thứ cho những điều
nên được tha thứ
biết buông xuống những oán hận
đã quá lâu không còn ý nghĩa
và biết rằng
một ngày nào đó chính mình
cũng sẽ phải đi qua cây cầu
mà Nguyễn Dù đã gọi tên
Cầu Nại Hà
kẻ trước người sau
đọc văn triêu hồn
vì thế không nhất thiết phải nghĩ nhiều
về những bóng ma của cõi âm
có khi chỉ cần nghĩ về cách chúng ta
đang sống giữa cõi dương này
đã đủ
bởi người chết không còn cơ hội
sửa lại cuộc đời
còn chúng ta thì vẫn còn
đó có lẽ là điều quý giá nhất
mà tiếng gọi từ những nấm mồ vô danh
của Nguyễn Dù
muốn nói với người đang sống
ở một tầng suy tưởng khác
văn tế thập loại chúng sinh
còn gợi lên niềm mong mỏi
về một đấng giác ngộ
có thể cứu độ hết thạy chúng sinh
khiến não phiền rũ sạch
oán thù rửa không
phải chăng
đó cũng là khát vọng sâu xa nhất của con người
trước những khổ nạn của kiếp sống
được đánh thức khỏi mê lầm
được giải thoát khỏi những ràng buộc
của danh lợi, oán hận
và luân hồi
từ cách nhìn ấy
hình ảnh chuyển pháp luân
và lời nguyện phổ độ chúng sinh
có thể được liên tưởng như một biểu tượng
của con đường cứu độ
mà Nguyễn Dù đã gửi gắm
ở cuối tác phẩm