Bị Gọi Là Kẻ Giả Tạo, Ông Lão Nghèo Khiến Cả Trấn Ân Hận Muộn Màng: Chuyện Nhân Quả

Sống thuận tự nhiên
437 Người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Người xưa có cầu, trời đất có mắt, nhân quả không sai một lì.
Kẻ nào gieo gió át gạt báo, người nào chịu thiệt thòi mà giữ được tấm lòng ngay thẳng,
sớm muộn cũng được trời xanh bù đắp, nhưng đường đời thăm thầm.
Có những lúc người lương thiện bị dồn đến đường cùng mà vẫn chẳng thấy công lý đâu,
chỉ thấy nước mắt chạy xuống bàn tay chai sản.
Ở Trấn Tây Khê, dọc theo con sông Lạc Thủy Xanh Biếc,
có một tiệm mộc nhỏ nằm cuối phố, lọt thỏm giữa hai dãy nhà gạch gieo phong.
Tấm biển gỗ treo trước cửa đã phai màu, chỉ còn đọc mờ mờ ba chữ Bách Nghệ Đường.
Chủ tiệm là một chàng trai trẻ tên Bách Nghệ, tuổi trừng 27,
dáng người gầy gò nhưng đôi tay rắn chắc như gỗ lim.
Bách Nghệ một côi cha mẹ từ thủa lên ba cha chàng, là phu kéo gỗ,
chết vì cây đổ trong rừng sâu, mẹ chàng buồn phiền sinh bệnh, mất chưa đầy năm sau.
Chàng được Lão Tôn, một thợ mộc già lành nghề trong Trấn Nhận Nuôi,
truyền cho mọi ngón nghề gia truyền suốt 15 năm.
Lão Tôn trước khi nhắm mắt chỉ dặn một câu,
nghề mộc là nghề lương thiện, con giữ lấy cái tâm thì đôi tay sẽ không bao giờ phụ con.
Bách Nghệ khắc câu ấy vào lòng, ngày ngày cặm cụi bên đống phòi bảo.
Chàng có biệt tài trạm chỗ hoa văn tinh xảo,
đến mức người ta đồn rằng con rồng chàng khắc trên gỗ tưởng như sắp bay lên trời,
bông sen chàng trạm trên mặt tủ tưởng như còn phẳng phất mùi hương.
Nhưng tài hoa là thế, Bách Nghệ lại sống nghèo rớt mông tơi.
Tiệm mộc nhỏ xíu, dụng cụ cũ kỹ,
chàng chỉ nhận đóng bàn ghế cho dân thường, kiếm vài đồng bạc lẻ qua ngày.
Người trong chấn ai cũng khen tay nghề Bách Nghệ, nhưng chẳng mấy ai trả giá xứng đáng.
Chàng cũng chẳng biết mặt cả, ai trả bao nhiêu thì nhận bấy nhiêu, miệng cười hiền lành bảo.
Người ta cần thì mình làm, đâu nhất thiết phải tính toán.
Cuộc đời Bách Nghệ cứ thế lặng lẽ trôi,
cho đến khi một người đàn ông bước vào tiệm mộc nhỏ ấy,
và kể từ đó, bóng tối bắt đầu phụ xuống.
Người đàn ông ấy là Thẩm Phú Quý, chủ một xưởng mộc lớn nhất trấn Tây Khe.
Họ thẩm vốn xuất thân con nhà buôn gỗ,
cha để lại gia sản kết xù, cùng mối quan hệ rộng khắp Phủ Giang Nam.
Thẩm Phú Quý không giỏi tay nghề mộc,
nhưng lão giỏi một thứ mà Bách Nghệ cả đời không học được thuật dùng người và mánh khóe thương trưởng.
Lão thẩm mặt vuông, mắt nhỏ hiếp lại mỗi khi cười, trông có vẻ phúc hậu.
Nhưng ai ở gần lão lâu ngày đều biết, sau nụ cười ấy là cả một bụng toan tính.
Lão từng ép giá nhiều thợ mộc nhỏ trong vùng đến phá sản,
rồi mua lại xưởng của họ với giá rẻ mạt.
Hôm ấy, Thẩm Phú Quý bước vào tiệm Bách Nghệ,
mắt lão sáng rực khi nhìn thấy bức bình phong gỗ trạm sơn thủy đang dựng góc tiệm.
Lão sờ từng nét trạm, gật gù, tay nghề ngươi không tệ.
Ta có một hợp đồng lớn quan tri phụ, đặt làm một bộ bàn ghế cùng tủ thờ cho dinh thự mới.
Ngươi về làm cho xưởng ta, ta trả công hậu hính, Bách Nghệ ngần ngử.
Chàng vốn quen tự do, không thích bị ràng buộc.
Nhưng mùa đông năm ấy, lạnh cắt da cắt thịt.
Tiệm ế ẩm suốt 2 tháng, chàng còn nợ tiền thuốc cho bà Trương người hàng xóm già đã chăm sóc chàng từ nhỏ.
Nghĩ đến bà Trương ho từng cơn trên rừng bệnh, Bách Nghệ gật đầu.
Những ngày đầu ở xưởng thầm da, Bách Nghệ làm việc quên ăn quên ngủ.
Chàng dồn hết tâm huyết vào từng đường đục, từng nét trạm.
Bộ bàn ghế chàng làm ra tinh xảo đến mức thợ mộc trong xưởng ai nhìn cũng trầm trổ.
Đặc biệt là chiếc tủ thờ chàng trạm lên đó một đôi hạc đứng trên mây.
Mỏ ngậm cành tùng, sống động đến nỗi tưởng như gió thổi qua thì lông hạc sẽ bay.
Thẩm phú quý nhìn thấy, mắt lão sáng lên nhưng không phải ánh sáng của sự trân trọng mà là ánh sáng của lòng tham.
Ngày giao hàng cho quan chi phủ, thẩm phú quý không cho Bách Nghệ đi theo.
Láo đứng trước mặt quan, vỗ ngược khoe đó là tác phẩm do thợ cả xưởng thầm da.
Tức chính lão đích thân thiết kế và giám sát từng chi tiết.
Quan chi phủ khen ngợi hết lời, thưởng cho lão 50 lượng bạc.
Thẩm phú quý về xưởng, quăng cho Bách Nghệ vòn vẹn 3 lượng, bảo
Đây là công xứng đáng, ngươi chỉ là thợ làm thuê, đừng có đòi hỏi.
Bách Nghệ cắn môi nuốt giận, nhưng chàng tự nhủ mình là kẻ ăn nhờ ở đâu, không nên gây chuyện.
Chàng cầm 3 lượng bạc, mang về mua thuốc cho bà Trương.
Nhưng đó mới chỉ là khởi đầu.
Tiếng tăm xưởng mộc thẩm da nhờ bộ bàn ghế ấy mà vang dội khắp phủ giang nam.
Đơn đặt hàng, từ các nhà quyền quý đổ về tấp nập, thẩm phú quý nhận hết, rồi giao tất cả cho Bách Nghệ làm.
Chàng thợ mộc trẻ làm việc từ tờ mờ sáng đến khuya, tay phồng rộp, lưng đau cứng, mà tiền công lão thẩm trả mỗi lần là ít đi.
Kinh tế khó khăn, ngươi nên biết điều.
Lão nói, giọng thản nhiên như không.
Tệ hơn, thẩm phú quý bắt đầu cấm Bách Nghệ tiếp xúc với khách hàng.
Lão ra lệnh cho người trong xưởng, ai dẫn khách đến gặp Bách Nghệ sẽ bị đùa việc.
Lão muốn tất cả mọi người tin rằng tay nghệ thần sầu ấy là của xưởng thẩm gia, chứ không phải của một thợ mộc vô danh nào.
Có một lần, một thương nhân từ phủ Lạc Dương ghé xưởng.
Tình cờ nhìn thấy Bách Nghệ đang chạm khắc trong góc xưởng tối, liền trầm trổ khen ngợi, hỏi tên chàng.
Bách Nghệ chưa kịp đáp thì thẩm phú quý đã vội kéo vị thương nhân ra ngoài.
Nói nhỏ, tên ấy chỉ là thợ phủ, làm mấy việc vặt thôi, tác phẩm chính đều do ta thiết kế.
Vị thương nhân tin lời, gật gù bỏ đi. Bách Nghệ đứng trong góc tối, cắn chặt môi đến bật máu.
Chưa hết, lão thẩm còn cô lập Bách Nghệ với những thợ mộc khác trong xưởng.
Lão dì tai mọi người rằng Bách Nghệ tính tình kỳ quặc, khó gần.
Dần dần, cả xưởng chẳng ai muốn nói chuyện với chàng.
Bách Nghệ trở thành một cái bóng ngày ngày đục đéo trong yên lặng, ăn cơm một mình ngoài hiên sau, ngủ trong kho gỗ ẩm thấp.
Một lần, Bách Nghệ vô tình nghe được thẩm phú quý nói với con trai, thằng Bách Nghệ ấy là con trâu cải.
Cứ để nó cải, ta gặt, khi nào nó kiệt sức thì đuổi đi, tìm con trâu khác.
Câu nói ấy như nhát dao cắt vào ngực Bách Nghệ.
Chàng đứng sau bức vách, hai tay nắm chặt, mắt đỏ hue.
Nhưng chàng vẫn không bỏ đi, bởi bà Trương bệnh ngày càng nặng.
Chàng cần tiền, dù chỉ là mấy đồng bạc lẻ lão thẩm quăng cho, rồi đến sự kiện khiến Bách Nghệ gần như gục ngá.
Phủ Giang Nam mở hội thi tay nghề mộc.
Giải nhất được tặng biển vàng, thần mộc đương thời và một trăm lượng bạc.
Thẩm phú quý ép Bách Nghệ làm một tác phẩm dự thi, nhưng ghi tên người dự thi là chính lão.
Bách Nghệ cắn răng chạm khắc một bức tượng quan âm bằng gỗ huỳnh đàn, từng nếp áo mềm mại như lụa.
Khuôn mặt từ bi đến mức ai nhìn cũng muốn chắp tay.
Tác phẩm ấy đoạt giải nhất.
Thẩm phú quý ôm biển vàng, cười ha hạ trước mặt cả trấn.
Bách Nghệ đứng trong đám đông.
Nhìn thành quả của mình bị người khác chiếm đoạt, nước mắt lặng lẽ rơi mà không ai hay.
Đêm ấy, chàng về tiệm mộc cũ nơi giờ đã phủ đầy bụi vì lâu ngày không mở cửa.
Chàng ngồi trên chiếc ghế cha nuôi để lại.
Nhìn bộ đồ nghề cũ kĩ treo trên vách, lòng trống hoác như căn tiệm vắng lạnh này.
Biến cố đến vào một buổi sáng mùa thù, khi quan tuần phủ Giang Nam Lý Chính Ngôn vi hành qua trấn Tây Khe.
Lý Tuần Phủ là người nổi tiếng thanh liêm, yêu nghệ thuật.
Ông nghe danh thần mộc, thẩm phú quý, bèn ghé sưởng thẩm ra xem tay nghề.
Thẩm phú quý mừng như bắt được vàng, sai người bày viện tiếp đón long trọng.
Lão dẫn tuần phủ đi xem khắp sưởng.
Chỉ vào từng tác phẩm, kể vanh vách từng chi tiết như thể do chính tay mình làm ra.
Lý Tuần Phủ gợt gủ, rồi bất trợt dừng lại trước một chiếc tủ đang làm dở.
Ông nhớ mày.
Lão thẩm, người chạm thử cho ta xem một bông hoa mẫu đơn trên miếng gỗ này.
Thẩm phú quý tái mặt.
Lão lắp bắp, bẩm.
Hôm nay tay thần hơi đau, e rằng.
Không cần đẹp, ta chỉ muốn xem đường đục cơ bản thôi.
Lý Tuần Phủ mỉm cười, nhưng ánh mắt sắc như dao.
Thẩm phú quý cầm đục lên, tay run lẩy bậy.
Lão đục được vài nhát thì miếng gỗ nứt toác.
Mồ hôi lão túa ra như tắm.
Đúng lúc ấy, một thợ mộc già trong sưởng Lão Châu bước tới quỳ xuống trước mặt Tuần Phủ.
Bẩm quan lớn, tiểu nhân xin nói thật.
Tất cả những tác phẩm tinh xạo trong sưởng này đều do một người làm ra bách nghệ.
Chủ sưởng chỉ đứng tên nhận công.
Lão Châu đã 70 tuổi, làm ở sưởng thầm gia hơn 20 năm.
Lão tận mắt chứng kiến, bách nghệ bị đối xử như nô bộc.
Tận mắt thấy tài hoa của chàng bị cướp trắng.
Lão nhiều lần muốn lên tiếng, nhưng sợ liên lụy đứa cháu nhỏ phải nuôi.
Nhưng hôm nay, nhìn thấy Tuần Phủ vi hành.
Lão biết đây là cơ hội duy nhất.
Bàn tay nhanh nheo run lên khi quỳ xuống.
Nhưng giọng láo vững vàng, từng chữ rõ ràng như đóng đinh vào gỗ.
Thẩm phú quý gầm lên.
Lão già lầm cầm.
Người đâu lôi nó ra ngoài cho ta.
Nhưng Lý Tuần Phủ dơ tay ngăn lại.
Ông sai người đi tìm bách nghệ.
Chàng thợ mộc trẻ được dẫn đến.
Quần áo lấm lem muồn cưa.
Giáng người gầy hơn trước nhiều.
Tuần Phủ đưa cho chàng một khúc gỗ và con dao chạm.
Người chạm cho ta một con cá chép.
Bách nghệ cầm dao, không nói một lời.
Chàng chạm.
Mười lăm phút sau.
Một con cá chép vầy bạc hiện ra trên mặt gỗ.
Đuôi vẫy như đang quẩy nước.
Mắt tròn long lanh tưởng như sống thật.
Mọi người trong xưởng ổ lên kinh ngạc.
Lý Tuần Phủ đứng dậy.
Nhìn thẩm phú quý, giọng lạnh như băng.
Giờ ta đã biết ai là thần mộc thực sự.
Từ sau ngày ấy, mọi thứ sụp đổ dưới chân thẩm phú quý.
Lý Tuần Phủ ra lệnh thu hồi biển vàng,
thần mộc đương thời mà lão thẩm đã treo giữa xưởng suốt bao tháng.
Quan sai lính đến tận nơi gỡ biển giữa thanh thiên bạch nhật.
Trước mặt hàng trăm người dân trấn tay khề.
Thẩm phú quý đứng nhìn.
Mặt tái như chạm đổ.
Hai chân run lẩy bẩy muốn khịu xuống.
Biển vàng ấy.
Thứ lão vỗ ngực khoe khắp nơi.
Giờ bị lột đi như lột mặt nạ trên khuôn mặt gian trá.
Tin đồn lan nhanh hơn lửa cháy rừng.
Khắp phủ giang nam.
Người ta xì sao rằng thần mộc thẩm phú quý
hóa ra chỉ là kẻ cướp công người khác.
Những gia đình quyền quý từng đặt hàng xưởng thẩm gia lần lượt gửi thư hủy hợp đồng.
Có người còn đòi lão trả lại tiền.
Bảo rằng đã bị lừa dối.
Thẩm phú quý cuống cuồng chạy vẩy.
Mang vàng bạc đến cửa quan cố mua chuộc.
Lý tuần phủ.
Nhưng vì quan thanh liêm ấy sai lính đuổi lão ra.
Quát.
Người cướp công lao của người khác.
Lại còn dám mang tiền đến hối lộ.
Thêm tội nữa.
Lý tuần phủ ra lệnh điều tra toàn bộ hoạt động kinh doanh của xưởng thẩm gia.
Sổ sách lật ra.
Người ta phát hiện lão thẩm không chỉ cướp công bách nghệ lão còn trốn thuế.
Ép giá gỗ từ tiểu phu nghèo.
Và cho vai nặng lái với nhiều thợ mộc nhỏ.
Để rồi chiếm đoạt xưởng của họ.
Khi không trả nổi nợ.
Tội trong tội.
Quan phủ ra lệnh phong tọa xưởng thẩm gia.
Tịch thu tài sản để bồi thường cho những người bị hại.
Thẩm phú quý gục ngá.
Từ một phú thương giàu có nhất trấn.
Trong chưa đầy 2 tháng.
Lão trắng tay.
Dinh thự bị niêm phong.
Gia nhân bỏ đi.
Vợ lão vốn là con gái nhà quan huyện cũ mang con về ngoài.
Để lại cho lão tờ giấy ly hôn lạnh lùng.
Nhưng quả báo chưa dừng ở đó.
Thẩm phú quý từ nhỏ vốn mắc tật ham hư danh.
Cha lão.
Luôn chê lão bất tải.
So sánh lão với đứa con nuôi lanh lợi.
Nỗi tự ti ấy ăn sâu vào xương tủy.
Biến thành lòng tham danh vọng không đáy.
Lão cướp công.
Gian lận.
Đạp lên người khác để leo cao.
Nhưng cái giá cho sự gian dối ấy.
Giờ đã đến lúc phải trả.
Một đêm mưa gió.
Thẩm phú quý ngồi trong căn phòng chống hoác.
Nhìn đôi bàn tay mình.
Đôi bàn tay chưa bao giờ biết cầm đục.
Cầm bào và bật khóc.
Lão khóc không phải vì mất tiền.
Mất nhà.
Mất vợ con.
Lão khóc vì lần đầu tiên trong đời.
Nhận ra mình thực sự chẳng có gì.
Tất cả những gì lão từng có.
Đều là giả danh tiếng giả.
Tài năng giả.
Cả sự tôn trọng mà người đời dành cho lão cũng giả nốt.
Còn Bách Nghệ.
Ngày ấy cuộc đời chàng sang trang.
Lý tuần phủ đích thân trao biển vàng.
Thần mộc đương thời cho Bách Nghệ.
Trong một buổi lễ nhỏ tại phù đường.
Nắng thu dịu dàng dọi qua sân phủ.
Chiếu lên tấm biển vàng ống ánh.
Chàng thợ mộc quỳ nhận biển.
Nước mắt lan dài trên gương mặt sạm đen vì nắng gió.
Chàng không nói được lời nào.
Chỉ cuối đầu lại tạ.
Bao nhiêu năm tùy nhục.
Bao nhiêu đêm cắn răng nuốt nước mắt trong kho gỗ ẩm mốc.
Giờ rồn hết vào giọt nước mắt ấy mặn chát nhưng ấm nóng.
Như nỗi oan khuất cuối cùng đã được rửa sạch.
Từ đó.
Đơn đặt hàng đổ về cho Bách Nghệ như nước.
Quan lại.
Phú thương.
Thậm chí cả hoàng thân quốc thích từ Kinh Thành.
Cũng sai người đến đặt hàng.
Nhưng chàng không vội vàng mở xưởng lớn.
Không thuê hàng chục thợ làm ẩu.
Cho kịp tiến độ.
Chàng nhớ lời cha nuôi.
Giữ cái tâm.
Thì đôi tay không phụ mình.
Chàng thuê một cửa hiệu nhỏ ngay đầu chấn.
Tự tay làm từng sản phẩm.
Chậm mà chắc.
Mỗi món đổ đều mang hồn cốt của người thợ chân chính.
Ai dục chàng làm nhanh.
Chàng lắc đầu cười hiền.
Gỗ có hồn.
Phải từ từ mới nghe được tiếng gỗ nói.
Chàng dùng những đồng tiền đầu tiên kiếm được.
Để mời thầy thuốc giỏi nhất Phủ Giang Nam.
Về chữa bệnh cho bà Trường.
Bà Lão nằm trên giường.
Run run nắm tay chàng.
Nước mắt chảy ướt gối.
Con à.
Bà biết sớm muộn trời cũng thương con.
Người tốt bụng không bao giờ bị bỏ rơi mãi đâu.
Bách Nghệ cũng không quên Lão Châu người thợ già đã liều mình nói sự thật trước mặt tuần phủ.
Sau ngày ấy.
Lão Châu bị sưởng thầm ra đuổi việc.
Sống cạnh không nhà không cửa.
Bách Nghệ đón Lão về.
Nhường cho Lão căn phòng tốt nhất trong cửa hiệu.
Ngày ngày pha trà hầu chuyện.
Lão Châu.
Nếu không có bác.
Cháu vẫn còn là con châu cày cho họ thầm.
Bách Nghệ nói.
Mắt đỏ hoe.
Lão Châu xua tay.
Ta già rồi.
Sống chẳng còn bao lâu.
Nhưng nhìn thấy người được đền bù xứng đáng.
Ta nhắm mắt cũng yên lòng.
Ba năm sau.
Tiệm một Bách Nghệ trở thành cái tên lẫy lừng khắp vùng Giang Nam.
Không chỉ vì tay nghệ.
Mà còn vì cách đối đải với thợ học việc.
Chàng trả công hậu hính.
Dạy nghệ tận tâm.
Không bao giờ giấu nghệ hay cướp công ai.
Chàng thường nói với lũ trẻ học nghệ.
Tay nghệ là của mình.
Không ai cướp được.
Nhưng nhân cách mới là thứ quý giá nhất mất nó rồi.
Thì có giỏi đến mấy cũng chỉ là cái xác không hồn.
Còn thầm Phú Quý.
Nghe nói sau ngày mất hết.
Lão lang thang khắp nơi.
Áo dách tạ tơi.
Sống nhờ bố thí.
Có người nhìn thấy lão ngồi trước cổng xưởng cũ.
Nơi giờ đã có mọc khoang miệng lầm bậm.
Tại ta.
Tại ta hết thảy.
Một lần.
Bách Nghệ tình cờ gặp lão thầm trên đường.
Lão gầy giọc.
Mắt trũng sâu.
Quần áo bẩn thiểu.
Nhìn thấy Bách Nghệ.
Lão cúi gầm mặt.
Muốn tránh đi.
Nhưng Bách Nghệ bước tới.
Đặt vào tay lão một túi bạc nhỏ.
Lão thầm.
Tiền này đủ để ông thuê một gian phòng trọ.
Và ăn uống vài tháng.
Chuyện cũ.
Thôi thì bỏ qua.
Thầm Phú Quý ngẩn đầu lên.
Đôi mắt đục ngầu bóng ứa lệ.
Lão muốn nói điều gì đó.
Nhưng cổ họng nghẹn cứng.
Lão chỉ biết lặng lẽ quỳ xuống.
Đập đầu ba cái trước mặt chàng thợ mộc.
Rồi ôm túi bạc bước đi.
Lưng còng gập.
Người xưa dạy.
Gieo nhân nào.
Gặt quả nấy.
Câu nói ấy nghe đơn giản.
Nhưng phải sống qua đau khổ.
Phải nếm trải oan khuất.
Người ta mới thấm thiế từng chữ.
Thầm Phú Quý cả đời xây danh vọng trên mồ hôi và nước mắt người khác.
Lão coi Bách Nghệ như con trâu cải.
Cướp công lao.
Dẫm đạp phẩm giá của chàng để leo cao.
Lão tưởng có tiền.
Có quyền.
Thì có thể che mắt thiên hạ mãi.
Nhưng lưới trời lồng lỏng.
Tuy thưa mà chẳng lọt.
Sự thật dù bị trôn vùi bao lâu.
Đến ngày cũng tự mình chui lên khỏi mặt đất.
Còn Bách Nghệ.
Chàng chịu đựng bao năm bất công.
Tủi nhục.
Cô độc.
Có lúc chàng muốn buông xuôi.
Nhưng đôi tay chai sạn ấy.
Không chịu dừng lại chúng cứ cầm dao.
Cầm đục.
Chạm từng nét hoa văn như thế đó là cách duy nhất để chàng giữ mình.
Không gục ngá.
Lời Phật dạy.
Nhẫn nhục là sức mạnh lớn nhất.
Người biết nhẫn nhịn không phải kẻ yếu hèn.
Mà là người đủ mạnh để chờ đợi công lý tự đến.
Bách Nghệ.
Không đánh trả.
Không trả thù.
Không oán hận.
Chàng chỉ lặng lẽ sống.
Lặng lẽ làm nghề.
Và để tay nghề của mình nói thay tất cả.
Cuối cùng.
Trời đất không phụ người lành.
Câu chuyện của Bách Nghệ và Thẩm Phú Quý là lời nhắc nhở.
Danh vọng xây trên gian dối.
Thì chỉ là lâu đài trên cát sóng tới là tan.
Chỉ có thực tài.
Và lòng ngay thẳng.
Mới là nền móng trường tộn.
Và có lẽ.
Điều đáng suy ngẫm nhất.
Không phải là quả bảo áo dáng xuống đầu kẻ ác.
Mà là tấm lòng của Bách Nghệ.
Khi chàng đặt túi bạc vào tay kẻ từng hại mình.
Chàng không tha thứ vì yêu đuối.
Không bố thí vì muốn trả thù bằng lòng thương hại.
Chàng hiểu rằng.
Oán thù là sợi dây chói người buộc dây cho kẻ khác.
Thì chính mình cũng bị chói theo.
Buông bỏ oán thù không phải là quên đi nỗi đau.
Mà là chọn không để nỗi đau ấy định nghĩa con người mình.
Vậy nên.
Giữa cuộc đời đầy cám dỗ này.
Bạn chọn làm Bách Nghệ lặng lẽ mài rúa bản thân.
Hay làm thẩm phú quý xây lâu đài bằng mồ hôi kẻ khác.
Rồi một ngày nhìn nó sụp đổ trước mắt.
Câu chuyện.
Khi Phật rơi lể.
Ai dám ngoảnh mặt.
Người xưa có câu.
Trời có mắt.
Đất có tai.
Nhân quả không trừa một ai.
Có những chuyện tưởng chừng hoang đường.
Nhưng khi xảy ra ngay trước mắt.
Kẻ cứng lòng nhất.
Cũng phải dùng mình.
Mà tự hỏi phải trăng trên đầu ba thước quả có thần linh.
Ở Trấn Thanh Hà.
Thuộc vùng đất phủ Giang Nam xưa.
Có một gia đình họ thẩm nổi tiếng giàu có bậc nhất vùng.
Lão gia thẩm Quang Vinh làm nghề buôn tơ lụa.
Gia sản đồ sộ.
Nhà ngói nam gian.
Sân gạch rộng thanh thang.
Hầu thiếp đầy nhà.
Nhưng thiên hạ đồn rằng.
Cái giàu của nhà họ thẩm.
Không phải do phúc đức tổ tiên để lại.
Mà do lão thẩm Quang Vinh nửa đời người lừa lọc.
Ép giá kẻ nghèo.
Cho vai nặng lái mà gom góp nên.
Là Tú Nhi con gái.
Một thầy thuốc nghèo ở thôn Lạc Thủy.
Nàng về làm dâu đã 3 năm.
Hiền thục nết na.
Sáng dậy quét sân.
Tối vào bếp nấu cơm.
Chưa một lần cãi lời mẹ chồng.
Lúc này Tú Nhi đang mang thai 7 tháng.
Bụng đã lớn.
Bước đi nặng nhọc.
Nhưng ngày nào cũng phải quỳ trước ban thờ Phật.
Trong phòng thờ lớn của nhà họ thẩm.
Để dân hương theo lệ nhà.
Bà thẩm.
Mẹ chồng nàng là người sùng Phật.
Nhưng lòng giả chẳng có chút tử bi.
Bà thờ Phật để cầu tài.
Cầu lộc.
Chứ chưa bao giờ hiểu 2 chữ.
Nhân quả.
Một đêm cuối đông.
Trời rét cắt ra cắt thịt.
Tú Nhi nằm trên chiếc giường gỗ mỏng manh.
Ở gian phòng hẹp phía sau nhà gian phòng.
Dành cho kẻ ở.
Nàng trợt mơ thấy một giấc mơ kỳ lạ.
Khói đen cuồn cuộn bốc lên từ nền nhà.
Bao trùm cả khu phòng thờ.
Và bức tượng Phật bằng gỗ trầm bảo vật của nhà họ thẩm.
Bỗng rơi 2 dòng nước mắt đỏ như máu.
Tú Nhi giật mình tỉnh giấc.
Mồ hôi đầm đìa.
Đứa con trong bụng đạp dữ dội.
Như muốn bảo hiệu điều gì đó.
Sáng hôm sau.
Tú Nhi gión rén kể giấc mơ cho chồng.
Là thẩm Thiên Bảo nghe.
Thiên Bảo là con trưởng nhà họ thẩm.
Tính tình nhu nhược.
Cả đời sống dưới cái bóng của cha mẹ.
Chưa bao giờ dám cãi lời ai.
Nghe vợ kể.
Chàng chỉ xua tay.
Nàng có mang nặng nên hay nghĩ vẩn vơ.
Đừng kể cho mẹ nghe.
Bà lại mắng trò.
Nhưng chuyện đời không giấu được.
Bà thẩm tên thật là Lý Thị tai thính như cáo giả.
Bà nghe con hầu thi thẩm về giấc mơ của Tú Nhi.
Lập tức gọi nàng dâu đến trước mặt.
Mày dám nói tượng Phật nhà ta khóc ra máu.
Lý Thị ngồi trên chiếc ghế gỗ trạm rồng.
Mắt lạnh như nước giếng mùa đông.
Mày muốn rùa nhà họ thẩm gặp họa hay sao?
Tú Nhi quỳ xuống.
Hai tay đặt lên bụng bầu.
Giọng run run.
Con không dám.
Thưa mẹ.
Con chỉ thấy trong mơ.
Không dám thêm bớt nửa lời.
Cầm miệng.
Lý Thị đập bàn.
Từ ngày mày bước chân vào nhà này.
Toàn mang chuyện xui xẻo đến.
Ba năm rồi mới chịu có mang.
Giờ lại bày đặt mơ mộng yêu ma.
Hay là cái thai trong bụng mày.
Cũng là thứ không sạch sẽ.
Câu nói ấy như nhát dao đâm thẳng vào ngực Tú Nhi.
Nàng cắn môi đến bật máu.
Nước mắt chảy dài.
Nhưng không dám khóc thành tiếng.
Thiên Bảo đứng bên cạnh.
Mặt tái nhợt.
Nhưng chỉ cúi đầu yên lặng.
Không nói lấy một lời bênh vực vỡ.
Từ hôm đó.
Lý Thị bắt đầu hành hạ Tú Nhi gấp bội.
Bà cho rằng giấc mơ ấy là điểm xấu.
Rằng nàng dâu mang nghiệp trướng vào nhà.
Rằng đứa bé trong bụng có thể là quỷ thai đầu thai.
Để phá hoại gia nghiệp nhà họ thầm.
Bà mời thầy cúng về Lão Triệu.
Một kẻ nửa thầy nửa bợm ở trấn bên để trấn yểm.
Lão Triệu đến.
Vừa bấm quẻ.
Rồi phán một câu khiến Tú Nhi như rơi xuống vực sâu.
Bầm bà lớn.
Cái thai này mang âm khí nặng.
Nếu không trấn yểm kịp.
E rằng gia đạo nhà họ thầm sẽ suy bại trong 3 năm.
Lý Thị nghe xong.
Mặt biến sắc.
Bà lập tức ra lệnh.
Tú Nhi phải dọn xuống ở gian bếp cũ.
Mỗi ngày chỉ được ăn một bữa cháo loãng.
Không được bước vào phòng thở.
Không được ngồi cùng mâm với gia đình.
Bà còn sai người khóa cửa phòng.
Không cho Tú Nhi ra ngoài sau giờ dậu.
Thầm Quang Vinh.
Ông lão già biết chuyện nhưng không can thiệp.
Ông chỉ nói gọn lọn.
Chuyện trong nhà.
Đàn bà lo.
Ta còn bận tính chuyến hàng tơ lụa cuối năm.
Với ông.
Tiền bạc luôn nặng hơn mạng người.
Những ngày sau đó.
Tú Nhi sống không khác gì tù nhân.
Gian bếp cũ ẩm thấp.
Mùa đông gió lùa qua kẽ vách.
Nàng co ro trên tấm chiếu rách.
Bụng bầu 7 tháng mà cơm không đủ no.
Nước không đủ ấm.
Đêm nào nàng cũng thầm khấn Phật.
Không phải cầu cho mình.
Mà cầu cho đứa con trong bụng được bình an.
Có một người duy nhất trong nhà họ thầm.
Thương xót Tú Nhi.
Đó là bà Hứa.
Người giúp việc già.
Đã phục vụ nhà họ thầm hơn 20 năm.
Bà Hứa lén mang cho Tú Nhi miếng bánh.
Chén canh nóng.
Rồi thì thầm.
Con dáng chịu.
Ông trời không phụ người hiền đâu.
Nhưng bà Hứa cũng chỉ là kẻ ăn người ở.
Dám nói nhiều thì bị đuổi.
Nên chỉ biết giúp trong thầm lặng.
Một hôm.
Tú Nhi đang lau sân gạch thì bỗng trượt chân ngá.
Nàng ôm bụng kêu đau.
Mặt trắng bệch.
Lý thị đứng trên hiên nhìn xuống.
Không hề động lòng.
Chỉ buông một câu.
Đứng dậy.
Đồ vô dụng.
Ngá một cái cũng không xong.
Thiên Bảo chạy đến đỡ vỡ.
Nhưng vừa chạm tay vào Tú Nhi.
Thì Lý thị quát.
Bảo.
Mày mà đụng vào con đàn bà mang âm khí ấy.
Ta từ mày luôn.
Thiên Bảo đứng trôn chân.
Hai tay buông thỏng.
Mắt đỏ hoe.
Nhưng rốt cuộc vẫn lùi lại.
Tú Nhi tự mình bò dậy.
Nước mắt rơi xuống nền gạch lạnh.
Từng giọt.
Như máu nhỏ từ trái tim đã nát.
Đêm ấy.
Tú Nhi lại mơ giấc mơ cũ.
Lần này rõ ràng hơn.
Khói đen không chỉ bốc lên từ phòng thờ.
Mà lan khắp cả ngôi nhà.
Bức tượng Phật rơi lệ.
Rồi từ từ nứt ra.
Trong vết nứt.
Một đóa sen trắng mọc lên.
Tỏa ánh sáng dịu dàng.
Và đứa con trong bụng nàng nàng cảm nhận rõ ràng đạp ba cái đúng lúc đóa sen nở.
Tú Nhi tỉnh dậy.
Lần đầu tiên sau bao ngày tùi nhục.
Nàng không khóc.
Nàng đặt tay lên bụng.
Thì thầm.
Con ơi.
Mẹ hiểu rồi.
Mẹ sẽ dáng vì con.
Chuyện kỳ lạ xảy ra vào đúng ngày giằm tháng chạp.
Hôm ấy.
Lý thị tổ chức lễ cúng lớn trong phòng thờ.
Mời cả hương thân.
Phú hộ trong trấn đến dự.
Bà muốn khoe bức tượng Phật gỗ trầm quý giá.
Muốn thiên hạ biết nhà họ thầm sùng đảo.
Tích đức.
Hương trầm nghi ngút.
Mâm cỗ bày la liệt.
Lý thị mặc áo gấm theo phưởng.
Quỳ trước tượng Phật đọc kinh sang sảng.
Giữa lúc ấy.
Bà hứa hớt hại chạy vào.
Mặt tái xanh.
Bà.
Bà lớn.
Tượng Phật.
Lý thị quay lại quát.
Cái gì mà âm ý?
Bà hứa run dậy chỉ tay lên bức tượng.
Mọi người ngước nhìn.
Và đồng loạt lùi lại kinh hãi.
Từ đôi mắt gỗ trầm của bức tượng Phật.
Hai dòng nước trong vắt đang chạy xuống.
Lăn dọc theo gò má gỗ.
Nhỏ từng giọt xuống bệ thờ.
Tượng Phật đang khóc.
Trời ơi!
Phật hiện linh.
Một bà hương thân kêu lên.
Quỳ sụp xuống.
Cả phòng thờ não loạn.
Người quỳ lại.
Kẻ bỏ chạy.
Tiếng kinh kẻ tắt ngấm.
Lý thị đứng trôn trân.
Mặt trắng như vôi.
Môi mắc máy không thành tiếng.
Đúng lúc ấy.
Tú Nhi từ gian bếp bước ra.
Nàng không biết chuyện gì xảy ra.
Chỉ nghe tiếng ồn ảo.
Nên lần ra xem.
Khi nàng bước đến cửa phòng thờ.
Bụng bầu lớn vượt mặt.
Tóc dối bời.
Áo vá chẳng vá đục.
Gương mặt xanh sao vì đói ăn thiếu ngủ.
Tất cả khách hứa đều xững lại.
Lão Trương một hương thân có tiếng nhân đức trong vùng nhìn Tú Nhi.
Rồi nhìn Lý thị.
Giọng trầm xuống.
Thẩm phu nhân.
Đây là ai?
Sao một người đàn bà mang thai lại tiều tụy đến vậy?
Trong một gia đình giàu có như nhà này.
Lý thị ấp úng.
Đây là?
Là con dâu nhà tôi.
Nó?
Nó có bệnh nên phải ở riêng.
Nhưng bà hứa người bao lâu nay nính nhịn bỗng quỷ xuống giữa phòng thờ.
Nước mắt tuôn rơi.
Kể hết mọi chuyện.
Giấc mơ của Tú Nhi.
Lời phán bậy của thầy cúng Lão Triệu.
Việc Lý thị nhốt nàng dâu mang thai trong gian bếp cũ.
Bỏ đói.
Hành hạ suốt mấy tháng trời.
Cả căn phòng lặn như tờ.
Rồi tiếng xì xào nổi lên từ nhỏ đến lớn như sóng vỗ bở.
Ánh mắt mọi người nhìn Lý thị.
Không còn kính nệ mà đầy phẫn nộ và khinh bị.
Lão Trương đứng dậy, giọng nghiêm nghị.
Phật rơi lệ.
Ấy là trời đất cảnh cáo kẻ bất nhân.
Thầm phu nhân.
Bà thờ Phật mà lòng dạ độc ác hơn lang xói.
Bà không sợ quả báo sao.
Lý thị lùi lại mấy bước.
Lần đầu tiên trong đời.
Bà cảm thấy sợ hãi không phải sợ người.
Mà sợ thứ gì đó vô hình đang nhìn bà từ đôi mắt rơi lệ của bức tượng gỗ trầm kia.
Sau ngày hôm ấy.
Tin tượng Phật rơi lệ trong nhà họ.
Thầm lan khắp trấn thanh hà như lửa cháy đồng.
Người ta kéo đến xem.
Bàn tán.
Xì vả.
Gia đình họ thầm từ chỗ được nể sợ.
Bỗng trở thành trò cười.
Thành tấm gương xấu xa cho cả vùng.
Thầm Quang Vinh lão già tức giận điên cuộng.
Nhưng ông không tức vì thương con dâu.
Mà tức vì mất mặt.
Ông gọi Lý Thị vào phòng.
Quát.
Bà làm mất danh dự cả dòng họ thầm.
Bao nhiêu mối làm ăn.
Ai còn dám hợp tác với nhà ta nữa.
Lý Thị cái.
Tôi làm gì sai.
Tôi trấn yểm cái thai xấu để bảo vệ gia đảo.
Bảo vệ.
Thầm Quang Vinh cười gần.
Bà trấn yểm đến mức cả trấn coi nhà ta là loài cầm thú.
Hai vợ chồng lão già cãi nhau kịch liệt.
Trong lúc tức giận.
Thầm Quang Vinh lên cơn đau ngược căn bệnh tim mà ông giấu bấy lâu bỗng phát tác.
Ông ngã vật xuống sàn.
Miệng méo sạch.
Tay chân co giật.
Người nhà vội mời thầy thuốc.
Nhưng thầy thuốc giỏi nhất trấn thanh hà lắc đầu.
Bệnh này đã tích tụ lâu năm.
Giờ phát ra thì khó cứu.
Lão già nếu may mắn sống sót.
Cũng liệt nửa người.
Thầm Quang Vinh nằm liệt giường từ đó.
Ông kẻ cả đời chỉ biết tiền giờ nằm bất động.
Mắt trừng trừng nhìn trần nhà.
Không nói được.
Không cử động được.
Chỉ biết rơi nước mắt.
Gia sản đồ sộ.
Mà ông gom góp cả đời bỗng chốc.
Như đống cho tàn không ai quản lý.
Kẻ hầu người hạ bắt đầu ăn cắp.
Đối tác quay lưng.
Nợ nần trồng chất.
Lão Triệu tên thầy cũng bịp bợm cũng không thoát.
Sau vụ tượng Phật rơi lệ.
Người ta đào lại quá khứ của hắn.
Phát hiện hắn đã lừa không biết bao nhiêu gia đình.
Bằng những lời phán biệt đặt.
Có nhà vì tin lời hắn.
Mà vứt bỏ con gái mới sinh.
Có nhà phá tan hôn sự tốt đẹp.
Quan Tri huyện nghe chuyện.
Sai người bắt Lão Triệu về phủ xét hỏi.
Lão bị đánh 30 trường.
Đuổi khỏi vùng.
Từ đó lang thang khất thực.
Cuối cùng chết bên đường trong một đêm mưa báo.
Không ai thương xót.
Con Lý Thị và mẹ chồng tàn nhẫn quả báo.
Đến với bà theo cách đau đớn nhất.
Sau khi chồng liệt dường.
Bà phải một mình gánh vác gia đình.
Nhưng bao năm bà đối xử tệ bạc với kẻ ăn người ở.
Giờ không ai chịu giúp bà.
Người hầu bỏ đi gần hết.
Con trai thiên bảo.
Vốn nhu nhược cũng không đủ sức gánh vác.
Gia sản cạn dần.
Nhà ngói năm gian phải bán đi hai gian để trả nợ.
Nhưng điều khiến Lý Thị đau đớn nhất không phải là mất tiền.
Mà là.
Khi Tú Nhi sinh con một bé trai khỏe mạnh.
Khôi ngô tuấn tú.
Khóc vang cả gian nhà cả trấn thanh hà.
Kéo đến chúc mừng.
Lão Trương mang đến một tấm lụa đỏ.
Nói.
Đứa bé này là Phúc Tinh.
Là đoá sen mọc từ buồn.
Câu nói ấy khiến Lý Thị nhớ lại giấc mơ của Tú Nhi.
Đoá sen trắng mọc từ vết nứt của tượng Phật.
Bà bỗng hiểu rằng giấc mơ ấy không phải điềm xấu.
Mà là điềm lành.
Đứa bé trong bụng Tú Nhi không phải quỷ thai.
Mà là Phúc Báo.
Và bà bằng sự tham lam.
Tàn nhẫn.
Mê tín.
Mù quáng.
Đã suýt hủy hoại Phúc Báo ấy bằng chính đôi tay mình.
Lý Thị quỷ trước phòng Tú Nhi.
Đầu cúi sát đất.
Khóc nức nở.
Con ơi.
Mẹ sai rồi.
Mẹ có mắt mà không thấy.
Có tai mà không nghe.
Có lòng mà để cho tham độc che lấp hết.
Mẹ xin con tha thứ.
Tú Nhi nhìn mẹ chồng người đàn bà.
Từng hành hạ mình suốt bao tháng trời.
Giờ đầu bạc quá nửa.
Lưng cỏng.
Mắt trũng sâu vì mất ngủ.
Gương mặt giả sọm đi mười tuổi.
Nàng yên lặng một lúc lâu.
Rồi nhẹ nhàng nói.
Con không oán mẹ.
Con chỉ mong từ nay.
Mẹ thờ Phật bằng tâm.
Đừng thờ Phật bằng miệng nữa.
Câu nói ấy nhẹ nhàng mà nặng như núi Thái Sơn.
Thiên Bảo chàng con trai nhu nhược cũng quỷ xuống bên vợ.
Nắm tay nàng.
Lần đầu tiên nói một câu đàng hoàng.
Tú Nhi.
Ta có lỗi với nàng.
Từ nay.
Ta sẽ tự mình đứng dậy.
Không để nàng phải chịu khổ thêm nữa.
Những tháng sau đó.
Nhà họ thẩm không còn giàu có như xưa.
Nhưng lạ thay.
Lại bình yên hơn bao giờ hết.
Tú Nhi chăm con.
Chăm chồng.
Chăm cả mẹ chồng và cha chồng.
Nằm liệt giường không một lời oán trách.
Thiên Bảo bỏ thói ý lại.
Bắt đầu tự tay làm lụng.
Buôn bán nhỏ nuôi gia đình.
Lý thị thì mỗi ngày quỳ trước tượng Phật.
Bức tượng đã ngừng rơi lệ.
Từ ngày Tú Nhi sinh con niệm kinh xám hối.
Không còn cầu tài cầu lọc.
Chỉ cầu cho mình bớt tội.
Bà hứa người giúp việc già trung thành.
Được Tú Nhi giữ lại.
Đối đãi như người thân trong nhà.
Bà ôm đứa bé trai.
Cười mà nước mắt chảy.
Ta nói rồi mà.
Ông trời không phụ người hiền.
Đứa bé trai được đặt tên là Thẩm Phúc Lai.
Nghĩa là Phúc Đức trở lại.
Cả Trấn Thanh Hà đều nói.
Đứa bé ấy chính là đóa sen mà Tú Nhi nhìn thấy trong giấc mơ.
Mọc lên từ bùn lầy nhà họ thẩm.
Tỏa hương thơm ngát.
Xóa đi bao nghiệt trướng mà cha ông nó đã dèo.
Người xưa dạy.
Nhân nạo quả nấy.
Dèo gió gạt báo.
Nhưng câu chuyện nhà họ thẩm.
Còn dạy thêm một điều sâu xa hơn.
Rằng quả báo không chỉ là sự trừng phạt.
Mà còn là lời cảnh tịnh.
Trời đất không muốn hủy diệt ai.
Chỉ muốn kẻ lầm đường lạc lối biết quay đầu.
Lý thị thờ Phật cả đời mà không hiểu Phật.
Bà đốt hương.
Dân lễ.
Tụng kinh.
Nhưng trong lòng đầy tham sân si.
Bà dùng Phật như tấm bình phong che đậy lòng dạ độc ác.
Nhưng Phật không phải tấm bình phong.
Phật là tấm gương xoay thấu lòng người.
Không che giấu được điều gì.
Lời Phật dạy.
Bồ tát sợ nhân.
Chúng sinh sợ quả.
Người trí tuệ sợ lúc gieo nhân xấu.
Nên cần trọng từng lời nói.
Từng hành động.
Kẻ phàm phu.
Chỉ sợ khi quả báo đến.
Lúc ấy thì đã muộn.
Lý thị thuộc hạng phàm phu bà.
Chỉ sợ khi tượng Phật rơi lệ.
Khi trồng nằm liệt.
Khi gia sản tan tành.
Nhưng may cho bà.
Trời còn cho bà cơ hội quay đầu đó.
Là Tú Nhi.
Là đứa cháu trai Phúc Lai.
Là tấm lòng bao dung của người con dâu.
Mà bà từng đối xử tệ bạc nhất.
Còn Tú Nhi.
Nàng là minh chứng cho chân lý.
Người hiền không phải không gặp nạn.
Nhưng nạn không thể nhấn chìm người hiền.
Nàng chịu đựng không phải vì yếu đuối.
Mà vì nàng tin tin vào lẽ công bằng của trời đất.
Tin vào sức mạnh của lòng thiện.
Và đứa con trong bụng nàng bằng những cú đạp.
Bằng giấc mơ kỳ lạ.
Đã gửi đến nàng lời cảnh báo sinh tự.
Như thể linh hồn bé nhỏ ấy.
Mang theo sứ mệnh từ kiếp trước.
Cứu mẹ.
Cứu cả nhà họ thầm.
Khỏi vực sâu nghiệp trướng.
Có câu tục ngữ xưa rằng.
Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng.
Người muốn tránh mà nghiệp chẳng buông.
Nhà họ thầm bao đời gieo nghiệp ác cho vai nặng lái.
Ép kẻ nghèo.
Đối xử tệ bạc với người trong nhà.
Thì quả báo át phải đến.
Nhưng giữa bao nghiệp trướng ấy.
Một đóa sen vẫn mọc lên.
Đóa sen ấy là Tú Nhi.
Là Phúc Lai.
Là lòng từ bi.
Mà dù bùn lầy có sâu đến đâu.
Cũng không thể vùi lấp được.
Vậy nên.
Hỡi những ai đang sống trên đời.
Hãy tự hỏi lòng mình.
Ta đang thở Phật bằng tâm hay bằng miệng.
Ta đang gieo nhân lành hay nhân ác.
Và nếu một ngày.
Bức tượng Phật trong nhà ta bỗng rơi lệ.
Ta có đủ dũng khí để nhìn lại chính mình không?
Bởi lẽ.
Ông trời có đức hiếu sinh.
Nhưng lòng kiên nhẫn của trời đất.
Cũng có giới hạn.
Giọt nước mắt của Phật.
Ấy là lời cảnh cáo cuối cùng.
Trước khi nhân quả vận hành.
Xin đừng để quá muộn.
Câu chuyện.
Ngày xưa có câu.
Gieo nhân nào.
Gặt quả nấy.
Nhưng có những quả báo.
Không rơi xuống đầu kẻ gieo.
Mà rơi xuống đầu người thân yêu nhất của hắn.
Đó mới là thứ nghiệp trướng.
Đáng sợ nhất trên đời.
Không giết thân.
Mà giết tâm.
Ở thôn Lạc Thủy.
Phía nam Trấn Tây Khe.
Có một láo nông tên Chu Đức Hậu.
Ai trong vùng nhắc đến láo.
Cũng đều gật đầu kính nể.
Sáng nào láo cũng dậy từ canh tư.
Thắp ba nén hương trước bàn Phật.
Quỳ gối tụng kinh di đà.
Miệng lầm nhầm lời nguyện cầu phúc cho con cháu.
Mái tóc lão đã bạc quá nữa.
Lưng còng vì hàng chục năm cải quốc.
Nhưng đôi mắt lúc nào cũng hiền tử.
Đôi tay lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ láng giềng.
Người ta bảo Lão Chu là người phúc đức nhất thôn.
Nhưng trời xanh có mắt.
Sao lại để cho đứa con trai duy nhất của Lão Chu Minh Nghĩa.
Một thư sinh hiền lành.
Hiếu thảo phải chết cháy trong đám lửa giữa đêm khuya.
Đêm ấy.
Ngọn lửa bùng lên từ căn phòng chứa dơm phía sau nhà thầy thuốc họ thẩm.
Nuốt chừng cả một dãy nhà chanh.
Chu Minh Nghĩa bị mắc kẹt trong đó.
Khi Lão Chu chạy đến.
Lão chỉ kịp nhìn thấy bóng con trai quản quải sau bức tường lửa đỏ rực.
Lão gào thét.
Lao vào bị hàng xóm kéo lại.
Đôi tay Lão bỏng rộp.
Đầu gối Lão khụy xuống mặt đất lạnh.
Nén hương trên bàn Phật ở nhà vẫn chưa cháy hết.
Vậy rốt cuộc.
Ai đã châm ngọn lửa ấy?
Và tại sao Minh Nghĩa?
Ngọn lửa bùng lên từ căn phòng chứa dơm nhà họ thẩm giữa đêm khuya.
Câu trả lời nằm ở một chuỗi tội ác kéo dài suốt nhiều năm.
Được giấu kín sau lớp mặt nạ đạo đức giả của kẻ.
Mà cả thôn Lạc Thủy từng gọi là Đại Thiện Nhân.
Thẩm Quang Vinh.
Chủ tiệm thuốc Tế Sinh Đường.
Là nhân vật có tiếng nhất trấn Tây Khề.
Hắn xuất thân từ một gia đình thầy thuốc ba đời.
Thừa kế cơ nghiệp từ cha.
Mở rộng tiệm thuốc thành cơ sở lớn nhất vùng.
Ngoài mặt.
Hắn luôn mặc áo bào chỉnh tề.
Miệng nói lời từ bi.
Tay bốc thuốc cho người nghèo không lấy tiền.
Mỗi dịp dầm.
Hắn đều cúng giường Chùa Linh Ẩn trên núi.
Quyên bạc cho dân nghèo.
Khiến ai nấy đều ca ngợi.
Nhưng ít ai biết rằng.
Phía sau cánh cửa gỗ sơn son kia.
Thẩm Quang Vinh là một kẻ tham lam đến tận Sương Tủy.
Hắn bốc thuốc miễn phí cho người nghèo.
Nhưng toàn là thứ thuốc rẻ tiền.
Giảm liều.
Thậm chí pha trộn tạp chất.
Rồi dần dần thành kẻ mang ơn hắn suốt đời.
Còn thuốc tốt.
Thuốc quý.
Hắn chỉ bán cho nhà giàu.
Với giá cắt cổ.
Hắn quyên bạc cho Chùa.
Nhưng thực chất là dùng tiền ấy để mua sự tín nhiệm của chủ trị.
Rồi nhờ nhà Chùa đứng ra bảo lãnh cho hắn mua đất.
Thâu tóm ruộng vườn của dân nghèo.
Lão Chu Đức Hậu.
Chính là một trong những ngại nhân đầu tiên.
Ba năm trước.
Vợ Lão Chu lâm bệnh nặng.
Láo ôm vợ đến Tế Sinh Đường.
Xin chữa trị.
Thẩm Quang Vinh niềm nờ đón tiếp.
Bắt mạch kê đơn.
Miệng nói.
Lão Huynh yên tâm.
Bệnh này chữa được.
Tôi không lấy tiền.
Nhưng thuốc hắn kê toàn là thứ tầm thường.
Bệnh tình bà Chu không thuyên giảm.
Mà ngày càng nặng hơn.
Khi Lão Chu quay lại hỏi.
Hắn lại kê thêm đơn mới lần này đòi tiền.
Mà giá đắt gấp mấy lần bình thường.
Lão Chu cắn răng bán đi hai mẫu ruộng tốt nhất để chạy chữa cho vợ.
Nhưng bà Chu vẫn qua đời.
Hai mẫu ruộng ấy.
Thẩm Quang Vinh mua lại qua tay một hương thân thân tín.
Với giá rẻ mạt.
Lão Chu đau đớn.
Nhưng không hề nghi ngờ.
Lão chỉ nghĩ mệnh vợ mình bạc.
Tự trách bản thân.
Không đủ phúc đức để giữ người.
Đứa con trai Chu Minh Nghĩa.
Lúc ấy mới 16 tuổi.
Chàng trai thông minh.
Hiếu học.
Được thầy đồ trong làng khen người.
Nhưng nhà nghèo.
Không có tiền đi thi.
Minh Nghĩa đành xin vào tế sinh đường làm người bốc thuốc.
Học nghề.
Thẩm Quang Vinh nhận lời.
Vì hắn thấy Minh Nghĩa lanh lợi.
Có thể sai vặt được nhiều việc.
Nhưng càng ở lâu trong tiệm thuốc.
Minh Nghĩa càng phát hiện ra những điều khuất tất.
Chàng thấy Thẩm Quang Vinh bí mật pha thuốc giả.
Thay đổi thành phần trong các đơn thuốc quý.
Chàng thấy hắn thu tiền của bệnh nhân nghèo.
Rồi ghi sổ là miễn phí.
Chàng thấy hắn ép buộc những người mắc nợ phải gán đất.
Gán nhà.
Một lần.
Chàng vô tình chứng kiến Thẩm Quang Vinh đánh đập một lão bộc giả.
Vì dám lỡ tay làm vỡ bình xứ hắn đánh bằng thước gỗ.
Đánh đến khi lão bộc ngất xỉu mới thôi.
Rồi quay ra rửa tay.
Uống trà.
Như chẳng có chuyện gì.
Minh Nghĩa sợ hái.
Nhưng chàng không dám nói.
Chàng biết nếu tố cáo.
Không ai tin lời một đứa trẻ nhà nghèo.
Chống lại đại thiện nhân của cả trấn.
Chàng chỉ âm thầm.
Ghi chép lại mọi thứ vào một cuốn sổ nhỏ.
Giấu dưới đáy hòm gỗ ở nhà.
Cho đến một đêm.
Chàng phát hiện ra bí mật lớn nhất.
Phía sau tiệm thuốc.
Trong căn phòng chứa dơm.
Mà thẩm Quang Vinh luôn khóa trái.
Có một hầm ngầm.
Bên trong hầm chứa đầy bạc nén.
Vàng lá tất cả là tài sản hắn bóc lột từ dân nghèo suốt mấy chục năm.
Giấu kín không khai báo với quan phụ để trốn thuế.
Ngoài ra.
Còn có mấy cuốn sổ ghi chép giao dịch mua bán thuốc viện lẩu với thương nhân ngoại quốc.
Minh Nghĩa run rời.
Chàng biết mình đang cầm trong tay thứ có thể lật đổ cả đế chế giả dối của thẩm Quang Vinh.
Nhưng chàng cũng biết nếu hắn phát hiện.
Chàng sẽ chết.
Và hắn đã phát hiện.
Một tối.
Khi Minh Nghĩa lèn vào phòng chứa dơm.
Để chép lại nội dung cuốn sổ.
Tên gia nhân thân tín của thẩm Quang Vinh một gá tên hứa bá bắt gặp.
Hứa bá lập tức báo cho chủ.
Thẩm Quang Vinh nghe xong.
Mặt hắn tái đi.
Hắn ngồi yên lặng trong thư phòng suốt nửa canh giờ.
Uống hết ba chén trà.
Rồi từ tố nói với hứa bá.
Đêm nay.
Đốt phòng chứa dơm.
Đốt sạch.
Mọi thứ bên trong kể cả thằng nhóc ấy.
Đêm ấy.
Trăng non mờ nhạt.
Gió bắc thổi xe sắt.
Minh Nghĩa bị hứa bá lừa quay lại phòng chứa dơm.
Với lý do.
Lão gia muốn giao thêm việc kiểm kê dược liệu.
Khi chàng vừa bước vào.
Cánh cửa gỗ nặng nề đóng sập lại phía sau.
Tiếng khóa sắt vang lên khô khốc.
Rồi mùi dầu hỏa sộc lên.
Nhưng những bức tường đất dày đặc nuốt chừng mọi âm thanh.
Ngọn lửa bùng lên từ bốn phía.
Dơm khô cháy dần dật.
Khói đen cuồn cuộn.
Chàng cố phá cửa.
Nhưng không nổi cánh cửa được chốt bằng thanh sắt từ bên ngoài.
Lão Chú Đức Hậu đang quỳ trước bàn Phật ở nhà.
Tụng kinh như mọi đêm.
Bỗng lão nghe tiếng người hô hoán.
Cháy.
Cháy nhà thầm ra.
Lão vội vàng chạy ra.
Và khi đến nơi.
Lão nhìn thấy ngọn lửa đã nuốt trọn căn phòng chứa dơm.
Giữa đám lửa.
Lão nghe thấy tiếng gào tiếng con trai láo.
Cha ơi.
Cha cứu con.
Lão Chú lao vào.
Hàng xóm kéo lại.
Lão vùng vẫy.
Gào khóc.
Đôi tay bỏng rộp vì cố bám vào cánh cửa đang cháy đỏ.
Nhưng không ai phá nổi.
Thanh sắt chốt cửa.
Nó đã nóng giựt như thanh hồng.
Khi ngọn lửa tàn.
Người ta tìm thấy thi thể minh nghĩa co quắp giữa đống cho tàn.
Trong tay.
Chàng vẫn còn nắm chặt mấy trang giấy cháy dở những ghi chép về tội ác của Thẩm Quang Vinh.
Nhưng không ai đọc được.
Lửa đã thiêu gần hết.
Thẩm Quang Vinh đứng trước đám cháy.
Mặt hắn bình thạn như đá.
Hắn thở dài.
Vút trọng râu.
Rồi nói với mọi người.
Ôi.
Thật đáng tiếc.
Chắc thằng nhóc bất cần làm đồ đèn dầu.
Tôi đã nhắc nó bao nhiêu lần phải cẩn thận khi vào phòng chứa dơm.
Hắn còn bỏ ra mấy lạng bạc.
Đưa cho Lão Chu để lo hậu sự cho cháu.
Lão Chu đức hậu.
Quỳ bên thi thể con trai.
Nước mắt chảy ướt đẫm khuôn mặt nhăn nheo.
Lão không khóc thành tiếng.
Lão chỉ run dậy.
Hai tay ôm chặt đứa con đã hóa thành than.
Miệng lầm bẩm.
Nghĩa ơi.
Cha tụng kinh mỗi ngày.
Cha cầu phúc cho con mỗi ngày.
Sao trời lại nỡ.
Cả thôn lạc thủy thương xót Lão Chu.
Nhưng không ai nghi ngờ Thẩm Quang Vinh.
Hắn vẫn là đại thiện nhân.
Vẫn bóc thuốc.
Vẫn cúng chùa.
Vẫn được quan phụ khen ngợi.
Ngọn lửa đã thiêu sạch mọi bằng chứng.
Hay ít nhất.
Hắn tưởng là vậy.
Nhưng trời có mắt.
Đất có tai.
Ba tháng sau đám cháy.
Một trận mưa lớn kéo dài suốt bảy ngày đêm.
Nước lũ tràn về.
Cuốn trôi mấy căn nhà ven sông.
Trong đó có căn nhà cũ của Lão Chu.
Khi nước rút.
Người ta dọn dẹp đống đồ nát.
Và tình cờ.
Bà Lý một bà lão hàng xóm.
Nhặt được chiếc hòm gỗ của Minh Nghĩa.
Bà Lý không biết chữ.
Nhưng bà mang cuốn sổ đến cho thầy đồ Trương Phúc Lâm.
Người dạy học duy nhất trong thôn.
Thầy Trương mở ra đọc.
Và khuôn mặt thầy dần biến sắc.
Cuốn sổ ghi chép tỉ mỉ từng tội ác của Thẩm Quang Vinh.
Thuốc giả.
Thuốc phiện lẩu.
Bóc lột dân nghèo.
Trốn thuế.
Mua chuộc hương thân.
Nét chữ Minh Nghĩa ngay ngắn.
Rõ ràng.
Có ngày tháng.
Có tên người.
Có số bạc cụ thể.
Ở trang cuối.
Tràng viết.
Nếu con xảy ra chuyện gì.
Xin ai đó mang cuốn sổ này đến phủ Giang Nam.
Giao cho chi phủ Lâm Cảnh Hòa.
Ngài là người thanh liêm.
Sẽ minh xét cho dân.
Thầy Trương đọc xong.
Tay run lẩy bẩy.
Thầy nhìn bà Lý.
Rồi nhìn ra ngoài cửa trời vẫn mưa tầm tá.
Thầy biết.
Nếu cuốn sổ này lộ ra.
Thẩm Quang Vinh sẽ không tha cho bất kỳ ai.
Nhưng thầy cũng biết.
Nếu giấu đi.
Oan hồn Minh Nghĩa sẽ không bao giờ được siêu thoát.
Thầy Trương quyết định.
Đêm ấy.
Thầy lặng lẽ gói cuốn sổ vào túi vải.
Đội mưa đi suốt hai ngày đường đến phủ Giang Nam.
Cùng lúc đó.
Hứa bá tên gia nhân thân tín bắt đầu bất an.
Sau vụ cháy.
Hắn liên tục gặp ác mộng.
Mơ thấy Minh Nghĩa đứng giữa biển lửa nhìn hắn.
Miệng tràng không nói gì.
Chỉ chỉ tay về phía hắn.
Hứa bá uống rượu mỗi đêm để quên.
Nhưng càng uống càng mê sảng.
Hắn bắt đầu nói làm nhảm trong quán rượu.
Lão gia bảo tôi châm.
Lời nói ấy đến tai một người bà Trần Thị Ngọc.
Vợ quá của một thợ mộc đã mất vì uống nhầm thuốc giả của Thẩm Quang Vinh năm trước.
Bà Ngọc vốn nghi ngờ từ lâu.
Nhưng không có bằng chứng.
Giờ nghe hứa bá nói vậy.
Bà lập tức tìm đến Lão Chu Đức Hậu.
Khi Lão Chu nghe bà Ngọc thuật lại.
Lão không nói một lời.
Lão chỉ ngồi yên.
Hai tay nắm chặt.
Mắt nhìn lên bàn Phật.
Nơi ba nén hương đang cháy dở.
Rồi Lão từ từ đứng dậy.
Bước ra sân.
Ngước nhìn trời đêm.
Một giọt nước mắt lăn dài trên gỏ má nhăn nheo.
Lão thì thầm.
Nghĩa ơi.
Cha hiểu rồi.
Chi phủ lâm cảnh hòa.
Quả đúng là người thanh liêm như Minh Nghĩa đã viết.
Khi nhận được cuốn sổ từ Thầy Trương.
Ngài lập tức cho người điều tra bí mật.
Chỉ trong một tháng.
Mọi thứ Minh Nghĩa ghi chép đều được xác minh.
Thuốc giả.
Thuốc phiện lẩu.
Hầm ngầm chứa tài sản.
Giao dịch với thương nhân ngoại quốc.
Một buổi sáng đầu xuân.
Khi thầm Quang Vinh đang ngồi uống trà trong thư phòng.
Thưởng thức nhành mai vàng nở sớm.
Đoàn Quang Vinh từ Phủ Giang Nam.
Bất ngờ xuất hiện trước cổng Tế Sinh Đường.
Chi phủ lâm cảnh hòa.
Đích thân dẫn đầu.
Tay cầm lệnh bài.
Giọng sang sảng tuyên đọc tội trạng.
Thầm Quang Vinh đứng bật dậy.
Chén trà rơi vỡ tan tành trên nền gạch.
Mặt hắn trắng bệch như vôi.
Hắn cố trấn tĩnh.
Cười gượng.
Đại nhân chắc nhầm rồi.
Quang Vinh tôi cả đời làm phúc.
Chữa bệnh cứu người.
Sao lại?
Chi phủ lạnh lùng đặt cuốn sổ của Minh Nghĩa lên bàn.
Người nhận ra nét chữ này không?
Thầm Quang Vinh nhìn cuốn sổ.
Và lần đầu tiên trong đời.
Đôi mắt hắn lộ ra vẻ hoảng loạn thực sự.
Hắn không ngờ ngọn lửa đêm ấy thiêu sạch mọi thứ trong phòng chứa dơm.
Nhưng lại không thiêu được cuốn sổ
mà Minh Nghĩa đã cẩn thận giấu ở nhà từ trước.
Hầm ngầm bị phát hiện.
Bạc nén.
Vàng lá.
Sổ sách giao dịch thuốc viện tất cả phơi bầy giữa ánh sáng ban ngày.
Dân làng kéo đến xem.
Từ ngạc nhiên đến phẫn nộ.
Từ phẫn nộ đến kinh hoàng.
Bao nhiêu năm.
Họ đã tin tưởng.
Kính trọng.
Thậm chí biết ơn kẻ đã bóc lột chính họ.
Bà Ngọc đứng trong đám đông.
Nước mắt lưng trọng.
Chỉ tay vào thầm Quang Vinh mà ngại ngào.
Chồng tôi.
Chồng tôi chết vì thuốc giả của ngươi.
Ngươi còn đến viếng.
Đưa bạc phúng điếu.
Ngươi giết người.
Rồi đến khóc thương người ta.
Mấy lão nông mất ruộng cũng bước ra.
Kể lại từng món nợ.
Từng mảnh đất bị cướp trắng.
Tiếng khóc.
Tiếng chửi.
Tiếng oán hận dồn dập như sóng.
Hứa bá bị bắt ngay tại quán rượu.
Hắn không chống cử.
Khi bị giải đến trước mặt chi phủ.
Hắn quỳ sụp xuống.
Khóc như mưa.
Khai hết mọi chuyện.
Tôi châm lửa.
Lão ra bảo tôi châm lửa.
Hắn biết thằng nhóc ở trong đó.
Hắn bảo đốt sạch.
Kể cả thằng nhóc.
Thẩm Quang Vinh nghe hứa bá khai.
Mặt hắn co giật.
Hắn quay sang nhìn hứa bá.
Ánh mắt vừa căm phẫn vừa tuyệt vọng.
Nhưng hắn không nói được gì.
Mọi lời chối cãi đều vô nghĩa trước.
Bằng chứng chất trọng.
Chi phủ lâm cảnh hòa tuyên án ngay tại chỗ.
Thẩm Quang Vinh phạm tội giết người.
Buôn bán thuốc phiện lẩu.
Làm thuốc giả hại dân.
Trốn thuế.
Cướp đoạt tài sản tử hình.
Tịch thu toàn bộ gia sản.
Trả lại cho dân bị hại.
Khi bị trói giải đi.
Thẩm Quang Vinh lần đầu tiên trong đời quỳ gối.
Không phải trước Phật.
Mà trước Lão Chú Đức Hậu.
Người đang đứng yên lặng bên đường.
Mắt đỏ hoe.
Tay cầm nén hương chưa thắp.
Lão Chú.
Tôi.
Tôi sai rồi.
Hắn lấp bắp.
Nước mắt chảy dòng dòng trên gương mặt.
Đã mất hết vẻ oai phong.
Lão Chú nhìn hắn.
Đôi mắt Lão không có hận thù.
Chỉ có một nỗi buồn manh mông.
Như biển.
Lão không nói gì.
Lão chỉ quay lưng.
Bước đi.
Về phía ngôi mộ con trai trên đồi.
Chiều hôm ấy.
Thẩm Quang Vinh bị giam trong ngục phủ Giang Nam.
Đêm ấy.
Ngục tối đen như mực.
Hắn ngồi co ro trong góc.
Lần đầu tiên trong mấy chục năm.
Hắn không có chén trả.
Không có áo bào.
Không có người hậu.
Hắn chỉ có bóng tối.
Và tiếng chuột rúc rích.
Và ký ức về ngọn lửa đêm ấy.
Hắn nhớ đôi mắt trong veo của chàng trai ấy.
Đôi mắt mà hắn đã nhẫn tâm nhìn chúng tắt lịm giữa biển lửa.
Và lần đầu tiên.
Thẩm Quang Vinh cảm thấy sợ không phải sợ cái chết.
Mà sợ chính bản thân mình.
Hắn đã từng tự hỏi.
Ta giàu có.
Quyền thế.
Cả trấn kính nệ.
Ta có gì phải sợ.
Giờ hắn mới hiểu.
Hắn sợ nhất là phải đối diện với con người thật.
Của chính mình.
Một kẻ sát nhân đội lốt thiện nhân.
Ba ngày sau.
Hắn bị sự chạm tại pháp trường Phủ Giang Nam.
Ngày hành hình.
Trời u ám.
Gió thổi lạnh thấu xương.
Dân chúng kéo đến xem đông nghịt.
Không ai thương xót.
Không ai khóc.
Hứa bá bị phạt lưu đầy biên ải.
Suốt đời không được trở về.
Trên đường đi.
Hắn mắc bệnh nặng.
Không có ai chăm sóc.
Chết cô độc bên vệ đường một chiều đông lạnh giá.
Người ta tìm thấy sát hắn bên cạnh một bụi cỏ khô.
Đúng như đống dơm mà hắn đã châm lửa đốt.
Toàn bộ gia sản của Thầm Quang Vinh bị tịch thu.
Chia lại cho dân nghèo.
Mấy mẫu ruộng của Lão Chu được trả lại.
Tiệm thuốc Tế Sinh Đường bị đóng cửa.
Căn nhà lớn bị dỡ bỏ.
Nền đất được san bằng.
Về sau.
Dân làng trồng lên đó một cây bổ đề.
Gọi là cây nhớ ơn.
Để tưởng nhớ minh nghĩa.
Người đã đánh đổi mạng sống.
Để phơi bày sự thật.
Lão Chu Đức Hậu.
Được chi phủ Lâm Cảnh Hòa Đích Thân đến thăm.
Nhưng Lão Chu không vui.
Lão chỉ lặng lẽ nhận.
Rồi mang tấm biển đặt bên mộ con trai.
Lão ngồi bên mộ suốt chiều hôm ấy.
Thắp hương.
Tụng kinh.
Rồi thì thầm.
Nghĩa ơi.
Cha đã hiểu.
Phúc Đức không phải ở nén hương.
Không phải ở lời kinh.
Phúc Đức nằm ở tấm lòng.
Và con đã sống đúng với tấm lòng ấy.
Con hơn cha.
Con hơn cha nhiều lắm.
Về sau.
Lão Chu dùng số ruộng được trả lại.
Để mở một lớp học nhỏ trong thôn.
Mời Thầy Trương Phúc Lâm về dạy.
Lão đặt tên lớp học là.
Minh Nghĩa Đường.
Lấy theo tên con trai.
Với hy vọng rằng.
Chữ Nghĩa sẽ soi sáng cho những đứa trẻ nghèo.
Để chúng không phải chết trong bóng tối như con Lão.
Người ta thường nói.
Đốt hương tụng kinh là tu.
Nhưng Phật dạy.
Tu tại tâm.
Không tại tướng.
Lão Chu Đức Hậu cả đời thắp hương.
Cả đời tụng kinh.
Nhưng Phúc Đức thật sự lại đến.
Từ đứa con trai người dám đứng lên.
Vì lẽ phải.
Dám đánh đổi mạng sống.
Để bảo vệ sự thật.
Còn Thẩm Quang Vinh.
Cả đời đóng vai thiện nhân.
Cả đời cúng chùa quyên bạc.
Nhưng tâm hắn đen tối hơn đêm 30.
Hắn tưởng rằng.
Tiền bạc mua được mọi thứ.
Mua được danh tiếng.
Mua được lòng tin.
Thậm chí mua được cả sự tha thứ của trời đất.
Nhưng hắn đã lầm.
Nhân quả không phân biệt giàu nghèo.
Không nể mặt kẻ quyền thế.
Lưới trời lỏng lỏng.
Thừa mà không lọt.
Có câu tục ngữ xưa.
Cây kim trong bọc có ngày lòi ra.
Tội ác dù giấu kĩ đến đâu.
Rồi cũng có ngày phơi bẩy.
Ngọn lửa Thẩm Quang Vinh châm lên để thiêu hủy bằng chứng.
Cuối cùng lại chính là ngọn lửa thiêu rụi cả cuộc đời hắn.
Cuốn sổ mà hắn tưởng đã cháy thành cho.
Lại chính là thứ đưa hắn lên đoạn đầu đài.
Đời người.
Đôi khi kẻ ác lộng hành không phải vì trời không thấy.
Mà vì trời đang chờ chờ đến lúc tội ác chất đẩy.
Chờ đến lúc sự thật tự tìm đường chui ra ánh sáng.
Và khi quả báo đến.
Nó không bao giờ thiếu.
Cũng không bao giờ thừa vừa đúng.
Vừa đủ. Vừa đau.
Còn bạn bạn có tin rằng.
Trên đời này.
Mọi việc ác rồi sẽ có ngày phải trả giá.
Hay bạn nghĩ rằng.
Có những kẻ ác mãi mãi thoát được lưới trời.
Hãy nhìn lại xung quanh mình.
Nhìn lại chính mình nén hương trên tay bạn.
Rốt cuộc là để cầu phúc.
Hay để che đậy điều gì.
Hãy subscribe cho kênh Ghiền Mì Gõ Để không bỏ lỡ những video hấp dẫn
