Cả Thế Giới HOẢNG SỢ Trước 5 Vũ Khí Cảm Tử Và Tinh Thần “Không Sợ Chết” Của Nhật Bản Lo lắng, tuyệt vọng, sợ hãi cái chết là những điều mà biệt đội này không được phép nghĩ đến khi bước vào tham chiến. Nhiệm vụ của họ chỉ đơn giản là cầm vũ khí, lao vào kẻ địch và tự tước đi quyền được sống của chính mình. Theo quý vị, liệu trong quá khứ còn có loại vũ khí nào được chế tạo để người lính phải đánh đổi sinh mạng như những loại này không? ----------------------------- 💲💲💲 Các bạn có thể ủng hộ kênh bằng cách Donate vào địa chỉ sau: STK: 0821000188592 - Vietcombank - NGUYEN VIET CUONG ----------------------------- ▶ ‘Kiến Thức Quân Sự’ là Kênh cung cấp cho các bạn những tri thức, hiểu biết chung về tình hình quân sự, chính trị trên thế giới. Mọi ý kiến đóng góp xin gửi về địa chỉ email: [email protected] ▶ ĐĂNG KÝ KÊNH miễn phí: https://bitly.com.vn/B7NrX ▶ Xem Bí Mật Quân Sự: https://bitly.com.vn/IAhM3 ▶ Xem Đối Đầu Mỹ - Nga: https://bitly.com.vn/4McSp ▶ Xem Đối Đầu Mỹ - Trung Quốc: https://bitly.com.vn/WNuXc ▶ Xem Trung Quốc Chịu Tội: https://bitly.com.vn/ENMSi #KiếnThứcQuânSự#quânsự#vũkhí
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Tóm tắt video
Được tạo bởi AI
This video examines the desperate suicide weapons developed by the Imperial Japanese Navy during the final stages of World War II, highlighting the human cost and the strategic failure of these \"kamikaze\" naval tactics.
Lo lắng, thuyệt vọng, sợ hãi cái chết là những điều mà biệt đội này không được phép nghĩ đến khi bước vào tham chiến.
Nhiệm vụ của họ chỉ đơn giản là cầm vũ khí, lao vào cái địch và tự tước đi quyền được sống của chính mình.
Theo quý vị, liệu trong quá khứ còn có loại vũ khí nào được chế tạo để người lính phải đánh đổi sinh mạng như những loại này không?
Thứ nhất phải kể đến đó là thuyền cảm tử Xenio.
Tương tự nhiệt cai Ten, chương trình chế tạo các con thuyền cảm tử đã bắt đầu vào mùa xuân 1944.
Đây là phiên bản thu nhỏ và giảm lượng của thuyền phóng lôi.
Mục đích là để có thể sản xuất với số lượng lớn và tận dụng các động cơ ô tô từ công nghiệp dân sự.
Thuyền cảm tử được đặt tên là Xenio.
Các nguyên mẫu ban đầu được làm từ cả thép và gỗ.
Vậy sao Cục Kỹ thuật Hải quân chọn phương án nguyên mẫu gỗ để đơn giản hóa tối đa quá trình nóng?
Xenio Type 111 có chiều dài 5,1m, vận tốc 4,2,6km trên giờ.
Nó mang theo 270kg thuốc nổ mạnh Type 98, có thể kích nổ bằng ngòi nổ bà trạm hoặc kíp điện cầm tay.
Việc sản xuất hàng loạt diễn ra rất khẩn trương và ở nhiều địa điểm khác nhau, vì thế thuyền khá dễ đóng.
Một số cải tiến về sau gồm đặt 1-2 bị phóng rocket trên thuyền.
Đế quốc Nhật Bản lên kế hoạch đóng 7.000 chiếc Xenio cho tới tháng 9 năm 1945.
Khi kết thúc chiến tranh, 6.200 chiếc đã được đóng hoàn thiện, không chỉ tại Nhật mà còn tại các cơ sở thuộc địa như Trung Quốc, Singapore.
Có một số phiên bản Xenio đặc biệt được tạo ra ở Yokosuka nhưng số lượng không đáng kể.
Nhiều nhất là các Xenio Type 5, ban đầu đóng vai trò như thuyền chỉ huy, được đóng bằng kim loại, có 2 chỗ ngồi, trang bị 2 động cơ và hỏa lực là súng máy 13 ly.
Chiếc đầu hạ thủy vào mùa thu năm 1944.
Tiếp theo, đứng ở vị trí thứ 2 trong danh sách này là bom bay có người lái Ōka.
Yokosuka MX-I-7 Ōka là một loại bom chống tàu chiến lực điều khiển bởi các phi công cảm tử được Nhật Bản chế tạo trong giai đoạn cuối thế chương thứ 2.
Các thùy thủ thuộc hải quân Mỹ còn đặt cho nó biệt danh Baka, tiếng Nhật có nghĩa là ngớ ngẩn, ngu ngốc.
Những cỏ bom thông minh Ōka được thả từ máy bay né bom cỡ lớn với phi công ngồi sẵn bên trong.
Loại bom này đã từng được sản xuất tới 852 quả trước khi chiến tranh kết thúc.
MX-I-7 Ōka thường được mang bên dưới bụng một chiếc máy bay ném bom Mitsubishi G4M Betty Model 24s để tới gần mục tiêu trong tầm bay của nó.
Khi xuất kích, phi công sẽ điều khiển Ōka lượn về phía mục tiêu.
Đến cơ lý đủ gần, sẽ kích hoạt từng động cơ một hay đồng loạt cả ba động cơ và lái quả tên lửa lao vào chiến hạm cần tiêu diệt.
Trong phát tấn công cuối cùng, việc ngăn chặn quả tên lửa gần như là nhiệm vụ bất khả thi với hệ thống phòng không chỉ có pháo cao sẵn.
Ōka được ghi nhận đã đánh chìm ba tâu chiến của quân đồng minh và đánh hư hỏng nặng bạ trên khác.
Tuy nhiên, có thể thấy thiệt hại mà loại tên lửa chống hạm con người lái này gây ra cho đối phương khá nhỏ bé, nhất là khi so sánh với con số 755 chiếc thuộc Model 11 đã chế tạo.
Nguyên nhân chính là do trục trạc kỹ thuật hoặc máy bay Mitsubishi G4M bị đánh chặn từ xa nên buộc phải thả Ōka quá sớm, vượt ngoài tâm bay của những quả tên lửa có người lái này.
Sau chiến tranh, một số chiếc Ōka đã bị quân đồng minh thu giữ trong trạng thái còn nguyệt vẹn.
Không kém cạnh trong giành sách này là ngư lôi cai tèn.
Việc chế tạo ngư lôi có người lái đã từng được đề ra tại Nhật vào năm 1942 nhưng không được chấp thuận.
Tháng 2 năm 1944 tại Tokyo, Trung úy Hiroshi Kuroki đã làm sống lại ý tưởng này trước ban tham miêu kỹ thuật của Hải quân.
Sau 2 năm, tình hình chiến sự đã có nhiều thay đổi và dự án được thông qua.
Ngư lôi cai tèn có nhiệm vụ là tạo ra các cuộc tấn công cảm tử.
Viên bản đầu tiên, cai tèn Type 1 được phát triển từ ngư lôi lớn Type 93 M3.
Khoang lái kín một chỗ ngồi là điểm khác so với các ngư lôi cảm tử từng có trước đây như loại Chariot của Ý.
Người điều khiển không có khoang lái mà cưỡi ngư lôi.
Cai tèn Type 1 nặng 8,3 tấn, dài 14,75 mét, mang đầu đạn nặng tới 1550 kg.
Loại ngư lôi này có tốc độ tối đa lên đến 55,5 km trên giờ, tầm hoạt động rộng hơn 70 km.
Về cơ bản, ngư lôi được điều khiển bằng người có độ chính xác vượt trội so với ngư lôi thông thường vào thời điểm đó.
Chúng có thể được thả từ tâu ngâm, tâu đổ bộ hoặc ngay từ bợ.
Công việc thử nghiệm bắt đầu vào tháng 6, sản xuất hàng loạt bắt đầu chỉ 2 tháng sau đó.
Đế quốc Nhật đã sản xuất 100 cai tèn Type 1 trong năm 1944 và 230 cai tèn Type M1 trong năm 1945.
Đây cũng là loại cai tèn duy nhất được sản xuất hàng loạt.
Các bản cải tiến Type 2, 3, 4, 5 và 6 cũng phát triển trên ngư lôi Type 93,
được thiết kế phức tạp và mạnh mẽ hơn nhưng không thể được sử dụng rộng rãi.
Cai tèn Type 10 được phát triển trên ngư lôi Type 92 nhỏ hơn và thậm chí còn đơn giản hơn Type 1 đời đầu.
Nó chỉ mang được khoảng 300 kg tốc độ, tuy nhiên chỉ 6 chiếc kịp hoàn thành cho đến khi kết thúc chiến tranh.
Các cảm tử quân thường còn rất trẻ, có độ tuổi từ 18 đến 20.
Họ được chọn từ các trường hải quân và gửi đến cơ sở đào tạo đặc biệt tại Osujima trên vịnh Tokuyama.
Các cai tèn thường hoạt động ở độ sâu 60 mét.
Khi tiếp cận mục tiêu, cảm tử quân cho ngư lôi ngoi lên độ sâu 5 mét để có thể sử dụng kính tiểm vọng.
Cai tèn sẽ tấn công tàu địch bằng tốc độ tối đa của nó.
Các cuộc tấn công của cai tèn được đặt mật danh là GEN.
GEN bắt đầu từ 8 tháng 11 năm 1944.
Nhiều cai tèn đã bị phát hiện và bắn chìm.
Nhưng chúng cũng kịp hạ tàu chở dầu Missis-Sinewa và dẫn đến một vụ cháy nổ cực lớn.
Thanh tích của đợt xuất quân đầu tiên đã bị cá tụng quá mức, dẫn đến việc tung ô ạt các cai tèn trong những đợt tấn công sau.
Chúng được gửi đi khắp nơi từ những con tàu ngầm mẹ như Uriti, Poladia, Okinawa, Guam.
Đến tháng 1 năm 1945, một biên đội cai tèn đánh đắm một tàu đầu bộ của Mỹ.
Tháng 7 năm 1945, bảy chiếc cai tèn cùng một tàu ngầm khác đánh chìm tàu khu trục hạng USS Underhill của Hải quân Mỹ.
Sau thất bại của phe trục vào năm 1945, loại ngư lôi có người lái cai tèn cũng chính thức lùi vào di vãng cùng các loại vũ khí tự sát Hải quân Pháp sinh nhật.
Tiếp theo không thể không kể đến, đó là thuyền Grand Rakute.
Ngoài Sineo, Hải quân Nhật Bản còn phát triển thêm một loại thuyền vũ trang khác từ tháng 3 năm 1944 mang tên Grand Rakute.
Về mặt lý thuyết, những con tàu này mang theo hai thiết bị nổ nặng 120kg.
Chúng xích tức vận tàu Mỹ, thả thiết bị nổ xuống cho hẹn giờ và tàu thoát bằng tốc độ tối đa hơn 55kmh.
Tuy nhiên trên thực tế, Grand Rakute cũng được dùng như thuyền tấn công cảm tực.
Quá trình thử nghiệm tại cảng Tokyo bắt đầu từ tháng 6 năm 1944.
Các Grand Rakute về cơ bản khá giống với Sineo.
Trung đoàn đầu tiên thành lập vào tháng 9 năm 1944.
Lái thuyền là các học viên trẻ của các trường quân đội tuổi từ 16 đến 17.
Sau khi làm xong nhiệm vụ, họ sẽ được truy phong hàm trung úy.
Mỗi trung đoàn gồm 3 trung đội với tổng cộng 100 thuyền.
Cũng giống như Kaiten, các Sineo hay Grand Rakute bị tiêu diệt rất nhiều trong các trận đánh.
Và cuối cùng trong danh sách này đó là người nhái Fukuryu.
Tình toán rằng Mỹ sẽ đổ bộ xuống quân đảo Hông.
Nhật Bản bắt đầu chuẩn bị các đơn vị người nhái cảm tực để tấn công các tàu đổ bộ.
Những người nhái này được gọi là Fukuryu.
Họ được trang bị bộ đồ lặn đặc biệt nhưng khá nặng nề.
Một khối trì nặng được gắn vào bộ đồ lặn giúp người nhái có thể tự động duy trì độ sâu 5 đến 7m.
Hai bình khí nén cung cấp oxy cho 6 giờ hoạt động.
Bộ tàng khí và hấp tụng CO2 làm khí thở không tạo ra bỏng bỏng lớn.
Khoảng 1.000 bộ trang bị cho các Fukuryu được sản xuất vào tháng 8 năm 1945.
Nhật dự kiến hoàn thiện 8.000 bộ vào tháng 9 1945 nhưng không thực hiện được.
Họ cũng đã chọn ra 6.000 người nhái để sẵn sàng tác chiến vào tháng 10 1945.
Vũ khí chính xác của các Fukuryu là mình tấn công Type 5,
một thiết bị dài chừng 56cm, chứa 10kg chất nổ,
được nối vào một chiếc gậy dài và có ngòi nổ tiếp xúc ở đỉnh quả mìn.
Những người nhái không di chuyển tự do mà có hạ ngũ.
Thường độ hình phòng thủ ven bờ gồm 3 người nhái, mỗi hàng cách nhau 60m.
Khoảng cách giữa các người nhái trong hàng là 50m.
Khoảng cách này đã được tinh toán nhằm giữ an toàn cho các người nhái khi có bất cứ người nào phát nổ.
Khi người nhái tiếp cận các quả tàu, họ sẽ đẩy mình 2 năm vào đáy tàu.
Đơn vị Fukuryu đầu tiên mang tên 71 Toshu Gekitai Arashi,
đơn vị tấn công đặc biệt, ở Yokosuka vào mùa hè 1945,
với 2 tiểu đoàn chiến đấu và 4 tiểu đoàn đang trong quá trình đào tạo.
Các lãnh đạo hải quân rất quan tâm tới việc này và mong muốn triển khai hơn 40.000 người nhái
để tạo ra là chán sống cuối cùng bảo vệ nước Nhật.
Tuy nhiên, mục tiêu này không thể thực hiện bởi hạn chế về trang thiết bị.
Nhiều nhà sự học cho rằng, lối đánh cảm tử là một sai lầm của Nhật Bản.
Không thể đào nghịch thế trận giới trường.
Họ còn thua nhanh hơn vì tự để mất nhiều binh sĩ tại Bang mà không thu lại được hiệu quả thương xứng.
Đừng quên nhấn nút đăng ký và chủng thông báo để đón xem những video mới nhất từ kiến thức quực sự.
Xin chào và hẹn gặp lại!