Người Tiều Phu Bỏ Mặc Người Bị Nạn Đang Hấp Hối, 15 Năm Sau Nhân Quả Tìm Đến!

Sống thuận tự nhiên
439 Người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Người xưa vẫn nói, thấy một cành cây sắp đổ mà đưa tay đỡ lấy, biết đâu đã giữ được cả một mái nhà về sau.
Có người nghĩ, quay lưng trước nỗi khổ của kẻ khác chỉ là tránh thêm một chuyện phiền thân.
Nhưng liệu sự im lặng ấy thật sự vô can, hay chính từ khoảnh khắc ấy một hạt giống đã âm thầm rơi xuống?
Nhân quả nhiều khi không gõ cửa ngay trong ngày hôm ấy, nó lặng lẽ theo bước người đi qua năm tháng,
chờ đến lúc duyên đủ đầy, rồi mới trở về.
Và có những món nợ của lương tâm.
Chỉ đến khi muốn cứu một người mình thương nhất, con người mới biết năm xưa mình đã đánh mất điều gì.
Năm ấy, ở dãy núi Thiên Phòng, mùa đông đến sớm hơn mọi năm.
Mưa phun vừa dứt, thì từng đợt gió rét đã luồn qua những rạng tùng già, mang theo cái lạnh ngấm vào tận xương.
Người đi rừng bào nhau rằng, mùa đông có thể làm gãy một cành cây, nhưng cũng đủ thử lòng một con người.
Dưới con dốc nhỏ phủ đầy lá khô, Phùng Giật gánh một bó củi lớn trên vai.
Hai đầu đòn gánh òn xuống, dây mây đỏ buộc quanh bó củi đã sẫm màu vì mồ hôi và sương lạnh.
Đôi bàn tay trai sần siết chặt đòn gánh đến trắng bệnh.
Ông bước đều từng bước, không dám nghỉ lâu.
Trong chiếc túc lều lập cỏ tranh dưới chân núi, đứa con trai 8 tuổi của ông đã nằm sốt gần nửa tháng, đứa bé tên là Phùng An.
Từ ngày vợ mất vì bệnh, Phùng Giật vừa làm cha, vừa làm mẹ.
Ban ngày lên núi đốn củi, ban đêm ngồi bên bên ngọn đèn dầu leo lét, thay khăn ướt cho con, đếm từng cơn ho kéo dài đến gần sáng.
Ba hôm trước, ông đã đưa con xuống huyện tìm thấy thuốc.
Ông lão bán thuốc vuốt tròm dâu bạc, bắt mạch thật lâu rồi khẽ thở dài.
Bệnh chưa đến mức vô phương, nhưng vị thuốc chính rất đắt.
Nếu trong ba ngày không gom đủ bạc, e rằng khí huyết đứa trẻ sẽ suy kiệt, lúc ấy có thuốc cũng khó giữ được.
Ba ngày.
Từ hôm ấy, trong đầu Phùng Giật chỉ còn đúng hai chữ ấy.
Ông bán hết mấy con gà, bán luôn chiếc ghế gỗ do chính tay mình đóng,
thậm chí bó củi hôm nay cũng là số củi ông giữ lại để sửa cho hai cha con suốt nửa tháng zét.
Ông tự nhủ, qua được mùa đông này rồi tính tiếp, chỉ cần cứu được con, còn lại thế nào cũng được.
Con đường xuống núi quanh co, một bên là vách đá, một bên là khe sầu.
Khi đi đến khu quanh có tảng đá lớn chắn ngang, Phùng Giật chợt nghe thấy một tiếng rên rất khẽ.
Ông dừng chân, tiếng kêu lại vang lên, lần này rõ hơn.
Có ai không?
Phùng Giật đặt gánh củi xuống, lần theo âm thanh.
Dưới một triển đá thấp, có một người đàn ông trung niên nằm nghiêng.
Một chân bị kẹt dưới thân cây gãy, áo đã rách nhiều chỗ.
Chiếc giỏ tre bên cạnh văng tung tóe, vài nhánh rực thảo quý rơi lẫn vào lớp tuyết mỏng.
Người ấy cố chống tay ngồi dậy, nhưng lại ngã xuống.
Thấy có người đến, ánh mắt ông sáng lên, xin, xin cứu tôi.
Phùng Giật bước thêm vài bước, ông cúi xuống nhìn, thân cây không quá lớn.
Chỉ cần có thêm một người nữa, hoặc mất chừng nửa canh giờ chặt bớt cảnh, người bị nạn sẽ thoát ra.
Nhưng trời đang ngả chiều, từ đây xuống huyện vẫn còn một quãng đường dài.
Ông ngước nhìn bầu trời, mây xám đã kéo kín.
Nếu tuyết đổ, đường núi sẽ bị lấp, bó củi hôm nay sẽ chẳng còn bán được.
Ba ngày, trong đầu ông lại hiện lên khuôn mặt xanh sao của Phùng Ản.
Người đàn ông dưới đất cố đưa tay ra, tôi mang thuốc cứu người, xin đừng bỏ tôi.
Bàn tay ấy run đến mức không còn đủ sức nhất hỏi đất.
Phùng Giật đứng lặng, ông cúi xuống định kéo thân cây.
Hai bàn tay vừa chạm vào lớp vỏ lạnh bút thì bất giác dừng lại.
Nếu ở đây thêm nửa canh giờ, nếu trời tối, nếu lỡ trượt chân, nếu không bán được bó củi.
Nếu con ông, ông nhắm mắt thật chặt.
Có những lúc con người biết điều gì là đúng, chỉ là nỗi sợ khiến cái đúng trở nên quá nặng.
Phùng Giật chậm dãi rút tay về.
Ông mờ gùi, lấy bầu nước còn lại đặt cạnh người bị nạn.
Rồi cắn răng nói rất nhỏ, tôi thật sự không còn cách nào.
Nói xong, ông nhắc bó củi lên vai.
Người dưới đất cố gọi thêm một lần nữa.
Âm thanh yếu dần, giữa tiếng gió núi rít qua khe đá.
Nó nghe như sắp tan biến.
Phùng Giật bước được vài bước thì dừng lại.
Ông quay đầu, người bị nạn vẫn nằm đó.
Ánh mắt không oán trách, chỉ còn lại sự cầu khẩn của một người đang cố níu lấy mạng sống.
Phùng Giật siết chặt đòn gánh.
Ông quay người, lần này không nhìn lại nữa.
Sợi dây mây đỏ buộc bó củi khẽ đung đưa theo từng bước chân, nổi bật giữa nền tuyết trắng.
Phía sau lưng, tiếng gọi cũng lặng hẳn.
Xuống gần đến chân núi, trời bắt đầu đổ tuyết.
Phùng Giật bán được bó củi đúng lúc chợ sắp tan.
Số bạc trong tay vẫn còn thiếu một đoạn.
Ông ôm túi bạc nhỏ chạy vội về lều.
Phùng An vẫn đang mê man.
Ông ngồi xuống cạnh con, bàn tay khẽ vuốt mái tóc đẫm mồ hôi của đứa bé.
Ngoài kia, gió vẫn thổi từng cơn.
Trong lòng ông bỗng hiện lên đôi mắt của người đàn ông giữa sườn núi.
Ông tự nhủ, mình đâu có hại ai.
Mình chỉ muốn cứu con.
Nhưng càng tự nhủ, ngọn đèn dầu trước mặt dường như càng leo lét hơn.
Đêm ấy, ở một lối mòn khác trên núi,
một thiếu niên gầy gò mang chiếc gùi đựng nấm rừng trợt rừng chân
khi nghe thấy tiếng rên yếu ớt vọng ra từ khe đá.
Cậu lặng người nhìn xuống, rồi không chút trần trừ tháo chiếc gùi trên vai,
men theo triển đá trơn trượt, bước về phía người đang mắc kẹt.
A Thạch đặt chiếc gùi xuống bên mép đá.
Cậu nhìn người đàn ông bị thân cây đè lên chân, rồi đưa mắt quan sát chung quanh.
Trời, mỗi lúc một tối hơn,
gió lạnh quất qua bách núi làm cảnh khô va vào nhau lách cách.
Cậu thử nhắc thân cây.
Nó nặng hơn cậu nghĩ.
Người bị nạn mìm cười gượng.
Đừng cố, một mình ngươi không nổi đâu.
A Thạch lau mồ hôi trên chán.
Nếu bỏ mặc, trời sáng, ông cũng chẳng còn sức.
Cậu chạy xuống trên dốc, nhặt một khúc gỗ dài làm đòn bẫy.
Mất gần nửa canh giở, thân cây mới nhích được một chút.
Người đàn ông nghiến răng chịu đào.
Cuối cùng, cái chân cũng được kéo ra khỏi khe đá.
Nhưng vừa đứng lên, ông lập tức hượu xuống.
Cổ chân đã gãy.
A Thạch nhìn giò nấm của mình.
Nếu cõng người này xuống núi, số nấm hôm nay chắc chắn sẽ hỏng.
Mấy ngày nay mẹ cậu cũng đang chờ số tiền bán nấm để mua gạo.
Cậu ngồi lặng một lúc, rồi lặng lẽ đổ toàn bộ nấm xuống góc cây.
Chiếc gùi giờ chỉ còn lại một ít dơm khô.
Cậu rìu người đàn ông ngồi vào trong gùi, lấy dây mây buộc chắc rồi cắn răng cõng lên vai.
Con đường xuống đuối vốn chỉ mất hơn nửa canh giở.
Đêm ấy, hai người đi gần ba canh giở.
Có lúc A Thạch trượt chân, cả hai cùng lăn xuống.
Một mô đất thấp, đầu gối dớm máu, đôi dép cỏ cũng rách mất một quài.
Người đàn ông khẽ nói,
Đặt ta xuống, ngươi còn trẻ, đừng vì ta mà mất mạng.
A Thạch chỉ cười,
Nếu bỏ ông lại thì con đường nãy giờ tôi đi còn nghĩa gì nữa?
Người đàn ông im lặng.
Trong bóng tối, đôi mắt ông đỏ lên.
Gần nửa đêm, họ mới đến được căn lều nhỏ của A Thạch.
Mẹ cậu vừa mở cửa đã giật mình.
A Thạch, chuyện gì vậy?
Cậu chỉ nói ngắn gọn.
Có người gặp nạn.
Bà không hỏi thêm.
Bà nhóm lửa, đun nước, lấy chiếc áo tơi duy nhất trong nhà phủ lên người khách.
Bữa cơm tối vốn chỉ đủ cho hai mẹ con.
Đêm ấy, lại chia thành ba phần.
Người đàn ông ăn từng thiệt cháo loãng mà đôi mắt cứ cúi xuống mái.
Sau khi thay thuốc tạm, A Thạch định sáng sớm sẽ xuống huyện mời thầy Lan.
Nhưng mở túi bạc trong nhà ra.
Chỉ còn vài đồng tiền lẻ.
Cậu nhìn đôi dép cỏ đã rách.
Rồi nhìn người khách đang xốt.
Sáng hôm sau, A Thạch mang đôi dép cỏ xuống chợ bán.
Người bán giày cũ chỉ trả được ít bạc.
Cậu vẫn gật đầu.
Số tiền ấy vừa đủ mua thuốc cầm máu và ít gạo.
Chiều hôm đó, người đàn ông tỉnh táo hơn.
Ông tự giới thiệu.
Tên ta là Tôn Khải Nguyên.
A Thạch chỉ gật đầu.
Tôi là A Thạch.
Không ai hỏi thêm thân thế của ai.
Những ngày tiếp theo, A Thạch không lên núi hái nấm.
Ngày ngày xắc thuốc.
Đổi băng, đỡ người khách tập đi từng bước.
Bết thương dần lạnh.
Một buổi chiều, Tôn Khải Nguyên trống gậy bước ra hiên.
Ông nhìn khoảng sân nhỏ đầy những luống cây non.
Đó là gì?
A Thạch đáp.
Chỉ là ít cây thuốc rừng tôi nhặt được.
Không biết trồng có sống không.
Tôn Khải Nguyên mỉm cười.
Có cây quý lắm.
Ông cúi xuống nhẹ nhàng chỉ từng gốc.
Rồi hướng dẫn cách chăm sóc.
Suốt nhiều ngày, hai người vừa làm cỏ, vừa trò chuyện.
A Thạch mới biết vị khách này không phải người buôn thuốc như cậu nghĩ.
Ông là một y giả đi khắp nơi tìm dược liệu quý để cứu người.
Lần gặp nạn ấy xảy ra khi ông một mình leo lên vách đá tìm một vị thuốc hiếm.
Đến ngày chia tay, Tôn Khải Nguyên lấy trong bọc hành lý ra một túi hạt giống nhỏ.
Ông đặt vào tay A Thạch.
Đây là hạt của vài loại dược thảo rất khó tìm.
Nếu chăm được sau này có thể cứu nhiều người.
A Thạch vội lắc đầu.
Thứ quý như vậy tôi không dám nhận.
Tôn Khải Nguyên mỉm cười.
Cứu mạng một người còn quý hơn.
Ông dừng lại một lúc.
Ân tình này ta sẽ nhớ.
A Thạch chỉ cười hiền.
Tôi đâu cứu ông để chờ báo đáp.
Tôn Khải Nguyên nhìn cậu rất lâu.
Rồi lặng lẽ gật đầu.
Trước khi rời đi, ông cúi xuống nhặt một đoạn dây mây đỏ còn mắc trên chiếc gùi.
Đó là sợi dây cậu dùng để buộc lại quai gùi sau chuyến cõi người xuống núi.
Ông cẩn thận cất vào tay áo.
Có những vật nhỏ bé đến mức người khác chẳng buồn để ý.
Nhưng với người mang ơn, nó đủ để nhớ cả một đời.
Trong khi ấy, ở căn lều dưới chân núi, Phùng Giật vừa đếm lại túi bạc vừa lặng lẽ thở dài.
Dù bán thêm mấy bó củi nữa, số tiền vẫn chưa đủ mua vị thuốc quý.
Ông ngồi trước ngọn đèn dầu leo lét rất lâu.
Nhiều lần định quay trở lại nơi vách đá.
Nhưng tuyết đã phủ kín mọi lối mòn.
Không còn dấu chân, không còn tiếng gọi.
Chỉ còn khoảng lặng, đè nặng trong lòng ông.
Như thế có một khúc gỗ chưa bao giờ được nhấc khỏi ngực mình.
Mười lăm năm trôi qua.
Dãy thiên phong vẫn phủ mây trắng mỗi sớm.
Chỉ có con người là đổi khác theo năm tháng.
Dưới chân núi, người ta truyền nhau rằng ở huyện Lạc Thủy có một rực đường nổi tiếng.
Người nghèo nếu thật lòng túng thiếu vẫn được khám bệnh.
Kẻ lỡ đường còn được mời một bát cháo nóng trước khi uống thuốc.
Chủ nhân của nơi ấy chính là Tôn Khải Nguyên.
Bên cạnh ông luôn có một người thanh niên ít nói.
Đó là A Thạch, vườn rực phía sau rực đường xanh tốt quanh năm.
Những hạt giống nhỏ ngày trước giờ đã phủ kín cả một sườn đồi.
Mỗi sáng, A Thạch đều tự tay gánh nước tưới cây.
Chiếc gùi cũ vẫn còn được giữ lại.
Quai gùi đã thay mới nhiều lần.
Chỉ có đoạn dây mây đỏ buộc ở góc gùi là chưa từng đổi.
Có người hỏi vì sao không tháo đi.
A Thạch chỉ cười.
Có vài thứ giữ lại để nhắc mình đừng quên.
Không ai hỏi thêm.
Ở một góc khác của huyện, phùng giật đã già đi rất nhiều.
Lưng ông không còn thẳng.
Hai mái tóc bạc phủ kín sau gáy.
Nhưng ngày nào, ông cũng lên núi.
Không phải vì muốn khá giả.
Chỉ vì Phùng An đã lớn.
Đứa bé năm nào nhờ thuốc men cầm cự được mạng sống,
nay đã trở thành một chàng trai hiền lành, chăm chỉ.
Cha con họ dựng lại căn nhà cũ.
Cuộc sống tuy chẳng dư giả, nhưng cũng không còn bữa đói bữa no.
Phùng giật vẫn nghĩ, có lẽ số phận cuối cùng cũng chịu mìm cười.
Cho đến một buổi sáng.
Phùng An đang bổ củi thì bỗng ôm ngược ngã quỵ.
Chiếc diều rơi xuống nền đất.
Mồ hôi túa ra như tắm.
Mặt cậu trắng bệnh.
Phùng giật hoảng hốt đỡ con dậy.
Từ hôm ấy, những cơn đau xuất hiện ngày một nhiều.
Có lúc chỉ đang gánh nước cũng phải ngồi bệt xuống vệ đường.
Thầy thuốc trong làng bắt mạch rất lâu.
Ông lắc đầu.
Căn bệnh này đã ẩn từ nhỏ.
Muốn chữa tận gốc.
Ông ngập ngừng.
Chỉ e trong huyện không ai đủ khả năng.
Phùng giật nắm lấy tay thầy thuốc.
Còn ai cứu được con tôi không?
Ông láo nhìn sang cửa sổ.
Có.
Danh y tôn khải nguyên.
Cả vùng này chỉ còn ông ấy dám nhận.
Nghe đến cái tên ấy.
Phùng giật bỗng thấy tim mình đập mạnh.
Đã 15 năm.
Ông vẫn nhớ rất rõ người đàn ông nằm dưới thân cây hôm ấy.
Ông không biết người ấy còn sống hay đã chết.
Lại càng không ngờ.
Đó chính là vị danh y nổi tiếng mà cả vùng vẫn nhắc đến.
Đêm ấy, phùng giật không ngủ.
Ngọn đèn dầu cháy cạn rồi tắt lúc nào.
Ông cũng không hay.
Trong đầu chỉ hiện lên một khuôn mặt phủ đầy tuyết.
Cùng tiếng gọi yếu dần sau lưng.
Tôi mang thuốc cứu người.
Ông lấy hai tay ôm đầu.
15 năm qua, ông chưa từng kể chuyện ấy với bất kỳ ai.
Ngay cả Phùng An cũng không biết.
Sáng hôm sau, phùng giật quyết định bán mảnh đất nhỏ cuối cùng cạnh nhà.
Hàng xóm đều ngạc nhiên.
Ông bán rồi lấy gì sinh sống?
Ông chỉ đáp.
Cứu con trước đã.
Ba ngày sau, cha con lên đường.
Chiếc đòn gánh năm xưa giờ được dùng để treo hai túi hành lý nhỏ.
Trong đó chẳng có gì đáng giá.
Chỉ vài bộ áo vá.
Ít gạo rang.
Một ấm nước.
Và số bạc gom góp cả đời.
Con đường đến huyện Lạc Thủy khá xa.
Giữa trưa, hai cha con ghé một quán cháo miễn phí dựng bên vệ đường.
Người phát cháo là một người đàn ông dáng cao gầy.
Tay áo đã sẵn quá khủy.
Ông vừa múc cháo, vừa cẩn thận hỏi từng người khách có bị cảm lạnh hay không.
Phùng giật nhận bát cháo.
Vừa ngẳng lên.
Ông khựng lại.
Gương mặt ấy đã già hơn nhiều.
Nhưng nụ cười hiền hậu vẫn không đổi.
Chính là thiếu niên năm nào.
A Thạch.
Phùng giật vội cuối đầu.
Ông quay người thật nhanh.
Cháo còn nóng.
Nhưng bàn tay ông lại ngắt.
A Thạch nhìn theo bóng hai cha con.
Ánh mắt hơi dừng lại trên chiếc đòn gánh cũ.
Rồi lặng lẽ cúi xuống.
Tiếp tục múc cháo cho người khác.
Có những gương mặt tưởng đã quên.
Đến khi gặp lại.
Ký ức chỉ cần một hơi thở cũng đủ thức dậy.
Chiều hôm ấy.
Hai cha con đặt chân đến rượt đường.
Trước cổng.
Từng hàng người ngồi chờ khám bệnh rất trật tự.
Mùi thuốc bắc thoảng nhẹ trong gió.
Phùng giật bước vào.
Ánh mắt ông vô tình dừng lại trên bức tường gỗ phía chính đường.
Ở đó.
Giữa rất nhiều vật cũ được treo cẩn thận.
Có một đoạn dây mây đỏ đã bạc màu theo năm tháng.
Hai chân ông bỗng cứng lại.
Hơi thở nghẹn nơi lồng ngực.
Ông nhận ra nó ngay từ cái nhìn đầu tiên.
Đó chính là đoạn dây từng buộc bó củi trên vai mình.
Năm mùa đông ấy.
Phùng giật đứng lặng rất lâu trước bức tường gỗ.
Đoạn dây mây đỏ đã ngả sang màu nâu xấm.
Được treo ngay ngắn trong một chiếc khung gỗ mọc.
Bao năm trôi qua.
Từng sợi mây đã sơ đi.
Nhưng cách thắt nút vẫn không khác năm ấy.
Ông khẽ lùi lại một bước.
Trong lòng trợt dây lên một linh cảm nặng như đá.
Một tiểu đồng bước đến.
Lễ phép mời hai cha con vào trong.
Phùng An được đưa sang gian bên bắt mạch trước.
Còn Phùng Giật vẫn đứng ngoài sân.
Ông nhìn chiếc cầu tre nhỏ bắt qua mương nước phía sau rực đường.
Vài người làm vườn đang gánh nước tưới những luống rực thảo xanh mướt.
Ở cuối vườn.
Á Thạch đang lom khom buộc lại mấy cành thuốc bị gió cuột ngá.
Mọi động tác đều chậm rãi.
Bình thản.
Như chưa từng có điều gì làm lòng người phải gợn sóng.
Một lát sau.
Tôn Khải Nguyên bước ra.
Mái tóc ông đã bạc quá nửa.
Khóe mắt hằn những nếp nhăn của tháng năm.
Nhưng ánh mắt vẫn sáng và hiền hòa.
Ông đưa tay bắt mạch cho Phùng An.
Rồi hỏi cạn kẽ từng biểu hiện suốt nhiều năm qua.
Sau khi xem hết đơn thuốc cũ.
Ông chầm ngâm khá lâu.
Có thể chữa.
Chỉ bốn chữ ấy.
Đã khiến Phùng Giật như chút được tảng đá trong lòng.
Nhưng ngay sau đó.
Tôn Khải Nguyên khẽ nói tiếp.
Muốn chữa khỏi.
Phải dùng một vị dược rất hiếm.
Khó thuốc hiện còn.
Nhưng cần vài ngày chuẩn bị.
Phùng Giật vội cuối đầu.
Dù tốn bao nhiêu bạc.
Xin tiên sinh cứ nói.
Tôn Khải Nguyên nhìn ông.
Ánh mắt rất bình tĩnh.
Tiền không phải điều đáng lo.
Điều đáng lo là lòng người.
Phùng Giật hơi giật mình.
Ông ngằng đầu lên.
Đúng lúc ấy.
Ánh mắt hai người chạm nhau.
Tôn Khải Nguyên nhìn rất lâu.
Lâu đến mức Phùng Giật không dám nhìn thẳng.
Ông thấy trong đôi mắt ấy có một cảm giác rất quen.
Nhưng lại không nhớ nổi đã gặp ở đâu.
Chiều xuống.
Phùng An được sắp xếp nghỉ trong một gian phòng nhỏ.
Phùng Giật ngồi ngoài hiền.
Trước mặt là ngọn đèn dầu mới được thắp lên.
Ông nghe tiếng bức chân.
Ngằng đầu.
Tôn Khải Nguyên đang đứng trước mặt.
Ông rót hai chén trà.
Đầy một chén sang.
Hôm nay trời lạnh.
Uống chút trà đi.
Phùng dành người im lặng khá lâu.
Bất chợt.
Tôn Khải Nguyên cất tiếng.
Ông từng lên núi Thiên Phong nhiều năm.
Phùng Giật khựng lại.
Phải.
Có nhớ mùa đông 15 năm trước không?
Tay cầm chén trà của Phùng Giật run lên.
Một giọt nước nóng rơi xuống mu bàn tay.
Ông vẫn không thấy đào.
Tôn Khải Nguyên chậm dãi lấy từ trong tay áo ra đoạn dây mây đỏ.
Ông đặt lên bàn.
Vật này.
Ông còn nhớ chứ?
Phùng Giật nhìn không chấp mắt.
Mặt ông tái dần.
Môi run lên.
Bao nhiêu lời tự chấn an suốt 15 năm bỗng tan biến.
Cuối cùng.
Ông quỳ xuống.
Đầu cuối sát nền gạch.
Tôi nhớ.
Giọng ông khàn đặc.
Tôi nhớ.
Lần đầu tiên sau 15 năm.
Ông kể lại toàn bộ mọi chuyện.
Hôm sáng đưa con đi khám bệnh.
Đến 3 ngày cuối cùng phải gom bạc.
Đến tiếng cầu cứu giữa sườn núi.
Đến lúc bàn tay đã chạm vào thân cây rồi lại bung xuống.
Ông không biện minh.
Cũng không đổ lỗi.
Chỉ nói bằng giọng của một người đã mang gánh nặng ấy quá lâu.
Hôm ấy.
Tôi chỉ nghĩ nếu chậm một chút.
Con tôi sẽ chết.
Tôi không muốn ai chết.
Nhưng cuối cùng.
Tôi vẫn bỏ mặt một người.
Nói xong.
Ông cúi đầu thật thấp.
Hai vai run lên.
Đã rất nhiều năm rồi.
Ông chưa từng khóc.
Đêm nay.
Nước mắt cứ thế rơi xuống nền gạch.
Tôn Khải Nguyên vẫn lặng im.
Ông nhìn người đàn ông đang quỳ trước mặt.
Trong lòng cũng dậy lên những cảm xúc khó gọi thành tên.
Nếu năm ấy.
Phùng Giật chịu ở lại.
Có lẽ ông sẽ bớt đau.
Nhưng biết đâu.
Đứa bé đang sốt ở nhà lại mất cha.
Có những lựa chọn.
Đến tận cuối đời.
Vẫn không thể nói hoàn toàn đúng hay hoàn toàn sai.
Chỉ có điều.
Một khi đã chọn.
Con người phải đi hết con đường mà lựa chọn ấy mở ra.
Một lúc lâu sau.
Tôn Khải Nguyên mới lên tiếng.
Ông biết không.
Hôm ấy.
Ta từng oán ông.
Rất oán.
Nhưng người cứu ta.
Lại dạy ta một điều.
Ông nhìn ra khu vườn.
Nơi A Thạch vẫn đang cặm cụi phủ dơm cho những gốc thuốc.
Trước khi đem xuống.
Nếu lòng người chỉ biết ghi nhớ điều ác.
Thì điều thiện sẽ không còn chỗ để lớn lên.
Phùng Giật nghẹn lời.
Ông dập đầu thật mạnh.
Tôi biết mình không xứng xin tha thứ.
Nhưng.
Xin cứu con tôi.
Dù bắt tôi làm gì cũng được.
Tôn Khải Nguyên khẽ lắc đầu.
Ta có thể chữa bệnh.
Nhưng người quyết định chuyện này.
Không phải ta.
Phùng Giật ngẩn phát lên.
Trong lòng trật dâng lên một dự cảm khó tả.
Đúng lúc ấy.
A Thạch từ ngoài vườn bước vào.
Trên vai vẫn còn chiếc gùi cũ.
Ở góc quai gùi.
Đoạn dây mây đỏ còn lại khẽ lay động theo từng bước chân.
Tôn Khải Nguyên nhìn sang A Thạch rồi chậm rãi nói.
Người đã cứu mạng ta năm ấy.
Cũng chính là người đang giữ toàn bộ vườn dược này.
Vị thuốc cứu con ông.
Do A Thạch quyết định dùng cho ai.
Phùng Giật như chết lặng.
Ông chậm rãi quay đầu nhìn A Thạch.
15 năm trước.
Đó chỉ là một thiếu niên gầy gò với đôi dép cỏ rách quài.
Còn bây giờ.
Người ấy đã trở thành người chăm non.
Ca một vườn dược rộng lớn.
Cũng là người hiểu rõ từng vị thuốc quý hơn bất cứ ai.
A Thạch bước đến.
Cậu nhìn Phùng Giật rất lâu.
Ánh mắt bình thản.
Không oán hận.
Cũng không hả hề.
Chỉ như đang nhìn một người đã đi quá xa trên con đường của chính mình.
Phùng Giật đứng dậy.
Rồi lại quý xuống.
Lần này.
Ông quý trước mặt A Thạch.
Tất cả đều là lỗi của tôi.
Nếu cậu còn giận.
Tôi xin nhận.
Chỉ xin cứu lấy con trai tôi.
A Thạch vội lùi nửa bước.
Ông không để người lớn tuổi hơn mình quý lâu.
Liên đưa tay đỡ dậy.
Đừng như vậy.
Phùng Giật vẫn cúi đầu.
Tôi không dám mong được tha thứ.
Tôi chỉ mong.
Ông nghẹn lại.
Đừng để lỗi của tôi khiến con tôi phải gánh.
A Thạch không đáp ngay.
Ông quay sang nhìn Tôn Khải Nguyên.
Hai người hiểu ý nhau mà không cần nói thêm.
Chiều hôm ấy.
Một người cưỡi ngựa hớt hải chạy vào dược đường.
Trên lưng ngựa là một đứa bé trừng 6 tuổi.
Toàn thân nóng như lửa.
Cha mẹ đứa trẻ vừa đi vừa khóc.
Họ đến từ vùng hạ lưu vừa bị nước lũ cuốn qua.
Đứa bé mắc trứng nhiệt độc rất nặng.
Nếu không dùng ngay vị thuốc quý trong kho.
Khó lòng giữ được mạng sống.
Tôn Khải Nguyên lập tức bắt mạch.
Ông khẽ như mày.
Rồi quay sang A Thạch.
Trong kho.
Còn bao nhiêu huyết tâm thảo.
A Thạch đáp nhỏ.
Chỉ còn một gốc đã đủ tuổi dùng.
Cả gian phòng bỗng im phăng phắc.
Phùng giật nghe vậy.
Hai chân mềm nhũn.
Chỉ còn gốc thấp.
Nghĩa là chỉ đủ cứu một người.
Một bên là Phùng An.
Một bên là đứa trẻ vừa được đưa tới.
Cả hai đều đang chờ vị thuốc ấy.
Ngoài sân.
Gió chiều thổi qua những dàn thuốc khô phát ra tiếng xào xạc.
Không ai mở lời.
Cha mẹ đứa trẻ vùng lũ quý xuống.
Họ dập đầu liên tục.
Xin cứu con chúng tôi.
Nhà chúng tôi không còn gì cả.
Châu mất.
Ruộng cũng mất.
Chỉ còn đứa nhỏ này.
Phùng giật nghe từng lời.
Lòng như bị ai bóp chặt.
Ông nhớ đến chính mình 15 năm trước.
Cũng từng quỷ.
Cũng từng cầu xin.
Cũng chỉ mong giữ lại người thân duy nhất.
Ông nhìn sang Phùng An.
Con trai đang dựa vào vách sắc mặt trắng bạch.
Mỗi hơi thở đều nặng nhọc.
Phùng An khẽ nắm tay cha.
Cha.
Nếu.
Cậu chưa nói hết cậu.
Một cơn đau lại khiến cậu ôm ngực.
Phùng giật lập tức đỡ lấy con.
Nước mắt lặng lẽ chảy xuống.
Ông quay về phía tôn Khải Nguyên.
Tôi bán hết nhà cửa.
Bán cả đất.
Bao nhiêu bạc cũng được.
Xin cứu con tôi.
Tôn Khải Nguyên khẽ lắc đầu.
Đây không còn là chuyện bạc.
Ông nhìn sang A Thạch.
Từ ngày lập dược đường.
Ta đã giao vườn thuốc cho người.
Hôm nay.
Người quyết định.
Mọi ánh mắt đều hướng về A Thạch.
Ông đứng rất lâu.
Không ai thúc giục.
Bởi ai cũng hiểu.
Quyết định này sẽ thay đổi số phận của nhiều người.
A Thạch chậm dãi bước ra vườn thuốc.
Ông dừng trước luống huyết tâm thảo.
Chỉ còn đúng một cây.
Lá xanh đậm.
Giữa thân vừa nhú nụ đỏ.
Bao năm chăm sóc.
Chỉ để chờ ngày cứu người.
Ông cúi xuống.
Đầu ngón tay khẽ chạm vào chiếc lá.
Trong đầu bỗng hiện lên mùa đông năm ấy.
Một người bỏ đi.
Một người ở lại.
Nếu hôm ấy.
Ông cũng quay lưng.
Có lẽ hôm nay chẳng còn ai đứng nơi đây.
Nhưng nếu hôm nay.
Ông chỉ nhìn vào món nợ cũ.
Liệu mình có khác gì người năm ấy?
A Thạch khẽ nhắm mắt.
Đến khi mở mắt ra.
Ông đã có quyết định.
Ông quay vào chính đường.
Cây thuốc này.
Tôi sẽ chia làm hai.
Một vị lang chung đứng cạnh lập tức lắc đầu.
Không được.
Dược tính sẽ giảm.
Cả hai đều có thể không cứu nổi.
A Thạch bình tĩnh đáp.
Vậy thì tôi sẽ lên bắc nhằm.
Nghe đến hai chữ ấy.
Tôn Khải Nguyên lập tức ngằng đầu.
Không được.
Trên đó vừa có tuyết.
Lối đi rất nguy hiểm.
A Thạch mỉm cười.
Con nhớ.
Ba năm trước.
Ở vách đá phía đông.
Vẫn còn vài gốc khuyết tâm thảo nón.
Nếu còn sống.
Giờ vừa đủ tuổi.
Một vị lang chung già thở dài.
Muốn đi rồi về.
Ít nhất cũng phải đến sáng mai.
A Thạch nhìn hai bệnh nhân đang nằm trong phòng.
Vậy thì phải đi ngay.
Ông cởi chiếc áo ngoài đặt lên ghế.
Chỉ mang theo dao đi rừng.
Một cuộn dây thừng và chiếc gùi cũ.
Phùng Giật vội chạy theo.
Tôi đi cùng.
A Thạch lắc đầu.
Ông ở lại.
Nếu tôi không về kịp.
Còn phải có người chăm Phùng An.
Nói xong.
Ông bước nhanh ra khỏi giữa đường.
Chiếc gùi trên lưng khẽ đung đưa.
Đoạn dây mây đỏ vẫn buộc nơi góc quai gùi như 15 năm trước.
Phùng Giật đứng lặng dưới mái hiên.
Ông nhìn theo bóng người khuất dần trong màn tuyết.
Lần đầu tiên sau nhiều năm.
Ông hiểu thế nào là một lựa chọn có thể quyết định cả số phận của người khác.
Chỉ khác rằng.
15 năm trước.
Người quay lưng là ông.
Còn hôm nay.
Người bước ngược về phía hiểm nguy.
Lại là A Thạch.
Đêm ấy.
Tuyết rơi dày hơn.
Con đường lên Bắc Nham vốn chỉ vừa đủ một người đi này đã bị gió phủ kín.
Mỗi bước chân của A Thạch đều lún sâu vào lớp tuyết lạnh bút.
Chiếc gùi sau lưng va khẽ vào vách đá.
Đoạn dây mây đỏ khẽ đung đưa trong gió.
A Thạch đã thuộc từng lối mòn trên dãy thiên phong.
Nhưng mùa đông chưa bao giờ dễ đi.
Ông cầm ngọn đuốc nhỏ.
Vừa lần theo vách núi.
Vừa tìm những khe đá có thể mọc khuyết tâm thảo.
Một canh dở trôi qua.
Rồi hai canh dở.
Bàn tay cầm đuốc đã tê cứng.
Đến gần nửa đêm.
Ông mới nhìn thấy vài chiếc lá đỏ sẫm ló ra dưới khe đá.
Đúng là khuyết tâm thảo.
Ba góc đều đã đủ tội dụng.
A Thạch mỉm cười.
Ông cẩn thận đào từng góc.
Gói vào lớp rêu ẩm rồi đặt trong gùi.
Ngay lúc quay người.
Một màng đá dưới chân bất ngờ sạt xuống.
Cả người ông trượt mạnh về phía mép vực.
Theo phản xả.
A Thạch ôm chặt chiếc gùi vào ngực.
Một tay bám lấy rễ cây khô.
Lớp đất dưới rễ bắt đầu dạn nứt.
Ông biết nếu giữ chiếc gùi.
Khó mà leo lên.
Nhưng nếu buông nó.
Hai mạng người dưới núi sẽ không còn hy vọng.
Ông nhiến chặt răng.
Dồn hết sức kéo mình lên.
Rễ cây bật khỏi đất.
Cả người ông lại lan thêm một đoạn.
Vai va mạnh vào đá.
Máu thấm đỏ lớp áo.
Phải rất lâu sau.
Ông mới gượng đứng dậy.
Chiếc gùi vẫn còn nguyên.
Khi A Thạch trở về rực đường thì trời vừa hứng sáng.
Ông vừa bước qua cổng đã ngã khuyểu.
Chiếc gùi rơi xuống nền gạch.
Ba gốc quyết tâm thảo vẫn còn nguyên vẹn.
Tôn Khải Nguyên lao tới.
Vừa nhìn vết thương trên vai.
Sắc mặt ông lập tức đổi khác.
A Thạch.
Ngươi.
A Thạch chỉ khẽ cười.
Thuốc.
Không sao.
Vẫn còn đủ.
Nói xong.
Ông thiếp đi.
Cả rực đường lập tức sáng đèn.
Những vị thuốc quý nhất được mang ra.
Tôn Khải Nguyên cùng các lang chung chia nhau sắc thuốc.
Một phần dành cho Phùng An.
Một phần dành cho đứa trẻ vùng lũ.
Đến quá trưa.
Hơi thở của cả hai dân ổn định.
Sắc mặt cũng bớt tái.
Mọi người đều thở phảo.
Chỉ có căn phòng bên cạnh vẫn là ngắt.
A Thạch nằm yên trên chiếc giường tre.
Khí lạnh đã ngấm quá sâu.
Lại thêm mất máu nhiều.
Dù Tôn Khải Nguyên cố gắng đến đâu.
Ông cũng chỉ khẽ mở mắt một lần.
Phùng giật quỳ bên giường.
A Thạch.
Tôi nợ cậu.
Nợ cả đời.
A Thạch khẽ lắc đầu.
Đừng.
Đừng nợ tôi.
Nếu thật sự muốn trả.
Hãy giúp người khác.
Như hôm nay.
Ông dừng lại để lấy hơi.
Khóe môi vẫn giữ nguyên nụ cười hiền hậu.
Thế là đủ.
Đó cũng là câu cuối cùng.
Bàn tay đang đặt trên mép chân từ từ buông xuống.
Căn phòng lặng như tờ.
Tôn Khải Nguyên chậm rãi khép mắt cho người học trò.
Cũng là ân nhân đã thay đổi cả cuộc đời mình.
Ngoài hiền.
Gió xuân đầu mùa vừa khẽ thổi qua.
Tăng lễ của A Thạch không lớn.
Chỉ có dân trong huyện.
Những người từng được phát một bát cháo.
Những người từng được cứu bằng một thang thuốc.
Những người từng được ông giúp qua cơn hoạn nạn.
Ai cũng mang theo một nắm đất.
Một bó củi.
Một gánh nước.
Hay chỉ là một nén hương.
Không ai bảo ai.
Họ cùng vun lên một ngôi mộ nhỏ nhìn về phía dãy thiên phòng.
Sau biến cố ấy.
Phùng An dần bình phục.
Trang không trở về làng cũ mà xin ở lại rực đường.
Mỗi ngày học cách nhận biết cây thuốc.
Học cách sắc thuốc.
Học cách cứu người.
Phùng Giật cũng không quay về.
Ông chủ động xin làm những việc nặng nhất.
Lên núi đốn củi.
Gánh nước.
Sửa cầu tre.
Dựng lại lều nghỉ chân cho người đi rừng.
Bao nhiêu năm sau.
Không một ai còn thấy ông từ chối người cầu cứu.
Có hôm đang gánh củi giữa đường.
Chỉ cần nghe tiếng gọi.
Ông lập tức đặt đòn gánh xuống.
Đi trước.
Việc sau.
Tôn Khải Nguyên không ngăn.
Ông chỉ lặng lẽ nhìn.
Ông hiểu.
Có những món nợ không thể trả bằng lời xin lỗi.
Chỉ có thể trả bằng cả quãng đời còn lại.
Trước cửa căn lều nghỉ chân giữa lưng núi.
Phùng Giật treo chiếc bó củi cùng mình từng buộc bằng dây mây đỏ.
Ông không tháo sợi dây ấy.
Để mỗi lần nhìn thấy.
Lại nhớ.
Có một mùa đông đã đã thay đổi cả số phận của bao con người.
Bên hiên lều luôn có một ấm nước nóng.
Vài chiếc bát sành sạch sẽ.
Một chiếc áo tơi đã vá nhiều lần.
Và ít thuốc cầm máu dành cho khách lỡ đường.
Người đi núi không còn biết vì sao nơi ấy chẳng bao giờ đóng cửa.
Chỉ biết rằng nếu gặp nạn.
Luôn có người chạy đến trước khi kịp cất tiếng cầu cứu.
Năm tháng lặng lẽ trôi đi.
Vườn dược vẫn xanh sau mỗi mùa mưa nắng.
Phùng An tiếp tục chăm sóc từng luống thuốc.
Như chăm sóc ân tình mà mình mang nợ.
Tôn Khải Nguyên vẫn chữa bệnh như thuở trước.
Chỉ khác rằng mỗi khi thấy ai dừng chân giúp một người xa lạ.
Ông đều mỉm cười thật lâu.
Có người nghĩ rằng thấy người gặp nạn.
Mà quay lưng chỉ là tránh đi một chuyện không liên quan đến mình.
Nhưng thật ra ngay khoảnh khắc ngoảnh mặt bước đi.
Nhân quả đã bắt đầu lặng lẽ gieo xuống một hạt giống.
Đến khi duyên đủ đầy.
Điều đã gieo sẽ trở lại bằng một cách không ai ngờ tới.
Cứu người là gieo phúc cho đời sau.
Quay lưng trước điều thiện cũng là một lựa chọn.
Và mọi lựa chọn đều có ngày kết thành quả.
Người giữ được lòng chắc ẩn giữa lúc người khác khốn cùng.
Không chỉ cứu một sinh mạng trước mắt.
Mà còn âm thầm mở ra một con đường sáng cho chính vận mệnh của mình.
Và những người sẽ gặp trên suốt quãng đời còn lại.
