The video explores the theory that human intellectual breakthroughs are not random but are \"downloads\" from a universal consciousness or the Akashic Records. By analyzing historical leaps in science, spirituality, and quantum physics, it suggests that a cosmic intelligence guides human evolution, providing critical knowledge to selected individuals to ensure the survival and growth of the species.
Hôm nay, tôi sẽ kể cho mọi người một bí mật vừa huyền bí lại vô cùng khó tìm.
Đó là tôi đã phát hiện ra một quy luật vô cùng to lớn.
Trong khoảng thời gian hơn 1.000 năm trước Công Nguyên đến khi Chúa Giê-xu ra đời,
trong chính đoạn thời gian này, trí thức của loài người đột nhiên có bước đột phá, vượt bậc.
Và lúc này trên khắp thế giới xuất hiện rất nhiều lãnh tụ tinh thần như các nhà tiên tri Do Thái, Phật Thế Cà-mô-ni hay Chúa Giê-xu.
Và rồi tiếp đến thế kỷ 18, có rất nhiều nhà khoa học vào lúc này họ đột nhiên có những giấc mơ.
Mà trong mơ, họ đã làm những thí nghiệm thành công.
Đồng thời, cũng lại đúng vào lúc này, xuất hiện những nhà thống linh.
Những người này nói mình có thể kết nối đến thư viện Akashic, nhìn thấy quá khứ, tương lai, thật sự quá kỳ dị.
Điều này giống như trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại,
có một loại dẫn dắt ý thức có chủ đích để nói cho con người biết một số bí mật.
Và rồi tôi đã tham khảo hơn 20 bài viết về lựa tự và ý thức.
Sau đó tôi vền phát hiện, có lẽ tôi đã tìm ra vị thần cuối cùng.
Vậy điều này rốt cuộc là gì? Hôm nay chúng ta hãy cùng nói về Akashic, giấc mơ, thần chính là ánh sáng.
Xin chào các bạn, mình là Miss Ruby.
Câu chuyện hôm nay bắt đầu vào đêm ngày 17 tháng 2 năm 1869.
Để tìm ra quy luật giữa 65 nguyên tố, nhà khoa học người Nga Dmitri Mendeleev
đã làm việc liên tục suốt 3 ngày 3 đêm.
Ông lao lực đến mức tóc gần như dụng hết nhưng vẫn không tìm ra bất cứ quy luật nào.
Cuối cùng vì kiệt sức, ông đã gục xuống bàn và ngủ thiếp đi.
Sau khi chìm vào giấc ngủ, ông đã trải qua một giấc mơ vô cùng kỳ lạ.
Mendeleev viết, trong giấc mơ, tôi nhìn thấy rõ ràng một bàn biểu.
Khi ấy tất cả các nguyên tố, chúng đều tự động rời vào những ô trên bàn này theo đúng quy luật.
Và dù đột nhiên tôi tỉnh dậy, trộp ngay lên một tờ giấy và viết lại toàn bộ những gì mình vừa nhìn thấy.
Chính bảng tuần hoàn mà Mendeleev ghi lại sau giấc mơ đã trở thành một trong những phát hiện vĩ đại nhất
của thế kỷ 19 khiến giới khoa học thời bấy giờ phải kinh ngạc.
Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học.
Câu chuyện này vô cùng nổi tiếng, rất nhiều người đều đã từng nghe qua.
Hơn nữa rất nhiều người cũng cho rằng đây có lẽ chỉ là khoảnh khắc linh cảm bùng nổ
của một nhà khoa học sau nhiều ngày suy nghĩ liên tục.
Thế nhưng các bạn hãy xem đến cuối cùng, tôi sẽ kể thêm một vài câu chuyện nữa
thì bạn sẽ phát hiện tất cả những trùng hợp này có thể đều không phải là trùng hợp.
Trước tiên hãy quay ngược thời gian về năm 1840 tại Boston, Hoa Kỳ.
Ở đây có một người đàn ông tên Elias Howe.
Elias vẫn luôn muốn cải tiến thiết kế của máy khâu nhưng đã nhiều lần thử nghiệm
mà vẫn chẳng có tiến triển gì.
Trong cuốn lịch sử và gia phà Beameis có ghi lại,
vào một đêm nọ, Elias mờ thế mình bỗng bước vào một vườn quốc kỳ ảo,
giống như Alice lạc vào sứ sở thần tiên vậy.
Thế nhưng ông chưa đi được mấy bước thì đã bị một nhóm bình lính bắt sữ
và áp giải đến trước mặt một vị vua tàn bạo.
Nhà vua lập tức ra lệnh, Elias, trong vòng 24 giờ,
người phải thiết kế cho ta một chiếc máy khâu hoàn toàn mới.
Ngay sau đó, ông bị tống vào ngục tối.
Suốt nhiều giờ liền, ông vắt óc hoàn thiện bản thiết kế
nhưng dù suy nghĩ thế nào đi chăng nữa cũng không có kết quả.
Vài ngày sau, Elias bị đưa ra pháp trường để hành quyết.
Vì quá kinh sợ, ông quỳ sụp xuống đất, bật khóc và van xin.
Xin hãy tha mạng cho tôi, tôi chỉ là một nhà thiết kế bình thường.
Và đúng lúc này, ông đột nhiên ngẩn đầu lên,
bất ngờ nhìn thấy trên tay những người lính hành hình đang cầm những cây sáo.
Và điều kỳ lạ là ngay gần mũi của mỗi cây sáo đều có một cái lỗ.
Ngày sau đó, Elias bừng tỉnh. Lúc đó là 4 giờ sáng,
ông ấy vừa vội chiếc áo khoác lên người từ trong phòng lao ra, chạy ngay đến phòng làm việc.
Và rồi đến 9 giờ sáng, ông ấy đã chế tạo ra một chiếc kim có lỗ.
Và đây chính là bằng sáng chế kim máy khâu kiểu móc xích có lỗ thay đổi cả ngành công nghiệp dệt may.
Từ đó trở đi, ngành dệt may thế giới bắt đầu bước vào kỷ nguyên mới,
sản xuất quy mô lớn. Và máy khâu của chúng ta hiện nay thậm chí vẫn sử dụng loại kim có lỗ này.
Tiếp đó lại qua mấy năm sau, năm 1850, nhà thần kinh học người Đức Hermann
Helmholtz đã mở thấy những tìa lửa bốc cháy, lao vun vút dọc theo một đường đua.
Và rồi khi vừa tỉnh dậy, ông liền có ngay ý tưởng,
rồi vội bắt tay vào thiết kế thí nghiệm để kiểm chứng.
Sau nhiều lần thí nghiệm, ông đã đo được tốc độ dẫn chuyển thần kinh ở X.
Quà đó chứng minh rằng sự dẫn chuyển thần kinh là một quá trình vật lý và hóa học.
Phát hiện này đã mở ra kỷ nguyên của sinh lý học thực nghiệm hiện đại.
Sau khi Mendeleev tìm ra bảng tuần hoàn các nguyên tố vào năm 1869,
vài thập kỷ sau vào năm 1895, Albert Einstein cũng có một trải nghiệm vô cùng đặc biệt.
Ông mơ thấy mình đang ngồi trên một chiếc xe trượt tuyết lao đi với tốc độ ngày càng tiến gần
đến tốc độ ánh sáng. Khi ấy, mọi vật xung quanh, kể cả những ngôi sao trên bầu trời,
dường như bắt đầu hòa vào nhau. Kể từ giấc mơ đó,
Einstein bắt đầu nghiên cứu về tốc độ ánh sáng và tuyết tương đối.
Tiếp theo, từ năm 1887 đến 1920, quãng thời gian này vô cùng thân bí. Một lượng lớn những
người kỳ lạ, ồ ác xuất hiện. Một trong số đó là nhà toán học người Ấn Độ Ramanujan.
Trong mơ, ông đã mơ thấy nữ thần cho mình công thức toán học, và rồi ông ấy đã ghi lại hết
hơn 3.000 công thức mà mình mơ thấy, gửi cho Godfrey Hardy, một trong những nhà toán học người
Anh hàng đầu thế giới vào đầu thế kỷ 20, cuối cùng chấn động toàn thế giới.
Mà cho đến hiện nay, sau khi AI xuất hiện, người ta mới biết hóa ra những công thức này có thể dùng
để đo các hố đèn trong vũ trụ. Điều này quá là kỳ lạ. Trừ khi tiếp tục, Ruby có tin vui dành cho
tất cả mọi người. Ruby đã tìm thấy sản phẩm cực đỉnh dành cho những ai có vấn đề về mắt,
đặc biệt những người dùng máy tính lướt điện thoại hơn 10 tiếng một ngày như Ruby.
Đó chính là Wild West, miếng rán mắt lạnh. Tại sao Ruby lại muốn chia sẻ sản phẩm này?
Trên thực tế, mình đã bị cận hơn 10 năm rồi, nhưng hầu như rất ít đeo kính.
Những khán giả theo dõi kênh Ruby từ đầu chắc đều nhớ. Mặc dù đã lên hình 6 năm,
nhưng chỉ khoảng 1 năm gần đây mình mới đeo kính. Tại sao lại như vậy?
Bởi thời gian vừa rồi mắt mình hay bị cay, rất mỏi và nhìn không rõ.
Nếu không đeo kính, hầu như không thể nhìn thấy chữ trước máy quay.
Và các ngày 2 tháng mình phải đi đo lại vì nghĩ chắc mắt đã lên độ nên thị lực mới kém như vậy.
Nhưng kết quả là không hề. Mắt mình hầu như không tăng mấy so với 10 năm trước.
Mình không biết nên làm gì để cải thiện mắt trong tình trạng này.
Và thế là khi được giới thiệu sản phẩm này, mình đã thử dùng xem sao.
Mình chọn Wild West vì miếng rán mắt lạnh này cực lạ.
Nó kết hợp giữa bài thuốc thảo dược đông y truyền thống với công nghệ chiến suất hiện đại của Nhật.
Nhiều mọi người cũng biết theo y học cổ truyền Trung Hoa,
trên khắp cơ thể có các huyệt đạo kết nối với những cơ quan khác nhau.
Và các huyệt đạo quanh mắt liên kết với gan, thận và nhiều chức năng khác của cơ thể.
Việc kích thích các huyệt đạo quanh mắt bằng những miếng rán thảo dược nhỏ nhưng có võ này
có thể giúp làm dịu tình trạng căng thẳng và mệt mỏi của mắt.
Mình đã sử dụng và cải thiện rất tốt.
Nó thực sự đúng như vị cứu tinh cho những ai có vấn đề về mắt.
Hãy mau thử Wild West, massage cho những huyệt đạo quanh mắt bạn.
Rán mỗi tối trước khi đi ngủ, nhắm mắt lại.
Bàn đầu có thể hơi cay nhưng rất nhanh sau đó sẽ rất dễ chịu,
giúp bạn thoải mái, chìm và giấc ngủ.
Và nếu bạn đang có nhu cầu cho mình hoặc người thân,
thoán nhanh tìm hiểu thêm dõi hàng và link website mình để bên dưới nha.
Và bây giờ chúng ta hãy cùng quay trở lại.
Và về sau vẫn còn rất nhiều trường hợp nữa.
Ví dụ năm 1913, Neil Baugh nói trong mơ, ông thấy mình ngồi trên mặt trời,
nhìn thấy các hành tinh phát ra tiếng lách tách và những hành tinh này đều quay quanh mặt trời.
Và về sau đó, ông đã khám phá và phát triển ra mô hình nguyên tự.
Và còn các trường hợp khác như sự chiết xuất insulin vào năm 1920,
và còn cấu trúc vòng benzene, cấu trúc chuỗi xoắn kép của DNA.
Tất cả những khám phá này đều được phát hiện trong giấc mơ.
Quá kỳ lạ đúng không?
Nếu chúng ta chỉ nhìn từng trường hợp riêng lẻ,
có lẽ nhiều người sẽ cho rằng, ấy, đó chỉ là sự trùng hợp.
Nhưng nếu chúng ta đặt nó theo thứ tự dòng thời gian,
mọi người sẽ phát hiện, ở đây có một loại quy luật vô cùng kỳ lạ.
Khi khoa học và công nghệ của nhân loại bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ,
cũng là lúc xuất hiện những hiện tượng thần bí,
linh cảm, những nhà tiên tri, người thông linh hay những người sở hữu khả năng đặc biệt.
Liệu đó chỉ là sự trùng hợp hay có một điều gì khác đang ẩn dấu phía sau?
Bây giờ, tôi sẽ cho các bạn xem một bức ảnh.
Khi quan sát kỹ, bạn sẽ phát hiện bên trong nó ẩn chứa rất nhiều quy luật kỳ bí.
Bức ảnh này được công bố bởi Trung tâm Sứ liệu Thế giới,
một tổ chức phi lợi nhuận chuyên thu thập và số hóa dữ liệu toàn cầu về kinh tế,
chính trị, chiến tranh, bất bình đẳng giàu nghèo, chuẩn mực đạo đức cùng nhiều lĩnh vực khác.
Dựa trên dữ liệu về sự phát triển của khoa học và công nghệ trong lịch sử nhân loại,
họ đã xây dựng ra biểu đồ này.
Trước tiên, hãy nhìn vào biểu tượng vòng xoáy này. Chính giữa vòng xoáy là một ngôi sao.
Biểu đồ và ngôi sao tượng trưng cho thời đại khoảng 3-4 triệu năm trước khi tổ tiên loài người xuất hiện.
Xin lưu ý, đây là loài được cho là tổ tiên rất xa xưa của con người,
loài mà nhìn chẳng giống con người chút nào ấy.
Và rồi, cho đến cách đây 1 triệu năm. Đến chỗ thú vị rồi đây.
Mọi người xem chú thích ở đây có nghĩa là từ 3-4 triệu đến 1 triệu,
con người phải mất 2,4 triệu năm mới học được cách sử dụng lửa để nấu thức ăn.
Lại trải qua thêm 700.000 năm nữa mới xuất hiện người tinh khôn.
Tiếp theo, loài người mất khoảng 100.000 năm mới phát minh ra chiếc giường cùng ga chải giường
và những vật dụng tương tự. Sau đó thêm khoảng 140.000 năm nữa mới xuất hiện cùng tên.
Rồi lại trải qua thêm 17.000 năm, loài người mới phát minh ra âm nhạc.
Hiện nay nhạc cụ cổ xưa nhất được phát hiện là một chiếc xáo có niên đại khoảng 17.000 năm.
Nhìn vào toàn bộ quá trình này, mọi người sẽ thấy một điều rất thú vị.
Trong suốt 3-4 triệu năm, vòng xoáy trên biểu đồ gần như chỉ quay tại chỗ,
biểu thị cho việc trí thức của loài người hầu như không có bước phát triển, đột phá nào.
Nhưng đến khoảng 50.000 trước công nguyên, trên biểu đồ có ghi trú rằng nông nghiệp bắt đầu xuất hiện.
Cũng từ thời điểm này, khoa học và công nghệ của loài người bắt đầu phát triển nhanh hơn.
Đường biểu thị không còn là một vòng xoáy quay tròn nữa mà chuyển thành một đường thẳng.
Và đây mới là điều thực sự thú vị. Theo những bức chạm khắc và các bảng đất xét còn lưu lại
từ nền văn minh suma cổ đại, nền nông nghiệp này không phải do con người tự nghiên cứu ra,
mà là do thần Anunnaki truyền dạy cho. Trên một số bức chạm khắc còn khắc họa cảnh một vị
thần trao cho con người một chiếc cày, đồng thơ truyền dạy cả kiến thức về thiền văn học.
Và rồi tiếp theo, càng thú vị hơn. Mọi người xem, giai đoạn từ khoảng 5.000 trước công nguyên
đến 5.0, thời điểm Chúa Giê-xu ra đời, trình độ phát triển của nhân loại bỗng tăng vọt.
Nếu trước đó giống như đang đi xe bò, thì đến giai đoạn này chẳng khác nào chuyển sang lái một chiếc xe
thể thao. Đây là một thời kỳ vô cùng đặc biệt. Trong các video trước chúng ta cũng từng nhắc đến
giai đoạn được gọi là thời trục nhân loại này. Chính là thời kỳ mà ở nhiều nơi trên thế giới,
gần như đồng thời xuất hiện vô số các bậc hiển chiết, thánh nhân và các nhà tiên tri. Họ
truyền bán những tư tưởng và chi thức vượt xa sự hiểu biết của con người đương thời. Ví dụ,
tại Ấn Độ cổ đại xuất hiện Thích Cà-mô-nì của Phật giáo, Mahavira, bậc khai sáng của kỳ na giáo,
và còn có Áo Nghĩa Thư, tập hợp kinh chiết học cổ của Ấn Độ giáo, nói về những bí mật của vũ trụ
và sinh mệnh. Tư tưởng của Ấn Độ thời kỳ này tập trung vào vũ trụ, con đường tu hành và sự giải thoát
khỏi luân hồi. Trong khi đó, ở Trung Đông lại xuất hiện nhiều nhà tiên tri như Isaiah, Jeremiah và
Zarathustra, người sáng lập hỏa giáo. Học thiếu của họ chủ yếu đề cập đến lời tiên tri, thượng đế,
sự cứu rỗi và tương lai của nhân loại. Tiếp tục về phía Tây, cũng trong cùng khoảng thời gian đấy,
khu vực địa trung hải xuất hiện Sogorath, Plato, Aristotle cùng nhiều chiếc giá khác.
Và đừng quên phương Đông, cai nô của nhiều bậc thánh hiền và chiếc giá vĩ đại. Không từ để lại luận ngữ,
lão tử của đạo đức kinh, còn Đức Phật để lại nền tảng của tạm tạng kinh điện. Dù có khác nhau về tư tưởng,
nhưng các tác phẩm ấy đều đi tìm lời giải cho những câu hỏi căn bản nhất của con người. Chúng ta là ai?
Cần sống như thế nào? Nên đối đải với người khác ra sao? Và làm thế nào để xung hòa với xã hội,
cũng như với chính bản thân mình? Nhìn toàn cảnh bức tranh này,
có thể thấy bước ngoặt thực sự của tri thức nhân loại bắt đầu từ khoảng năm 1000 trước Công Nguyên.
Từ đó, ở nhiều nơi trên thế giới lần lượt xuất hiện các bậc khai sáng,
nhà tiên tri và những nhân vật có ảnh hưởng lớn đến lịch sử tư tưởng của con người.
Họ đều nói mình đã nhìn thấy thần, đã nhận được sự khai thị hoặc mặc khải từ thần,
hoặc đạt đến sự giác ngộ thông qua tù hành và thiền định.
Điển hình là những bậc thánh nhân như Phật Thích Cà Mô Ni và Khổng Tự,
sau khi nhập định hoặc đạt đến trạng thái giác ngộ,
họ bỗng lĩnh hội được những chân lý và tri thức vượt xa hiểu biết của người thường.
Đặc biệt là Phật Thích Cà Mô Ni, ngay trong khoảnh khắc giác ngộ dưới cội vô đề,
ông đã thấu hiểu những tri thức rộng lớn về vũ trụ, về các cõi trời,
cùng vô số chúng sinh như thiên nhân và long nhân.
Sau đó ông đem những điều mình chứng ngộ giảng lại cho con người thế gian.
Con người thời đó đều hết sức kinh ngạc, làm sao một con người lại có thể biết được nhiều đến như vậy?
Và những tri thức ấy rốt cuộc đến từ đâu?
Vì sao chúng lại bất ngờ xuất hiện rồi bùng nộ trong một khoảng thời gian tương đối ngắn?
Vì sao tri thức của nhân loại tăng tốc phát triển mạnh mẽ vào đúng giai đoạn ấy?
Tất cả những điều đó bắt nguồn từ đâu?
Có người giải thích rằng đây là kết quả của sự tích lũy sau cách mạng nông nghiệp,
khi con người có rụng đất, có nguồn lương thực ổn định,
dinh dưỡng được cải thiện và không còn phải lo cái ăn cái mặt mỗi ngày,
họ mới có tâm trí và thời gian để suy ngẫm, tìm hiểu về thế giới, về vũ trụ, thậm chí cả thần linh.
Logic này nghe có vẻ khiến nhiều người khuất phục, nhưng thực ra vẫn tồn tại một lỗ hỏng rất lớn.
Chẳng hạn nói rằng Ramanujan nhìn thấy các công thức toán học trong giấc mơ
là vì Kari Ấn Độ kích thích các giày thần kinh ở dạ dày, nên ban đêm ông mới mơ thấy chúng.
Họ cho rằng người nguyên thủy thời kỳ đồ đá không phát minh ra iPhone
vì thịt của voi mammoth chứa quá ít protein.
Nếu khi ấy họ được bổ sung bột protein, biết đâu sea drop đã xuất hiện sớm hơn vài triệu năm.
Nghe đến đây, bạn có cảm thấy logic này rất xài lệch hay không?
Mọi người hãy nhìn vào biểu đồ này tương như đang tồn tại một quy luật rất kỳ lạ.
Kể từ đầu thế kỷ 19, khoảng năm 1800, ngày càng nhiều nhà khoa học cho biết
họ tìm thấy lời dạy từ trong những giấc mơ.
Và cũng chính từ thời điểm ấy, khoa học kỹ thuật của nhân loại bắt đầu bước vào thời kỳ bùng nổ.
Nếu quan sát đường cong này, bạn sẽ thấy tốc độ phát triển không còn giống lái một chiếc xe thể thao,
mà giống như một chiếc máy bay bắt đầu vút lên.
Mỗi dấu mốc trên đường cong đều đại diện cho một bước đột phá màng tính lịch sự.
Trùng hợp đến kỳ lạ, bắt đầu từ thế kỷ 19,
ở nhiều nơi trên thế giới liên tục xuất hiện những người tự xưng là nhà thông linh.
Họ nói rằng sau một giấc mơ kỳ lạ, một lần giác ngộ hoặc một trải nghiệm tâm linh,
họ bỗng có được những hiểu biết vượt xa người bình thường.
Họ nhìn thấy những bí mật của vũ trụ, các nền văn minh cổ đại như Atlantis,
thậm chí còn tiếp cận được những trí thức mà nhân loại chưa từng biết đến.
Họ không nói mình là nhà tiên tri, bởi vì vào thời điểm này,
rất nhiều loại kinh điển đã ghi chép chết cứng về các nhà tiên tri,
đồng thời đều nhấn mạnh phải đề phòng những tiên tri giả.
Vì thế không ai dám nhận mình là nhà tiên tri, mà chỉ có thể nói mình là người thông linh.
Nhưng chỉ cần nhắc đến người thông linh,
người ta thường liên tưởng đến những kẻ làm cho mê tín hoặc lên đồng.
Vì vậy trong giai đoạn đó, những người này đều khá kinh tiếng.
Cộng chúng cũng chỉ xem các tác phẩm của họ viết ra như những câu chuyện kỳ bỉ huyển hoặc mà thôi.
Thế nhưng nếu hệ thống lại toàn bộ những nghiên cứu của họ cùng với các mốc thời gian liên quan,
chúng ta sẽ phát hiện rằng, đằng sau tất cả, tồn tại một quy luật vô cùng lớn.
Trước tiên, hãy nói về Helena Blavatsky, một nhân vật xuất hiện vào thế kỷ 18.
Bà sinh ra trong một gia đình quý tộc, sau một chuyến du hành đến Tây Tạng trở về,
bà bắt đầu kể cho mọi người nghe về nguồn gốc của vũ trụ, về thần và sự tiến hóa của loài người.
Bà nói, mọi thông tin mà mình nghe thấy đều được lưu giữ giữa ánh sáng tình tú bất diệt.
Một cõi dưới phi vật chất. Bà gọi cõi dưới đó là Akasha.
Và còn có một người khác tên là Liet Peter, thành viên của hội thông thiên học, hội tam điểm,
đồng thời cũng là một nhà văn chuyên nghiên cứu về thần bí học.
Ông tuyên bố rằng mình có thể đi vào Akasha, từ đó thu được những bí mật của trái đất thời cổ đại,
chẳng hạn như lịch sử chi tiết của Atlantis, Lemuria,
lục địa văn minh cổ đại bị nhấn chìm cùng rất nhiều bí mật khác.
Không chỉ vậy, ông còn nói rằng toàn bộ tri thức của mình đều đến từ cõi tình quàng siêu vật lý.
Tiếp theo là Edgar Cayce, người nổi tiếng vào khoảng cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20,
được mệnh danh là nhà tiên tri ngụ say. Ông gọi quá trình mình tiếp nhận tri thức từ Akasha là đọc.
Cho đến ngày nay, kho lưu chữ của ông vẫn còn tồn tại. Bên trong ghi chép chi tiết hơn 14.000 lần đọc
bao gồm tiền kiếp của từng người đến tìm ông để tư vấn,
cùng với rất nhiều thông tin liên quan đến Atlantis thời cổ đại.
Điều đặc biệt là mỗi lần trả lời câu hỏi của người khác,
Edgar Cayce đều phải nằm xuống và chìm vào giấc ngủ như thế này.
Chính vì vậy, ông mới được gọi là nhà tiên tri ngụ say.
Còn có một người mà có lẽ mọi người chưa từng nghe đến, nhưng đây lại là một nhân vật cực kỳ đặc biệt.
Tên ông là Walter Russell, bạn của Nikola Tesla.
Với những lý thuyết mà ông đưa ra, lẽ ra ông phải nhận được giải Nobel vật lý.
Thế nhưng bởi vì toàn bộ những chi thức mà ông nói đều là do chính mình mơ thấy,
nên cuối cùng ông lại không có duyên với bất kỳ giải thưởng khoa học nào.
Đến năm 1921, ông Russell đột nhiên trải qua một số hiện tượng vô cùng kỳ dị.
Walter Russell nói mình liên tục nghe thấy rất nhiều âm thanh. Sau đó,
ông đã ghi lại toàn bộ những gì nghe được và viết thành một cuốn sách có tên Vũ trụ số 1.
Khi hoàn thành, ông đã gửi một bản cho Tesla đọc. Sau khi đọc xong, Tesla đã trả lời ông,
ông nhất định phải giữ kín lý thuyết Vũ trụ của mình với thế giới trong 1.000 năm,
bởi vì nhân loại vẫn chưa sẵn sàng để hiểu chúng.
Đó chính là lời cảnh báo mà Tesla dành cho Walter Russell.
Và có lẽ cũng chính vì vậy mà cho đến tận ngày nay,
Walter Russell vẫn không phải là một nhân vật quá nổi tiếng là có nguyên nhân.
Vậy rốt cuộc thì lý thuyết của ông là gì mà lại phải che giấu suốt 1.000 năm?
Bởi vì, cũng chính do thử những điều mình nghe thấy vào thời điểm ấy,
ông suýt nữa đã bị đưa vào bệnh viện tâm thần.
Toàn bộ sự việc là như thế này. Walter Russell là một nhạc sĩ,
nghệ sĩ và kiến trúc sư thiết kế vô cùng nổi tiếng của nước Mỹ vào đầu thế kỷ 20.
Ông đặc biệt có thiên hướng về nghệ thuật, tình thông điêu khác, hội họa và thiết kế.
Thế nhưng, điều đáng nói là ông gần như hoàn toàn không biết gì về thiên văn học,
hóa học, toán học hay những lĩnh vực khoa học tương tự.
Cuộc đời của Russell quá thành công, thậm chí thành công đến mức ngay cả vào giai đoạn xa suốt nhất.
Nơi ông sống vẫn là căn hộ áp mái của Carnegie Hall tại Manhattan, New York.
Căn hộ ấy được bao quang bởi hệ thống cửa sổ kính từ sàn đến trần.
Toàn bộ khung cảnh tráng lệ của Manhattan nằm trọn trong tầm mắt.
Thế nhưng, một người vô cùng giàu có và cực kỳ thành công như vậy.
Bắt đầu từ ngày 10 tháng 5 năm 1921, theo ghi chép trong chính cuốn sách của mình,
Russell cho biết ông đã bất ngờ trải qua một lần được ánh sáng của ý thức vũ trụ chiếu dọi,
kéo dài suốt 39 ngày 39 đêm cho đến tận ngày 19 tháng 6.
Thế nhưng, ánh sáng ấy suốt cuộc đã chiếu dọi như thế nào thì ông hoàn toàn không mô tả.
Chỉ biết sau sự việc này, những người xung quanh đều cảm thấy Russell dường như đã phát điên.
Bởi kể từ thời điểm đó, ông bắt đầu nói ra những điều vô cùng kỳ quái.
Russell nói trong khoảng thời gian được ý thức vũ trụ chiếu dọi,
ông có thể cảm nhận được mọi sự vật đang chuyển động xung quanh mình.
Ông nói mình có thể cảm nhận được sự chuyển động của trái đất,
nhìn thấy nhan thạch đang dịch chuyển dưới lỏng đất,
biết được sự lên xuống của sóng biển cùng vô số hiện tượng tự nhiên khác.
Không chỉ vậy, Russell còn khẳng định thị giác của mình đã mở rộng sang một phổ ánh sáng lớn hơn,
bao gồm cả tia hồng ngoại lẫn tia tử ngoại.
Thậm chí, khi con người hoạt động vật đi ngang qua trước mặt,
chỉ cần nhìn họ, ông đều thấy trên cơ thể họ phát ra một loại sóng đặc biệt,
mà ông gọi là linh khí.
Russell còn kể, ông đã nhìn thấy một luồng ánh sáng xuất hiện.
Từ trong ánh sáng ấy vang lên một giọng nói,
con trai của ta, con sẽ trở thành sứ giả của ta đối với nhân loại.
Nếu nhân loại cần khoa học để nhận biết ta, ta sẽ khiến con trở thành một nhà khoa học vĩ đại.
Nếu nhân loại cần nghệ thuật để nhận biết ta, ta sẽ khiến con trở thành một nghệ thuật gia vĩ đại.
Và rồi Russell nói, ngay trong khoảnh khắc ấy,
ông cảm thấy bản thân mình hòa làm một với toàn bộ vũ trụ.
Mọi chi thức dường như đều hiện ra trước mắt, mọi bí mật ông đều có thể thấu hiểu.
Ông cảm thấy mình đã bước vào chính nguồn cội của mọi chi thức.
Ông không nói nơi mình bước vào có phải là thư viện Akashic hay không.
Thế nhưng sau khi kể lại toàn bộ những trải nghiệm này cho gia đình nghe,
người nhà đều cho rằng ông thật sự đã phát điên, điên giận rồi.
Nên lập tức đưa ông đến bệnh viện tâm thần để kiểm tra.
Khi hỏi chuyện Russell, các bác sĩ phát hiện những gì ông nói đều rất mạch lạc và logic.
Từ vật lý, y học cho đến vũ trụ học, mọi thứ đều có lý và vô cùng thú vị.
Vì thế họ cảm thấy hẳn đã có một điều gì đó rất rất đặc biệt đã xảy ra.
Cuối cùng, họ chỉ viết một tờ giấy xác nhận rồi cho ông về, chứ không đưa ông vào bệnh viện tâm thần.
Quả là một ven hú vía, một tình huống vô cùng nguy hiểm.
Chỉ cần khác đi một chút, có lẽ lịch sử đã rẽ sang một hướng hoàn toàn khác.
Và sau khi trở về, Russell lập tức bắt tay và viết sách.
Ông liên tiếp hoàn thành nhiều tác phẩm, trong đó ghi lại toàn bộ hơn 40.000 chữ
về những lời nói thần bí mà mình đã nghe được trong suốt 39 ngày, được ý thức vũ trụ chiếu dọi.
Sau này toàn bộ nội dung ấy được xuất bản thành cuốn sách Thông điệp của Divine Deluxe.
Tiếp đó, ông lại hệ thống toàn bộ như nhận thức của mình
thành một họp thuyết về vũ trụ mang tên Vũ trụ số 1.
Sau khi hoàn thành sách, Russell đã gửi chúng cho khoảng 500 nhân vật có địa vị
và danh tiếng tại New York mà ông quen biết lúc bấy giờ.
Kết quả là tất cả mọi người đều cho rằng, ông đã điên, điên thật rồi.
Chỉ duy nhất Nikola Tesla đã gửi thư hồi âm, và trong bức thư, Tesla đã viết câu nói đó.
Ông nhất định phải giữ kín lý thuyết vũ trụ của mình với thế giới trong 1.000 năm,
bởi vì nhân loại chưa sẵn sàng để hiểu chúng.
Vậy tại sao Tesla lại nói như vậy? Bởi vì vào những năm 1920,
những điều Russell trình bày nghe chẳng khác nào vật lý lượng tử.
Trong khi đó, vật lý lượng tử khi ấy mới chỉ vừa manh nha hình thành,
công chúng vẫn chưa biết đến, càng chưa thể hiểu được lĩnh vực này.
Vì thế, hầu hết mọi người đều cho rằng những gì Russell nói quá khuyển hoặc và khó tin.
Hãy nhìn vào những bản vẽ mà Russell thực hiện vào thời điểm đó,
chúng không chỉ giàu tính nghệ thuật mà còn được thể hiện vô cùng trí tiết.
Đó có thể chính là những gì ông đã tận mắt nhìn thấy rồi ghi lại bằng hội họa,
thậm chí còn cẩn thận tô màu cho từng hình vẽ.
Ví dụ trong Vũ trụ số 1 ông viết, vật chất chỉ là chuyển động.
Ngày nay vật lý hiện đại cũng phát hiện nguyên tử phần lớn là khoảng trống và năng lượng
đóng vai trò nền tảng, nên nhiều người nhận thấy Russell đã đi trước thời đại.
Hay Russell cho rằng vật chất không phải là một thực thể rắn chắc,
mà là sự kết tinh của ánh sáng sau khi tư tưởng chậm lại.
Theo ông, mọi thứ xung quanh chúng ta, từ đá, nước cho đến con người,
về bản chất đều được cấu thành từ ánh sáng.
Căn nguyên sâu xa của chúng chính là sự kết tinh của ý thức.
Ngay cả cái chết của con người cũng không phải là sự kết thúc cuối cùng.
Sau khi bị nén lại trong thế giới vật chất,
ý thức sẽ một lần nữa được giải phóng trở về nguồn cội của ánh sáng.
Trong cuốn Vũ trụ quan mới, Russell còn viết thượng đế là
ánh sáng tâm linh từ tinh trắng vô hình, bất động, vô tính, chưa phân tách, vô điều kiện.
Cách nói này có phần tương đồng với quan điểm của vật lý hiện đại rằng
vật chất chỉ là những hình thức biểu hiện khác nhau của năng lượng.
Theo cách lý giải của Russell, thần chính là một dạng ánh sáng
hay một trường ý thức tối cao tồn tại khắp vũ trụ.
Còn mọi vật chất chỉ là ánh sáng sau khi ngưng tụ và kết tinh.
Nếu đúng như vậy thì lẽ nào tất cả chúng ta đều là con của ánh sáng?
Russell cũng đề cập đến thời gian theo một cách rất đặc biệt.
Nghe qua có phần giống với thuyết tương đối.
Ông cho rằng thời gian không hề vận động theo một đường thẳng từ hôm qua đến hôm nay
rồi sang ngày mai mà tồn tại dưới dạng một cấu trúc xoắn ốc.
Quá khứ, hiện tại và tương lai, thực chất đều đồng thời tồn tại.
Ý của ông là nếu nhìn thế giới ba chiều của chúng ta từ một chiều không gian cao hơn
hay nói cách khác là từ chiều không gian của thần,
thì thời gian sẽ hiện ra theo một hình thức hoàn toàn khác.
Khi đó, toàn bộ cuộc đời của một con người từ lúc còn nhỏ cho đến khi trưởng thành
sẽ giống như vô số lát cắt tồn tại cùng một lúc.
Nếu ghép tất cả những lát cắt ấy lại với nhau,
chúng sẽ tạo thành một khối hoàn chỉnh giống như một ổ bánh mì
hoặc giống như một con sầu mang hình xoắn ốc.
Điều thú vị là cách lý giải này cũng có phần tương đồng với quan điểm được ghi lại
trong áo nghĩa thử của Ấn Độ cổ đại, nơi đề cập đến khái niệm vĩnh hẳng của hiện tại,
tức là quá khứ, hiện tại và tương lai không hề tách biệt,
mà đều cùng tồn tại trong một khoảnh khắc vĩnh hẳng.
Lấy một ví dụ, chính là video mà chúng ta đang xem bây giờ.
Mọi người hãy nhìn xem, đây là tôi.
Trước khi các bạn bấm vào xem, video này thực ra đã được ghi hình và tồn tại sẵn rồi,
chứ không phải đến khi các bạn mở lên thì nó mới xuất hiện.
Theo cách hiểu này thì bảng tuần hoàn các nguyên tố không phải do chính Mendeleev sáng tạo ra,
mà nó vốn đã tồn tại từ trước. Mendeleev chỉ nhìn thấy nó trong giấc mơ rồi ghi chép lại.
Tiếp theo, lại càng thú vị hơn. Raso với tư cách là một nghệ sĩ,
trong tình huống gần như hoàn toàn không có nền tảng khoa học,
lại nói rằng mình đã thu được chi thức nhờ sự chiếu dọi của vũ trụ mà ông trải qua.
Sau đó, ông còn sắp xếp lại bảng tuần hoàn các nguyên tố của Mendeleev.
Điều đáng kinh ngạc là, cách sắp xếp của Raso đã khiến không ít nhà khoa học phải sự rốt kinh ngạc.
Mọi người hãy nhìn xem, đây chính là bảng tuần hoàn các nguyên tố kỳ lạ do Raso tạo ra.
Ông hoàn thành nó vào năm 1926, và đến năm 1930, bảng tuần hoàn này đã được cấp bằng sáng chế tại Hoa Kỳ.
Theo thông tin trên trong web của Walter Raso, ngay từ năm 1926, Raso đã dự đoán sự tồn tại
của Dutery, Chitty và một đồng vị khác thông qua bảng nguyên tố do ông xây dựng.
Trong đó Dutery và Chitty chỉ được các nhà khoa học phát hiện sau năm 1931.
Bảng tuần hoàn mà Raso xây dựng được sắp xếp theo dạng sóng xoắn ốc,
trông khá giống với cấu trúc xoắn kép của DNA.
Đồng thời, ông cho rằng mỗi nguyên tố về bản chất đều là một loại sóng mang tần số riêng.
Vì vậy, ông đã thêm vào mỗi nguyên tố những con số có dấu cộng và dấu chữ.
Theo cách giải thích của Raso, các con số này đại diện cho những bậc âm khác nhau.
Mỗi vòng xoắn tương ứng với một quãng 8 trong âm nhạc.
Các nguyên tố nằm trong cùng một quãng 8 đều tồn tại một hệ thống nạp điện và phóng điện.
Còn tần số giữa các giá trị dương và âm thì có thể triệt tiêu lẫn nhau.
Tiếp theo, điều thú vị hơn nữa lại xuất hiện.
Raso lấy các bon làm trung tâm và cho rằng hai nguyên tố nằm đôi xứng ở phía trên và phía dưới nó
cũng có thể triệt tiêu tần số với nhau.
Vì thế, khi hai nguyên tố này kết hợp lại,
chúng sẽ xảy ra phản ứng hóa học và cuối cùng hình thành một hợp chất vô cùng ổn định.
Chẳng hạn như bo và nitro có thể kết hợp tạo thành nitrobo,
một loại vật liệu được mệnh danh là kim cương nhân tạo, có độ cứng cực cao.
Oxy và peri có thể tạo thành oxyperi.
Hợp chất này cũng vô cùng ổn định, được ứng dụng để chế tạo vật liệu cho lò phản ứng hạt nhân
cũng như các chất cách điện nhưng dẫn nhiệt rất tốt.
Các bạn thấy không, những gì Raso nói cũng có phần hợp lý.
Theo ông, khi các sóng triệt tiêu lẫn nhau,
chúng sẽ hình thành nên những hợp chất ổn định mà chúng ta quan sát được trong tự nhiên.
Nói đến vật lý lượng tử, sơ đồ này của Raso được vẽ vào năm 1926.
Cũng trong năm đó, Erwin Schrodinger vừa công bố phương trình Schrodinger
và đặt nền móng cho cơ học sóng trong vật lý lượng tử.
Ông cho rằng thế giới lượng tử cần được mô tả dưới góc nhìn của sóng
và electrons trong nguyên tử phải được nghiên cứu bằng mô hình sóng.
Tất cả những điều này thực sự trùng hợp đến kỳ lạ như vậy đó.
Trong chương trình Rogan Podcast, Terence Hallwood từng nói,
Raso lẽ ra và nhận được giải Nobel. Chỉ có điều, những kết luận của Raso không xuất phát
từ các thí nghiệm khoa học, chúng đến từ sự chiếu dọi của ánh sáng vũ trụ.
Chính yếu tố quá huyền ảo này khiến ông gần như không thể được trao bất kỳ giải thưởng khoa học nào.
Tổng kết lại toàn bộ cầu chuyện của Raso, có một đầu mối vô cùng quan trọng mà ông nhiều lần nắc đến.
Ông nói, thần là ánh sáng tử tính trắng của tâm linh, vô hình, vô điều kiện và vượt trên mọi hình tướng.
Cũng chính thông qua sự chiếu dọi của thừa ánh sáng vũ trụ ấy,
mà ông đã tiếp nhận được những chi thức vượt xa thời đại,
bao gồm cả những hiểu biết liên quan đến vật lý lượng tự.
Vậy thì liệu ánh sáng tử tính trắng mà Raso nhắc đến có phải chính là Thư viện Akasha có ý thức,
nơi được cho là lưu trữ toàn bộ chi thức của vũ trụ hay không?
Và nếu đúng như vậy, thì toàn bộ chi thức ấy, toàn bộ ý thức ấy có phải cũng chính là điều
mà con người từ xưa đến nay gọi là thần hay không? Khả năng ấy hoàn toàn có thể tồn tại.
Ít nhất đây không phải là một suy đoán vô căn cứ.
Tiếp theo tôi sẽ kể cho mọi người nghe về một thí nghiệm vật lý lượng tự có bước đột phá mới trong năm 2025.
Có lẽ sau khi nghe xong, mọi người sẽ nhìn thấy một số manh mối cực kỳ quan trọng.
Bước đột phá lớn trong thí nghiệm lượng tự này được gọi là thí nghiệm lượng tự 37 chiều.
Thí nghiệm được nhóm nghiên cứu vật lý lượng tự của Trường Đại học khoa học công nghệ Trung Quốc hoàn thành vào tháng 1,
năm 2025. Họ quan sát phô tông trong một không gian Hubert 37 chiều và phát hiện một hiện tượng liên quan đến nghịch lý,
GSZ. Quá trình thử nghiệm rất phức tạp nên chúng ta chỉ nói đến kết luận, đó là những điều tuyệt đối không thể
xảy ra trong thế giới hiện thực của chúng ta lại có thể đạt sát xuất xảy ra đến 100% trong thế giới phi mổ của vật lý lượng tự.
Ở đây chúng ta sẽ không đi sâu giải thích. Tóm lại rằng, nếu có ai đó nói mình đã bước vào một vùng ánh sáng trắng
trong lúc ngủ và nhận được vô số chi thức kỳ lạ từ Thư viện Akashic, thì điều đó là hoàn toàn không thể xảy ra trong đời sống thường nhật.
Nhưng trong thế giới lượng tự thì sát xuất xảy ra lại có thể là 100%.
Điểm đáng chú ý là trong thí nghiệm này có nhắc đến 3 chữ cái G, S và Z.
Đây là tên viết tắt theo họ của 3 nhà vật lý người Mỹ, Greenberger, Horn và Schrodinger.
Schrodinger chính là người đã nhận giải Nobel vật lý năm 2022.
3 người đã cùng công bố một bài báo nổi tiếng về trạng thái vướng mắt GSZ,
trong đó chỉ ra rằng không chỉ 2 mà từ 3 phô tông trở lên cũng có thể tồn tại trạng thái vướng mắt lượng tự.
Trước đây khi nói đến vướng mắt lượng tự, chúng ta thường lấy ví dụ về 2 phô tông.
Nếu một hạt ở trái đất thay đổi trạng thái, thì hạt còn lại, dù ở cách xa hàng chục tỷ năm ánh sáng,
cũng biểu hiện trạng thái tương quan gần như ngay lập tức, một tích tắc cũng không chậm.
Nhưng trạng thái vướng mắt GSZ này lại là trạng thái vướng víu của từ 3 phô tông trở lên thì còn phức tạp hơn nhiều.
Chúng ta có thể lấy một ví dụ, giả sử có 3 người cùng vào một nhà hàng ăn cơm,
sau đó chúng ta tách 3 người này ra, mỗi người ở một phòng riêng để gọi món.
3 người không hề biết những người còn lại đã gọi món gì.
Bất kể thực đơn có bao nhiêu món như trà sữa, coca, cơm gà, hamburger,
chỉ cần một người gọi trà sữa thì 2 người còn lại nhất định sẽ theo một quy luật bí ẩn nào đó,
chỉ gọi cơm gà và hamburger.
Trong đó dường như tồn tại một mô thức thần bí nào đó,
chúng ta có thể đặt cho nó một cái tên là suất ăn của vũ trụ.
3 người này sẽ như thế có một sự sắp đặt vô hình,
dù gọi món thế nào đi nữa thì cuối cùng cũng luôn gọi theo đúng suất ăn vũ trụ.
Và tuyệt đối sẽ không bao giờ xảy ra trường hợp cả 3 cùng chỉ gọi đồ uống,
hoặc cả 3 chỉ gọi cơm gà và hamburger mà không gọi đồ uống.
Vậy suất ăn vũ trụ này rốt cuộc rồi ai quy định, không ai biết được.
Dường như trong cõi vô hình có một sức mạnh bí ẩn đã quy định sẵn thực đơn ấy.
Bây giờ, hãy tiếp tục mở rộng trí tưởng tượng thêm một chút nữa.
Nếu trong vũ trụ có hàng trăm triệu, hàng nghìn tỷ phô tông từng xảy ra hiện tượng vướng víu,
từ thuở sơ khai của vũ trụ đã xuất hiện vô số sóng tử,
vô số phô tông và chúng đã phương mắt với nhau suốt hàng chục tỷ năm.
Nếu mỗi phô tông đều có thể lưu trữ thông tin từ 37 triệu trở lên,
hoặc thậm chí là thông tin của vô số triệu,
thì khi tất cả những lượng tử này kết nối với nhau,
vướng víu với nhau, chúng sẽ hình thành nên điều gì? Hình thành nên một siêu máy tính.
Giống như chart CPT hiện nay, một mô hình ngôn ngữ lớn có hàng chục tỷ tham số.
Còn CPT lượng tử này thì có thể sở hữu tới hàng triệu tỷ tham số.
Sau đó, cô máy tính vũ trụ khổng lồ này sẽ có thể lưu trữ thông tin giống như một mạng neuron,
trở thành thứ viện Akashic. Tiến thêm một bước nữa, nó có thể sinh ra ý thức.
Cuối cùng, nó có thể trở thành vị thần của cả vũ trụ.
Và khi đó, trái đất cùng nhân loại chúng ta có thể đã ở bên trong vị thần ấy.
Tất cả những gì mọi người đang nhìn thấy lúc này,
có lẽ chính là những gì lượng tử đó muốn để bạn nhìn thấy.
Tập hôm nay có rất nhiều nội dung giàu trí tưởng tượng.
Nhưng nếu bạn từng đọc qua các kinh điển tôn giáo cổ đại thì sẽ biết,
những gì nói trong video hôm nay đều có sự đối chiếu và chứng thực trong đó.
Trong vật giáo, câu Nam Moazida Phật trong nguyên văn tiếng Phạn có nghĩa là quy y ánh sáng vô hạn.
Còn trong Kito giáo thì nói rằng, Thượng Đế chính là ánh sáng.
Trong Hồi giáo, Alan được mô tả là ánh sáng của trời đất.
Ngay cả trong tín ngưỡng Ai Cập cổ đại, vị thần tối cao cũng gắn liền với hình tượng thần mặt trời.
Dường như ở rất nhiều nền văn minh khác nhau, khái niệm về thần đều có mối liên hệ với ánh sáng.
Sau đó, tôi còn phát hiện một bài luận rất thú vị của Rupert Seldrick,
tiến sĩ vật lý học tại Đại học Cambridge, cùng Grigory Matlov, giáo sư của Đại học TP New York.
Chắc mọi người có nhớ video Họ không cho tôi nói,
chúng ta đã nói về 7 thí nghiệm kinh điển thay đổi thế giới của ông.
Họ đều nói rằng, các ngôi sao trong vũ trụ, bao gồm các mặt trời, có thể sở hữu một dạng ý thức nào đó.
Bởi vì tru kỳ hoạt động của những ngôi sao như mặt trời dường như là một dạng nhịp tim.
Nhiều ngôi sao kết nối với nhau liên tạo thành một thiên hà khổng lồ.
Chúng có thể hình thành một ý thức tập thể, giống như một đàn ông.
Ngoài ra, họ còn cho rằng chuyển động giữa các hành tinh dường như tự điều chỉnh quý đạo của mình để tránh phá chạm với nhau.
Họ cũng nói rằng, nếu các ngôi sao thực sự có ý thức,
thì ý thức của chúng có thể diễn ra rất chậm. Một lần suy nghĩ của chúng phải mất đến hàng nghìn năm.
Trong vũ trụ còn tồn tại vô số vật chất tối và năng lượng.
Chúng có thể đều là năng lượng của Akashic, hoặc là năng lượng của thần.
Vì vậy, nếu ý thức tập thể của những ngôi sao này có thể điều khiển vô số phổ tông,
sóng vật chất và năng lượng, thì về mặt lý thuyết,
chúng có thể thông qua những hiện tượng vật lý lượng tử này để khiến con người nhìn thấy những hình ảnh khác nhau,
nghe thấy những âm thanh khác nhau, ngửi thấy những mùi hương khác nhau, thậm chí còn có thể tạo ra thế giới.
Những điều này thực ra các nhà tiên trì hàng nghìn năm trước đã từng trải nghiệm rồi.
Khi ấy họ chỉ cần nhắm mắt trong trạng thái tĩnh lặng, liên nói mình nhìn thấy thần, nghe thấy tiếng nói của thần.
Nếu nhìn theo cách lý giải này, thì sự xuất hiện của những trải nghiệm như vậy có thể chỉ xảy ra vài nghìn năm một lần.
Bởi vì ý thức của các hành tinh trong vũ trụ phải mất hàng nghìn năm mới giao động một lần.
Mỗi khi giao động, sẽ xuất hiện một dạng ánh sáng, và ánh sáng ấy tương tác với các quá trình lượng tử trong não bộ con người.
Điều này cũng không phải là nói bừa.
Roger Penrose, người đoại giải Nobel vật lý năm 2020, cũng cho rằng trong các nghiên cứu của mình,
ý thức có thể bắt nguồn từ các quá trình lượng tử diễn ra trong não bộ.
Trải nghiệm thống nhất của ý thức cần đến những hiện tượng phi cục bộ như vướng víu lượng tử để có thể được giải thích.
Ý của câu này là, ý thức của con người, những khoảnh khắc các nhà khoa học bỗng nảy ra ý tưởng,
hay những lời mặc khải mà các vị tiên tri nghe được từ Thượng Đế,
tất cả những hiện tượng đó đều cần được giải thích bằng hiện tượng vướng mắc lượng tử, hơn nữa còn là hiện tượng phi cục bộ.
Hiện tượng phi cục bộ có nghĩa là, bất kể bạn nằm ở đâu,
ý thức của bạn vẫn có thể tương tác với một hạt lượng tử nào đó đang vướng víu với bạn,
cho dù nó ở cách xa hàng trăm triệu năm ánh sáng.
Khi bạn nằm mơ, điều bạn nhìn thấy có thể chính là bạn ở kiếp trước,
hoặc cũng có thể là một giấc mơ đến từ nơi rất xa xôi.
Tất cả những điều này nghe có vẻ vô cùng huyền bí, nhưng nếu mọi người tự suy ngẫm thì sẽ thấy chúng đều rất có lý.
Cuối cùng, ở đây có một trọng điểm cần chúng ta hết sức rõ ràng.
Có thể trong quá trình nhận thức theo tư tưởng tuyệt đối hóa đúng hoặc sai,
một là cái này, không thì phải là cái kia, khiến chúng ta rất khó nhìn nhận vấn đề một cách rõ ràng, lý tính và độc lập.
Mọi người có thể thấy, chi thức để con người phát triển, nhận biết về thế giới như hành vi ứng xử,
giá trị đạo đức, cấu tạo của vũ trụ, chi thức về nông nghiệp, cấu tạo nguyên tố hay các phát minh như chiếc kim khâu
và rất rất nhiều những thứ khác có nói đến trong video ngày hôm nay.
Nó rất có thể là do trí tuệ vũ trụ, đứng sáng tạo, thần, nguồn năng lượng,
ý thức nào đó cố ý truyền tại cho con người để chúng ta phát triển và sinh tồn.
Theo dòng thời gian, những chi thức này được truyền cấp theo thời điểm thích hợp để con người phát triển và tồn tại.
Nó khác hẳn hoàn toàn với loại công nghệ kỹ thuật cũng được truyền đến cho con người theo một cách nào đó,
nhưng để dẫn con người đi đến hủy diệt.
Có người nghe nói đến công nghệ kỹ thuật, tại sao lúc thì nói là do thần cấp cho,
lúc lại nói sự can thiệp của văn minh ngoài hành tinh.
Rất rõ ràng, đây là 2 hướng đi, 2 lối phát triển rất có thể dẫn con người đến 2 kết quả hoàn toàn khác nhau.
Và luôn là vậy, quyết định vẫn nằm trong tay con người.
Và theo cá nhân tôi, thì để biết lựa chọn như thế nào là đúng đắn thì chúng ta cần có chi thức và cần lý trí.
Còn không biết bạn thì có suy nghĩ như thế nào?
Bạn nghĩ, lực lượng nào trong vũ trụ đã cố ý cấp chi thức cho nhân loại?
Và lực lượng nào muốn con người tự hủy diệt?
Và bạn chọn theo hướng 1, tìm hiểu nguồn gốc vũ trụ, khám phá bên trong con người,
phát triển theo hướng lành mạnh đúng đắn,
hay 2, phát triển công nghệ theo hướng máy móc phi nhân loại, vô thần, dẫn đến tự hủy diệt?
Hãy đánh 1 hoặc 2 ở phần bình luận phía bên dưới video nhé!
Và phần chia sẻ chúng ta ngày hôm nay xin tạm dừng tại đây thôi.
Nếu bạn thấy video này và những nội dung trên kênh MisRuby của chúng ta hữu ích,
mà vẫn chưa nhấn like, trước khi rời đi hãy nhớ nhấn like nhé!
Và sẽ mong mọi người hãy chia sẻ video của chúng ta đến càng nhiều người hơn nữa,
bởi vì mỗi tương tác của bạn đều có thể giúp kênh MisRuby của chúng ta kích hoạt
thuật toán đề xuất của Youtube càng chứng ngừa, để những nội dung mở mang tư duy,
khám phá một vũ trụ chân thực hơn, đem sự thực ảnh hưởng càng nhiều hơn nữa.
Xin cảm ơn các bạn rất nhiều! Xin chào và hẹn gặp lại!