Nhân Quả Sâu Sắc: Gia Đình Có Người Con Không Chịu Làm, Chỉ Muốn Hưởng Và Cái Kết Đau Lòng

Sống thuận tự nhiên
437 Người theo dõi
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Người ta thường sợ những biến cố long trời lở đất, sợ tai ương ráng xuống bất ngờ.
Nhưng kỳ thực, sự suy tàn của một mái nhà chưa bao giờ bắt đầu từ bão tố ngoài kia.
Nó bắt đầu từ một lần ta vờ như không thấy giọt mồ hôi của mẹ.
Từ một chén cơm ngon chỉ muốn gắp riêng cho mình.
Và từ cái cuối đầu im lặng trước những toan tính nhỏ nhen mỗi ngày.
Để rồi đến khi quay lưng nhìn lại, nơi ấm áp nhất che chở cả cuộc đời ta
chỉ còn trơ trọi một giang nhà hoang lạnh giữa núi thẳm sương mủ.
Thôn Trà Sơn nằm nép mình bên chân núi, nơi quanh năm quẩn quanh mùi giơm dạ mục và khói bếp lam chiều.
Ở góc thôn có một mái nhà tranh vách đất đã siêu vẹo theo năm tháng.
Đó là nơi nương náo của bà Thẩm và người con trai tên là Lâm Khiêm.
Chồng mất sớm khi Khiêm vừa rút sữa, một thân một mình bà Thẩm gánh vác cả ra cảnh cơ hàn.
Tài sản lớn nhất của bà là đôi quang gánh mòn vẹt và một nia bánh nếp dẻo thơm.
Cứ độ gà gáy canh tư khi cả thôn còn chìm trong sương lạnh buốt giá,
gian bếp nhỏ sau nhà đã bập bùng ánh lửa đỏ.
Bà Thẩm cặm cụi nhào bột, gói từng chiếc bánh nếp vào lớp lá chuối khô đã lao sạch bóng,
rồi quẩy gánh đi bộ hơn 10 dặm đường đất gập gành ra chợ huyện.
Đôi bàn chân trần nứt nẻ lội qua bao mùa mưa bùn,
đôi vai gầy chai sạn từng vết thâm tím chỉ để đổi lấy mấy đồng tiền lẻ mua gạo,
mua thuốc và nuôi khiêm ăn học thành người.
Lâm khiêm lớn lên trắng trẻo, thông minh và tháo vát.
Anh thương mẹ, biết tính toán sổ sách cẩn thận và chưa bao giờ dính vào rượu trẻ, cờ bạc.
Người trong làng ai cũng khen bà Thẩm có phúc nuôi được đứa con hiền lành, hiếu thảo.
Đến tuổi dựng vợ gà chồng, nhờ người quen mối lái dưới phổ huyện,
khiêm cưới được Liễu Như, một cô gái có nhan sắc mặn mà,
đôi mắt sắc lanh lợi và giọng nói ngọt ngào như giót mật.
Như mồ côi từ nhỏ, sống nương nhờ nhà người cô họ buôn vải dưới phố thị xâm út,
quen nếp sống gọn gàng, ưa chuộng lụa, là và sợ nhất cảnh lấm lem bùn đất.
Ngày đón dâu về thôn, căn nhà vách đất rộn rã tiếng cười trúc tụng.
Bà Thẩm lưng còng, mặc chiếc áo tràm cũ đã vá khéo ở hai bên vai, miệng cười móm mém.
Lúi húi dưới bếp nấu chè đậu đỏ đãi dâu mới.
Bà nắm lấy đôi bàn tay mềm mại của Như, ánh mắt dưng dưng niềm mãn nguyện
vì ngỡ rằng từ nay ra nhà quạnh quẽ này đã có thêm hơi ấm bàn tay người phụ nữ.
Nhưng bà không hề nhận ra, khi bước qua bậu cửa đất chóc lở,
Liễu Như đã khẽ nhíu mày, đưa ngón tay quyệt nhẹ lớp vôi bột bám trên mép áo gấm mới may,
rồi thầm buông một tiếng thở dài lạnh ngắt.
Các nhà ba gian vách đất vốn lặng lẽ bao năm bỗng trở nên chật trội sau ngày cưới.
Liễu Như không quen dậy sớm, nhóm bếp mù mịt khói,
càng không chịu nổi mùi bùn non bám dưới gót chân mỗi độ sương đêm đọng ngoài sân.
Sáng nào cũng vậy, khi bà thầm dọn sẵn chó xôi hay bát cháo hoa nóng hổi trên chiếc trọng tre,
Như chỉ liếc qua rồi khẽ nhăn mũi, nói mình yếu bụng không nuốt nổi đồ quê,
rồi lặng lặng thay áo lụa đi bộ ra phố huyện từ sớm.
Bà thầm thương con dâu xuất thân thành thị chịu thiệt thỏi, chẳng một lời trách cứ.
Bà lặng lặng dậy sớm hơn, một mình cỏng lưng quét sạch từng góc sân,
nhóm bếp thật ký để khói không tạt vào gian buồn trong.
Những đêm đông lạnh bút, bà vẫn cặm cụi ngồi bên ngọn đèn dầu liêu diêu,
tì mẩn châm từng mũi kim vá lại chỗ sứt chỉ trên vạt áo cũ của lâm khiêm.
Thế nhưng, sự nhẫn nhịn của người mẹ già lại vô tình trở thành cách cớ cho những bực dọc không tên.
Có bữa bà thầm bưng bát nước ấm vào buồng,
chân run run lỡ làm rớt vài giọt xuống tấm chiếu mới, như liền hất mạch buông một câu lạnh tành.
Cái tuổi này rồi, mẹ làm gì cũng phải cẩn thận một chút chứ.
Nước đổ ra ẩm mốc thế này thì ai lau?
Khiêm ngồi bên mép phản, nghe từng lời bút giát của vợ đâm vào tay.
Trong lòng anh cuộn lên một nỗi sót xa, nhưng nhìn thấy đôi mắt ngấn lệ và vẻ mặt hơn dỗi của người vợ trẻ,
anh lại chọn cách nắm lấy tay như.
Kéo nhẹ ra ngoài hiên rồi hạ giọng rỗ rảnh.
Anh không nhìn vào mẹ, cũng không nói một lời binh vực.
Bà thầm đứng lặng giữa gian phòng tranh, hai tay ôm lấy chiếc bát đất nung sức mép,
nhìn chiếc bóng của con trai khuất dần sau tấm dèm vải mà nghe lòng mình nghẹn đắng.
Những ấm ức tích tụ thành giọt nước tràn ly khi, như khóc lóc, thậm chí bỏ ăn suốt hai ngày để đòi dọn ra ở riêng.
Nàng bảo với Khiêm rằng không thể sống cả đời trong cảnh vách đất rột nát, sớm chiều bị ánh mắt mẹ già soi xét.
Thấy con trai mất ăn mất ngủ vì đứng giữa đôi giòng, bà thầm chỉ khẽ nắm lấy bàn tay thô giáp của Khiêm, cười buồn.
Nếu vợ con không thấy thoải mái thì cứ tính chuyện cất nhà mới.
Miễn là các con sống êm ấm, mẹ ở một mình gian nhà cũ này cũng quen rồi.
Vét sạch số bạc tích cóp cả đời của mẹ và vay mượn thêm họ hàng dưới phố,
Khiêm dựng được căn nhà gạch khang trang ở mé đầu làng, ngay sát trục đường lớn ra chợ.
Nhờ tài ăn nói khéo léo và biết chiều khách của Như, tiệm vải nhỏ mở trước hiên nhà ngày một đông đúc.
Tiền bạc bắt đầu dư dạ, trên người Như lấp lánh vòng bạc, trâm cải.
Khiêm cũng sắm được áo the mới, ngày ngày ra vào ghi chép sổ sách cho cánh thương buồn.
Người ngoài nhìn vào ai nấy đều tấm tắc khen vợ chồng Khiêm giỏi giang, giàu sang, nhanh chóng.
Nhưng chẳng ai biết, sau bức tường gạch phẳng phiêu quét vôi trắng ấy, nụ cười của Khiêm ngày càng gượng gạo.
Mỗi bước đi, mỗi đồng tiền kiếm được, thậm chí cả việc bước chân về thăm mẹ già nơi góc thôn cũng phải nhìn vào sắc mặt của vợ.
Cách đó không xa, căn nhà tranh của bà Thẩm càng thêm hoang lạnh.
Chiếc mâm gỗ tròn mỗi bữa giờ chỉ còn lại một đôi đũa đơn độc.
Có hôm, bà luộc được mớ khoai lang mật hay bọc chiếc bánh đếp nóng hổi trong lá chuối mang sang cho con trai.
Như liền khoanh tay đứng tựa cửa, buông ánh nhìn hờ hững như nhìn kẻ ăn xin xa lạ.
Khiêm đứng nếp sau quầy vải, lầm cồn cào dây dứt.
Nhưng chỉ biết cười trừ, lén xua tay ra hiệu bảo mẹ mang về kẹo vợ phật ý.
Bà Thẩm đứng ngoài ngõ gió lộng, nhìn ánh đen dâu rực rỡ tỏa ra từ căn nhà gạch ấm cúng.
Hai bàn tay gầy gò ôm chặt bọc bánh đếp dần nguội ngắt, giữa chiều đông bút giá.
Cửa hàng vài lụa của Liễu Như ngày càng đông đúc khách quý từ các chấn lân cận đổ về.
Như bắt đầu giao thiệp với những phu nhân nhà giàu.
Lời nói trao chuốt hơn, ráng đi khoan thai hơn và nàng càng thêm sợ những dấu vết quê mùa bám vào danh phận mới.
Với Như, sự tồn tại của người mẹ chồng lưng cỏng, quanh nằm ám mùi khói giả nơi mé thôn là một vết gợn khó che dấu.
Một chiều cuối thu, gió lạnh tràn về từng cơn hunh hút.
Bà Thẩm mang sang một chiếc áo tràm tay rộng, đường kim mũi chỉ thẳng tắp.
Những chỗ sờn vai đã được chắp vá, cẩn thận bằng từng miếng vải lành lặn nhất.
Bà chắt chiêu gom lại suốt mấy mùa trở.
Bà dun dậy đặt lên mép bàn gỗ bóng loáng.
Mẹ may cho khiêm chiếc áo ấm.
Tiết trời trở lạnh rồi, mặc áo này kín gió lắm.
Như liếc nhìn chiếc áo màu mộc mạc đặt chỏng trơ bên sấp theo lùa óng ánh,
khẽ nhách mép, buông một tiếng thở dài nặng chịt.
Mẹ cứ để đấy, nhà giờ buôn vài vóc, thiếu gì áo ấm đắt tiền.
Đồ chắp vá thế này đem ra ngoài mặc, người ta lại cười cho là chủ tiệm bạc đãi mẹ già.
Lâm khiêm đứng cạnh quầy thu tiền,
nhìn đôi bàn tay gầy gục chẳng chịt vết chai nước của mẹ đang lúng túng rụt lại.
Cổ họng anh nghẹn ứ, định bước tới nhận lấy tấm áo,
nhưng bắt gặp ánh mắt sắc lạnh của vợ, chân anh như bị đóng đinh xuống nền gạch.
Anh khẽ gượng cười, vợ con nói phải đấy mẹ, giờ con mặc đồ hàng vài quen rồi.
Đêm hôm đó, như thông thả trải tóc trước gương đồng,
nói bằng giọng nhẹ tênh nhưng dứt khoát, em tìm được chỗ trỏ bên huyện bên rồi.
Có bà cụ khác ở ghép, mỗi tháng gửi chút tiền cơm là xong.
Vừa có người chăm, vừa đỡ để mẹ cứ lùi thủi qua lại đầu ngõ,
người ngoài dị nghị anh giàu mà bỏ bề.
Khiêm ngồi bên mép giường, lặng nhìn chiếc áo tràm cũ bị bỏ quên nơi góc tủ phủ bụi,
trái tim thắt lại từng cơn.
Nhưng rồi, anh chỉ khẽ buông một tiếng thở dài trong bóng tối.
Chiếc xe ngựa thuê đỗ trước cổng nhà tranh vào một buổi chiều mây xám xịt.
Đồ đạc của bà thẩm chẳng có gì nhiều ngoài một tay nải vải thô sờn góc,
trong đó gói ghém bộ quần áo vá, đôi dép gói mòn vẹt
và chiếc bát đất nung xứt mép từng theo hai mẹ con qua bao bữa tráo loãng ngày xưa.
Khiêm đứng trôn chân bên càng xe, đầu cúi gầm,
không dám nhìn thẳng vào đôi mắt đã mờ đục vì năm tháng của mẹ.
Trước khi bước lên bậc xe, bà thẩm lấy từ trong vạt áo ra một chiếc bọc nhỏ bọc bằng lá chuối khô,
rúi nhẹ vào bàn tay đang run dẩy của con trai.
Bánh nếp sáng nay mẹ dậy sớm gói, vẫn còn ấm.
Con nhớ ăn lót giả trước khi ra quán.
Cổ xe lăn bánh rời đi, bánh gỗ nghiến lạo xạo trên con đường đất lầy lội xương chiểu.
Qua khe dèm vải thưa, bà thẩm nhìn bóng dáng người con trai cứ nhỏ dần,
nhỏ dần rồi chìm hẳn vào làn khói mờ nơi đầu thôn.
Nhưng cổ xe chưa đi hết đường núi dẫn sang huyện bên,
bà thẩm đã bảo người đánh xe dừng lại bên góc dâu rừng.
Bà trả mấy đồng bạc lẻ, ôm lấy chiếc túi vải nhỏ,
rồi lặng lẽ bước từng bước khó nhọc men theo lối mòn dốc đứng dẫn vào vách núi thạch sơn.
Bà biết trên ấy có một hang đá sâu khuất gió, nơi thuở trẻ bà từng hái lá thuốc.
Bà tự nhủ mình sống thêm được ngày nào hay ngày ấy,
tuyệt nhiên không thể làm phiền lụy hay trở thành gánh nặng cho con.
Ở căn nhà gạch mới, những đêm sau đó, khiêm gần như không chậm mắt.
Tiếng gió lùa qua song cửa nghe rít từng hồi như tiếng thở dài của mẹ.
Chiếc bọc bánh nếp đặt trên bàn đã nguội ngắt từ bao giờ.
Lớp lá chuối khô co quắp lại như nhắc nhớ về một hơi ấm vừa vĩnh viễn rời khỏi đời anh.
Mùa đông năm ấy trôi qua trong chuỗi ngày u ám lạ thường.
Cửa hàng vải lụa của Liệu Như bỗng chốc rơi vào cảnh khốn đốn,
khi một tay buôn lớn từ phương xa nhận cọc số bạc lớn rồi biệt tích.
Để lại mấy chục sắp gấm độn vải mục móc meo.
Tiếng xấu đồn xa khắp huyện, bạn hàng lũ lượt kéo tới đòi lại tiền cọc.
Khách quen quay lưng.
Các nhà gạch từng rộn rã tiếng bạc kêu nay ngột ngạt như hầm đá.
Chỉ còn những trận cãi vã, xé toạc màn đêm và tiếng khóc lóc.
Đồ lỗi the thế của Như.
Lâm khiêm như kẻ mất hồn.
Mỗi chiều đi làm về anh chỉ ngồi lặng ngoài bậu cửa,
mắt thẫn thờ nhìn về ngọn núi thạch sơn mờ mịt xương lam.
Đã hơn nửa năm, anh không nhận được một dòng tin tức nào từ người mẹ già nơi xóm trọ huyện bên.
Vào một buổi sớm mùa hạ oi nồng,
có ông lão tiểu phu gánh củi ghé qua quán nước, đầu thôn nghỉ chân.
Nhấp ngụm nước vối đặc, ông lão tặc lưỡi kể cho mấy người đi chợ.
Trên vách đá sâu núi thạch sơn có một bà cụ tóc trắng như cước sống một mình trong hàng đá.
Ngày ngày cụ chỉ lượm quả sim, quả trâm dụng bên bờ suối ăn cầm hơi,
khác thì múc nước khe mà uống.
Tôi thương tình cho nắm cơm nguội,
cụ chỉ nhận một nửa rồi chắp tay bảo ăn ít cho đỡ phiền lụy người khác.
Mấy người hàng xóm súng lại xì xào.
Nghe quen quá, chẳng lẽ là bà Thẩm, mẹ thằng Khiêm.
Tin đồn lọt vào tay như trước.
Nàng hất đồ chén nước trẻ, gần rộng với người làm.
Bà ấy tự tìm đường lên núi mà sống, ai ép đâu mà trách.
Có giỏi thì lên đó mà rước về, đừng hòng làm mất mặt cái nhà này.
Đúng lúc ấy, Khiêm vừa bước chân vào sân.
Nghe trọn từng lời, chiếc bát đất nung đựng nước anh đang cầm trên tay bỗng trượt khỏi ngón tay,
rơi xuống nền gạch vỡ toang thành từng mảnh vụn.
Tiếng gốm vỡ sắc lẹm vang lên giữa gia nhà gạch lạnh ngắt.
Lâm Khiêm đứng như trôn chân, nhìn những mảnh vỡ văng tung tóe dưới chân mình.
Từng mảnh đất nung vỡ vụn như chính vỏ bọc nhu nhược,
hèn nhát mà anh đã khoác lên suốt bao năm qua để đổi lấy thứ danh phận hảo huyền.
Anh đứng đờ ra đấy làm gì?
Dọn đi chứ!
Tiếng quát của Như vang lên the the sau lưng.
Khiêm không đáp, anh chậm chậm ngầng đầu lên.
Ánh mắt trống rỗng nhìn thẳng vào người phụ nữ son phấn đang đứng chống tay bên quầy vải lụa.
Rồi nhìn sang chiếc áo tràm cũ kĩ vẫn nằm phủ bụi nơi só tủ.
Lần đầu tiên trong đời, anh không cúi đầu, không gượng cười, cũng không buông một lời dỗ dành.
Anh quay lưng bước thẳng ra khỏi cổng, mặc cho tiếng thét gào, chửi bới của vợ đuổi theo sau lưng.
Bầu trời vần vũ mây đen, từng cơn gió diết qua rạng tre, gầm gừ báo hiệu cơn dâu ngập đến.
Khiêm chạy thục mạng, đôi giày vải đắt tiền suốt ra bên vệ đường.
Từ lúc nào anh chẳng hay.
Đôi bàn chân trần dẫm lên đá răm sắc nhọn, gai cào rách toạc ra thịt tói máu.
Nhưng anh không cảm thấy đau.
Cơn đau nơi lồng ngực đang bóp nghẹt từng hơi thở của anh.
Men theo vẹt cỏ dạp và lời chỉ dẫn của ông lão tiểu phù,
khiêm trèo qua những tầng đá tai mèo trơn trượt, leo lên miệng hang đá sâu hunh hút giữa lưng trừng vách núi.
Cửa hang tối ôm, chỉ có vài tia sáng yếu ớt le lói qua kẽ nứt trên trần đá.
Giữa nền đất lạnh bút giải rác những cành cây khô,
một bóng hình cỏng queo, gầy guộc chỉ còn da bọc xương đang run dẩy gom từng chiếc lá mục để che chắn gió lụa.
Mái tóc người ấy đã bạc trắng như xương tuyết, đôi bàn tay co quắp vì những cơn sốt rừng.
Khiêm khựng lại nơi cửa hang, hơi thở nghẹn ứ nơi cuống họng.
Đôi gối, anh mềm nhũn, quỵ xụp xuống nền đá sắc lạnh.
Mẹ ơi, con là khiêm đây.
Bóng người già nua ấy khẽ giật mình, chậm giãi xoay đầu lại.
Đôi mắt mờ đục nhìn bóng ráng người đàn ông lấm lem bùn đất đang quỳ dưới chân mình.
Không có tiếng la mắng, không có một lời oán hận.
Bà Thẩm chỉ run dậy, đưa bàn tay khẳng khiu.
Lạnh ngắt chạm khẽ vào mái tóc ướt đẫm mồ hôi của con trai, miệng mấp mái thều thảo.
Khiêm đó hả con, con đi đường xa thế này, đã ăn gì chưa?
Tiếng gọi mẹ ơi, nghẹn ứ nơi cuống họng của lâm khiêm rơi vào khoảng không tĩnh lặng của vách đá hunh hút gió.
Đôi bàn tay nứt nẻ, lạnh ngắt của bà Thẩm vẫn khẽ run trên mái đầu ướt đẫm mồ hôi của anh.
Không có một lời trì triết, không một câu oán trách, vì sao con để mẹ bơ vơ giữa rừng thiêng nước độc.
Sự bao dung thuần khiết ấy như ngọn lửa thiêu dụi toàn bộ những sĩ diện, toan tính và cả nỗi sợ hãi yếu mềm, bềm bấy lâu nay, giam cầm linh hồn anh.
Khiêm gục trán xuống lớp lá mục khô khốc, hai vai dung lên bần bật.
Nước mắt nóng hổi thấm vào nền đất bút giá.
Anh không nói lời xin lỗi, bởi anh hiểu có những tội lỗi dẫu nói vạn lời cũng chẳng thể gột rửa.
Anh quỳ rất lâu, lắng nghe từng nhịp thở yếu ớt và tiếng cảnh củi khô lách tách trong bếp cho tàn của mẹ.
Chiều hôm ấy, khiêm trở về thôn Trà Sơn, anh không bước vào giang nhà gạch khang trang nơi, như đang điên cuồng thu dọn những mảnh lụa vụn còn xót lại sau vụ vỡ nợ.
Đứng trước bậc thềm quét vôi trắng, khiêm chỉ lặng lẽ tháo chiếc áo the mới đắt tiền treo lên cột hiên, khoác lại tấm áo tràm cũ và vai ngày trước.
Anh đi đâu? Tiền nợ còn chất đống ở đây, anh bỏ đi để tôi gánh một mình sao?
Tiếng như gào lên the the, giọng khàn đặc vị út ức và hoàng loạt.
Khiêm quay đầu, ánh mắt bình thản đến lạ kỷ.
Nhà gạch này, tiệm vai này, cô giữ lấy mà trả nợ cho người ta.
Mẹ tôi sống ở hàng núi thế nào, tôi sẽ sống cùng mẹ như thế?
Anh không nhìn lại cọc bạc vụn rơi vãi trên sân, chỉ lặng lặng go một chiếc túi vải thồ.
Ít gạo trắng, muối hột và chiếc nồi đất nhỏ đã mòn quài.
Rồi dứt khoát dảo bước về phía dặng núi mở sương.
Mùa đông năm sau, trên sườn núi Thạch Sơn, mọc lên một căn lều tre nhỏ nếp mình bên vách đá.
Mỗi sớm tinh sương, khi rừng già còn phủ kín sương mủ,
khiêm đã thức giấc đi gánh nước khe, nhõm bếp củi và sắc từng thang thuốc lá rừng bồi bổ cho mẹ già.
Đôi bàn tay từng quen cầm bút ghi chép sổ sách nay trai sạn vì quốc đất trồng dao,
đôi bàn chân dớm máu thửa nào nay đã trai sần, vững trải qua từng gột đá trơn trượt.
Mỗi bữa cơm, khiêm đều cẩn thận với bát cơm trắng nóng hổi,
gắp từng ngọn rau rừng non mềm bón cho mẹ bằng chiếc bát đất nung sứt mép năm xưa.
Bà thẩm ăn từng thia nhỏ, khóe mắt nhăn nheo, ánh lên niềm an yên giản dị.
Dưới chân núi, tấn bi kịch của lòng tham và bội bạc dần đi đến hồi kết.
Sau khi tiệm vải bị niêm phong để siết nợ, liễu như mất trắng sản nghiệp,
thân tàn ma dại vì không chịu nổi cú sốc danh lợi tan vỡ.
Nàng trở nên ngơ ngẩn, lang thang nơi góc chợ huyện,
ngày ngày ôm bọc vải vụn rách dưới mà cười khóc lầm bầm đòi tiền hàng.
Người đời đi qua kẻ thở dài xót xa, người lắc đầu buông tiếng tặc lưỡi.
Của cải không có đức giữ thì sớ muộn cũng tan thành mây khói.
Một chiều cuối năm, khiêm quẩy gánh củi khô xuống chợ đổi lấy ít muối hột và dầu thắp đèn.
Đi ngang qua góc bàng già trơ trụi nơi góc chợ,
anh bắt gặp bóng dáng quen thuộc đang ngồi co ro dưới manh chiếu rách.
Khiêm dừng bước rất lâu, nhìn đôi mắt thất thần, vô hồn của người từng là vợ mình.
Anh không bước tới trách móc, cũng không lộ vẻ thương hại trịch thưởng.
Anh chỉ lặng lẽ rút chiếc khăn tràm ấm áp trong tay nải,
đặt nhẹ lên gối nàng rồi quay người bước đi.
Nhân quả giữa hai người đến đây xem như đã dứt.
Ai gieo nhân nào thì tự mình nếm chọn quả nấy giữa cõi nhân sinh.
Mùa xuân lại về trên sườn núi thạch sơn.
Gió ngàn thổi qua dặn trúc di rào, xua bớt cây lạnh bút còn xót lại của mùa đông dài.
Bên hiên lều tranh, khói bếp lam chiều bốc lên thành từng vệt mỏng,
hòa vào màn sương bằng lạng.
Bà Thẩm ngồi trên chiếc trỏng tre con, mái tóc bạc trắng bay nhẹ trong gió,
đôi bàn tay gầy gò khẽ lật từng nông quả dại vơi khổ.
Bên cạnh, tiếng cùi nỏ lách tách reo vui dưới đáy chiếc nồi đất nhỏ đang sôi sùng sụp.
Lâm Khiêm ngồi thuộc bên bậc đá, tì mần dùng chiếc đũa tre khuấy đều nồi cháo nếp loãng thoảng hương thơm nồng.
Anh cẩn thận múc từng muỗng cháo ra chiếc bát đất nung sứt mép,
khẽ thổi cho nguội bớt rồi đưa lên miệng mẹ.
Mẹ ăn chút cháo cho ấm người.
Bà Thẩm đón lấy, khẽ mỉm cười.
Nụ cười móm mém, nhanh nheo nhưng thanh thản đến lạ kỳ
như thể những ngày tháng trôi giặt trong hang đá tối tâm chưa từng xảy ra trong cuộc đời bà.
Dưới chân núi, người làng Trà Sơn thi thoảng vẫn nhìn thấy bóng dáng người đàn ông mặc áo tràm làm lũ gánh củi, hái thuốc.
Chẳng ai còn nhắc đến ngôi nhà gạch khang trang hay cửa tiệm lụa là thuở trước.
Có những sai lầm người ta phải trả bằng cả một đời lạc lối.
Nhưng cũng có những con đường quay về.
Bắt đầu từ một lần biết cuối đầu đón nhận sự tha thứ âm thầm của đấng sinh thành.
Cuộc đời này rộng lớn là thế,
nhưng nơi trốn bình yên nhất đôi khi chỉ nằm trong manh áo cũ và nụ cười bao dung của mẹ cha.
Cảm ơn quý vị đã lắng lại cùng câu chuyện hôm nay.
Xin hãy bấm đăng ký để đồng hành cùng chuyện xưa quê nhà.
Để chúng ta lại được cùng nhau ngồi bên bếp lửa xưa,
lắng nghe những phận người và giữ trọn đạo nghĩa làm con giữa dòng đời vội vã.
