Từng thống trị một vùng lãnh thổ rộng lớn suốt nhiều thế kỷ, Đế chế La Mã cuối cùng lại sụp đổ không chỉ bởi những cuộc xâm lược từ bên ngoài, mà còn bởi một quá trình suy kiệt kéo dài từ chính bên trong. Nội chiến, khủng hoảng kinh tế, chia cắt quyền lực và áp lực ngoại bang đã từng bước đẩy Tây La Mã đến ngày diệt vong. Điều gì thực sự đã giết chết một trong những đế chế vĩ đại nhất lịch sử? ----------------------------------
Executive Producer: Phung Trung Dung Producer: Dat Nguyen & Ma Thi Hue Research: Lanh Tran Editing & AI engineer: Thuy Nga Thumbnail: Ngoc Nguyen Quality Control: Dinh Khiem Vu
Ngày 4 tháng 9 năm 476, Romulus Augustus, vị hoàng đế cuối cùng của Tây La Mã, chính thức bị phế chuất.
Kẻ tức đoạt ngai vàng quyền lực ấy là Odysseus, thủ lĩnh của một bộ lạc trường mình nhỏ bé vốn bị xem như tầng lớp hạ đặc.
Trong suốt hơn 1.000 năm, đế chế Tây La Mã từng là hình mẫu của sự phát triển.
22 triệu km vườn lãnh thổ, hơn 1.000 dặm đường đá trải dài từ Tây sang Đông, cùng khoảng 22 triệu thần dân.
Không phải triều đại nào cũng có thể dẫn dắt đất nước của mình đi tới đỉnh cao quyền lực như thế.
Ấy vậy mà vào năm 476 định mệnh đó, vương miện của các xê xà lại bị tra đạp dưới móng ngựa của những kẻ man tộc vẫn đang sống giải giác tại các quốc gia nhỏ.
Nhưng làm thế nào mà hơn một thiền hình kỷ vĩ đại của La Mã lại rơi vào cái kết đầy ô nhục như vậy?
Để tìm ra câu trả lời, chúng ta phải quay ngược thời gian về gần 2 thế kỷ trước đó.
Khi ấy, ổ đề sở còn chưa được sinh ra, La Mã vẫn vĩ đại.
Y nhất, đó là những gì người dân trong đế quốc tìm tưởng.
Năm 284, một đoàn quân La Mã đang chậm chạp tiến qua vùng Tiểu Á.
Ở chính giữa đoàn người là cỗ kiệu của Hoàng đế Numerian.
Các cận thần giải thích rằng Hoàng đế mắc bệnh về mắt.
Ánh sáng mặt trời khiến ngài đau đớn, vì thế không ngài được phép quấy rời.
Mãi cho đến một tháng sau, những người lên bắt đầu ngửi thấy một mùi bất thường.
Đế chế hùng mạnh nhất thế giới vừa mất đi người đứng đầu mà không một ai hải biết.
Ai đã giết Hoàng đế?
Mọi ánh mắt đổ rồn về Upper, cha vợ của Numerian, đồng thời là người duy nhất kiểm soát việc tiếp cận chiếc kiệu Hoàng gia.
Đây là Diocles, một kẻ ngoại đạo trong thế giới của những dòng họ Rome quyền lực.
Cha ông chỉ là kẻ nô lệ được giải phóng, làm nghề viết thuê cho một nguyên lão.
Trong hệ thống phân cấp cứng nhất của Rome thời sơ khai, Diocles sẽ mãi mãi nằm ở đáy xã hội.
Nhưng đó là thời điểm thế kỷ thứ ba đầy hỗn loạn.
Quân đội trở thành cánh cửa giúp những kẻ liều lĩnh đổi đời.
Ngay khi trưởng thành, Diocles đã quyết định chọn con đường binh nghiệp để tiến thần.
Đến đầu những năm 280, Diocles đã leo lên chức chỉ huy trưởng lực lượng cấm vệ quân của Hoàng đế.
Thời cửa hoàn hảo mà ông chờ đợi cuối cùng đã đến.
Ngày 20 tháng 11 năm 284, các tướng lính tập hợp tại một ngọn đồi ở Nicomedia để chọn ra Hoàng đế mới.
Ngay trong ngày hôm đó, Diocles được toàn quân suy tôn lên làm Hoàng đế.
Kể từ đó, danh sưng Diocletian được sử dụng.
Thế nhưng thứ mà ông nắm trong tay chỉ là một đế chế đang hấp hối.
Mọi thứ bắt đầu vào năm 235.
Khi Hoàng đế Alexander Severus bị chính binh lính của mình sát hại.
Kể từ khoảnh khắc ấy, chương Ngài Vàng Lạ Mã biến thành một lời nguyện.
Quyền lực rơi vào tay các quân đoàn biển thủy, những người vừa được tung hồ là chủ nhân của Lạ Mã hôm nay,
thì ngày mai có thể bị đâm chết trong liều chỉ huy.
Trong vòng 50 năm, hơn 20 vị Hoàng đế thay phiên nhau bước lên Ngài Vàng.
Tệ hơn nữa, đế chế từng có lúc bị sẻ làm ba phần.
Nội chiến nối tiếp nội chiến.
Lạ Mã vẫn còn tồn tại.
Nhưng câu máy từng thống trị thế giới cổ đại đã bắt đầu dịu dã từ bên trong.
Dù lên làm Hoàng đế, Diocletian mới chỉ nắm được một nửa thiên hạng.
Ở phía Tây, người anh trai của Hoàng đế quá cố là Carinus vẫn giữ vững các quân đoàn tình nguyện nhất.
Ông ta không công nhận tính hợp pháp của Diocletian.
Và một cuộc nội chiến là điều không thể tránh khỏi.
Một xuân năm 285, quân đội của Diocletian và Carinus chạm trán tại Margus, thược Sepia ngày này.
Lực lượng phương Tây của Carinus hoàn toàn áp đảo.
May mắn thay, sự huấn loạn trong nội bộ đối phương đã cứu mạng Diocletian.
Carinus là một bạo chúa khét tím có lối sống đổi bại.
Giữa lúc trận chiến đang diễn ra ác liệt, một vị tướng trong hàng ngũ của ông ta bất ngờ trở mặt.
Vợ của ngày này từng bị Carinus làm nhục.
Mà một nguyện sâu sắc, vị tướng ra tay ám sát hoàng đế ngay giữa chiến trường.
Mặt tổng chỉ huy của đội phía Tây đầu hàng vặt thề trung thành về Diocletian.
Và thế là ông trở thành chủ nhân duy nhất của thế giới La Mã.
Nhưng khi tiếng gieo ho chiến thắng vừa lắng xuống, Diocletian hiểu rằng thử thách lớn nhất của mình mới chỉ bắt đầu.
Vấn đề của La Mã nằm ngay trong sự vĩ đại của nó.
Từ một ngôi làng nhỏ nằm giữa bán đảo Italy, rồm đắm một rộng quyền lực ra vùng lãnh thổ rộng khoảng 9 triệu km vuông, trải dài khắp 3 châu lục, Âu, Phi và Tây Á.
Để kiểm soát không gian khổng lồ đó, người La Mã tạo nên một kỳ tích của thế giới cổ đại.
Hơn 8 vạn km đường đá được xây dựng.
Nhờ mạng lưới này, binh lính có thể hành quân thần tốc đến chiến trường.
Hoạt động thường mại được nối liền từ bờ Đại Tây Dương đến tận vùng Cận Đông.
Do vậy, yêu thế ấy cũng không thể cứu lầy đế quốc.
Mọi trí thị anh chính đều được chuyển đi bằng ngựa.
Tiền giữ từ Syria cần nhiều tuần lễ mới tới tại Hoàng đế.
Không ít pháo đài biên giới bị sang phẳng trước khi Việt Bình xuất hiện.
Nhiều đô thị tuyến đầu buộc phải tự xoay sở giữa vòng vây của các tướng lính địa phương.
Kết quả là các cuộc đoạt ngôi liền tiếp xuất hiện.
Máu của người Lạ Mã đổ xuống bị chính người Lạ Mã.
Nội bộ bất ồn chính là miếng mùi ngon cho những thế lực bên ngoài.
Trước đây, Rome chủ yếu phải đối đầu với các bộ lạc phân tán, quy mô nhỏ và thiếu sự phối hợp.
Nhưng hoàn cảnh lúc này đã khác.
Những bộ lạc ấy bắt đầu liên kết thành liên minh rộng lớn hơn.
Từ phía Bắc, phía Đông, thậm chí ở bên kia địa trung Hải, các đoàn quân Manji dần tiến sâu vào lãnh thổ Lạ Mã.
Thế nhưng đó vẫn chưa phải là hiệp họa lớn nhất.
Năm 226, địa chế Sassanid được thành lập.
Khác với những bộ lạc bên kia sông Rin, đây là một nhà nước tập quyền, sở hữu quyền lực khổng lồ cùng quân đội chính quy thiện chiến.
Các vị vua Ba Từ luôn muốn thách thức quyền lực của đế quốc Lạ Mã tại châu Á.
Bình điểm của thảm họa năm 260 diễn ra gần thành phố Edessa, này thuộc Thổ Nhĩ Kỳ.
Và cứ thế Valerian trở thành vị Hoàng đế Lạ Mã đầu tiên trong lịch sử bị bắt sống bởi ngoại bàng.
Tí tức ấy gây trận động khắp địa quốc.
Tại phương Đông, nhiều vùng đất bắt đầu nổi dậy ly khai.
Để giữ chi phong tuyến trước sức ép từ cả hai hướng, chính quyền Lạ Mã buộc phải mở rộng quy mô quân đội.
Điều đó đồng nghĩa với việc phải bỏ ra những khoản trí khổng lồ.
Đế quốc rơi vào một vòng lập bất lực.
Biên cương càng bất ổn, nhu cầu quân sự càng tăng, nguyên khố càng cạn kiệt.
Khi đứng trên địa quyền lực, Diocletian nhìn thấy rõ thực trạng đáng sợ ấy.
Một Hoàng đế duy nhất không thể đồng thời hiện diện ở Rhine, Danube hay Euphrates.
Đế quốc cần phương thức cai trị hoàn toàn mới.
Và giải pháp mà Diocletian chuẩn bị đưa ra sẽ thay đổi lịch sử Lạ Mã mãi mãi.
Suốt 3 thế kỷ trước đó, các Hoàng đế Lạ Mã duy trì cái được gọi là chế độ nguyên thủ.
Họ chạy giấu quyền lực của mình dưới danh sưng Công dân số 1.
Tất cả để duy trì ảo tưởng rằng nên Cộng hòa vẫn tồn tại.
Nhưng Diocletian nhìn thấy rõ mặt trái của vòi kịch này.
Việc Hoàng đế quá gần gũi với người dân và binh lính là mất đi sự linh thiêng của quyền lực.
Ông quyết định phá bỏ hoàn toàn lớp vòi chính trị đã tồn tại suốt 300 năm.
Hoàng đế trở thành Chúa Tề và Thần Linh.
Diocletian xây dựng công điện thành một pháo đại bất khả xâm phạm và áp dụng các nghị lệ công đình nghiêm ngặt của người Ba Tư.
Diocletian đã thần thanh hóa trước kế quyền lực của mình.
Muốn giết một số Công dân số 1 thì dễ, nhưng muốn ra tay với một vị thân sống thì người ta phải run sợ.
Dù vậy, nó cũng không thể giúp Diocletian phân thân để có mặt ở mọi điểm nóng trên lãnh thổ rộng lớn.
Do đó, ông quyết định áp dụng một giải pháp triệt đề nhất, hệ thống tứ đầu chế.
Năm 286, Diocletian chọn người bạn chiến đấu trung thành là Maximian làm đồng Hoàng đế, gọi là Augustus.
Diocletian phụ trách phương Đông, Maximian kiểm soát phương Tây.
7 năm sau, mô hình ấy tiếp tục được mở rộng.
Hai Augustus, mỗi người sẽ chọn ra một vị tướng trẻ tài Ba làm cấp phó, trao cho sách hiệu Cesar.
Họ vừa là phụ tá, vừa là người kế vị sau này.
Lần đầu tiên trong lịch sử Lạ Mã, quyền lực tối cao không còn tập trung vào một cá nhân duy nhất.
Bốn người cai trị chia nhau quản lý những khu vực chiến lược khác nhau.
Thay vì ở lại rôm chờ báo cáo từ các vùng biên viễn, họ trực tiếp đặt tổng hành dinh gần nơi thường xuyên xảy ra chiến sự.
Hậu quả của hệ thống mới nhanh chóng bọc lộ.
Các cuộc nổi loạn bị đàn áp với tốc độ chưa từng thấy.
Tình hình biên giới dần lăng xuống.
Hoạt động hành chính cũng trở nên thồng suốt hơn trước.
Sau nhiều thời kỳ hỗn loạn, Lạ Mã cuối cùng cũng tìm lại được thứ tưởng như đã đánh mất.
Sự ổn định.
Vậy còn thành rôm thì sao?
Trong suốt 21 năm nắm giữ vận bệnh Lạ Mã, Diocletian đặt chân đến nơi đây đúng một lần nhân kỷ niệm hai thập kỷ trị vị.
Không lâu sau, vị Hoàng đế phải rời đi trong tâm trạng chán nản vì những đòi hỏi và đặc quyền mà tướng lấp quý tộc cũ luôn cho là hiển nhiên.
Danh tiếng của rôm vẫn còn nguyên vẹn.
Viện nguyên lão tiếp tục họp dưới những mái đền cổ kính.
Diocletian tin rằng,
Mình đã tìm ra lời giải cho căn bệnh đèo bám Lạ Mã suốt nhiều thế hệ.
Nếu kinh lực không còn phụ thuộc vào một cá nhân duy nhất, đế quốc sẽ tránh khỏi hỗn loạn mỗi khi Hoàng đế qua đời.
Người kế vị được sắp xếp từ trước sẽ nhanh chóng lên điều hành đất nước.
Và để chứng minh rằng tứ đầu chế có thể tồn tại vững chắc, Diocletian quyết định làm một việc khiến cả đế quốc kinh ngạc.
Năm 305, ông cùng người đông cai trị là Maximian rời bỏ Ngài Vàng, trao lại quyền lực cho thế hệ kế nhiệm.
Thế nhưng vị Hoàng đế già đã đánh giá quá cao sức mạnh của bộ máy mà mình tạo ra.
Trong khi ông tận hưởng cuộc sống yên bình bên bờ biển, thì trời Lạ Mã bắt đầu rung chuyển mạnh mẽ.
Diocletian tin rằng, vận mệnh của đế quốc phải được trao cho người có năng lực nhất, chứ không phải dựa theo huyết thống.
Tuy nhiên, những kẻ mang dòng máu hoàng tộc không chấp nhận bị giả diễn.
Năm 306, xe xa phương Tây đột ngột qua đời.
Tin dữ vừa mới lan ra, nhưng những quân đoàn dưới quyền đã lập tức tôn người con trai của ông và Constantine lên điểm vị tối cao.
Cùng thời điểm đó, Rome, Maxentius, con trai kẻ cựu Hoàng Maximian cũng chấp lấy thời cờ.
Ông lãnh đạo của chúng nổi dậy, dành quyền kiểm soát thành Rome, rồi tự sưng là Augustus.
Nguồn lửa tham vọng nhanh chóng lan khắp thế giới Lạ Mã.
Chỉ trong vòng chưa đầy 2 năm sau ngày Diocletian về hưu, ban cơ 4 người cai trị bị xẻ nát thành vô số phe phái đối địch.
Có thời điểm 6 đến 7 hoàng đế cùng tồn tại.
Những đạo quân từng được lập ra để bảo vệ biên giới, giờ quay sang đâm chém lợn nhỏ.
Đến năm 312, cuộc tranh chấp tại phương Tây chủ yếu xoay quanh 2 đối thủ lớn nhất.
Một bên là Constantine, đang kiểm soát các tỉnh phía Bắc.
Thế còn lại là Maxentius, nằm giữ Rome cùng phân lớn bản đạo Italia.
28 tháng 10 năm ấy, 2 đạo quân chạm trán gần cầu Minvian.
Ban đầu, Maxentius nằm giữ lợi thế với quân số đông hơn gấp đổi.
Tương thành Rome bất khả xấm phạm, chưa kể nguồn lương thực dồi dào.
Nhưng nhờ tay tháo lực xuất sắc, Constantine điều động kỹ bình bẻ gãy 2 bên sườn của Maxentius.
Bộ binh của đối phương bị ép lui dần về phía kết cầu độc đạo Minvian.
Trong cơn hoảng loạn, công trình giã chiến ấy đã đổ sập.
Bản thân Maxentius cũng mất mạng.
Constantine chính thức trở thành chủ nhân của toàn bộ Tây Lạ Mã.
Nhưng điều đó không đồng nghĩa với bình yên trong tương lai.
Nội chuyển có thể kết thúc bằng giáo mát.
Xong, sự chia rẽ trong xã hội lại là câu chuyện khác.
Sớt hơi 500 năm, người là Maxentius vào một khí ước tâm linh gọi là hòa bình với thần lĩnh.
Nếu người dân thực hiện đầy đủ nghì lễ cúng tế, các vị thần sẽ ban cho Rome sự thịnh trị và chiến thắng.
Hoàng đế chính là đại giáo chủ, người kết nối quốc gia với thế giới tâm linh.
Những khí ước đó dường như đã hoàn toàn phản bội họ.
Người dân La Mã phải chịu đựng dịch bệnh, nghèo đói, lạm phát và những cuộc tàn sát kéo dài.
Nhiều người bắt đầu tìm kiếm niềm tin mới cho các khó khăn đang bùa vây cuộc sống của họ.
Trong bối cảnh ấy, kỳ tổ giáo bắt đầu được chuyển vào.
Đức tin này nhấn mạnh rằng, trước Thiên Chúa không có hoàng đế, nguyên lão hay nô lệ.
Tất cả con người đều bình đẳng, đều là anh em.
Nhưng ai phải chịu khổ đau, nhục nhã ở kiếp này, sẽ nhận được phần thưởng là sự sống đời đời ở vương quốc thiên đảng.
Đối với hàng triệu nô lệ, nông dân và phụ nữ bị gạt ra ngoài lề xã hội La Mã, đức tin mới nghiêm nhiên trở thành chiếc phào cứu sinh.
Đến cuối thế kỷ thứ ba, kỳ tổ giáo không còn là một giáo phái nhỏ của người giò thái nữa.
Họ đã xây dựng được một mạng lưới ngầm vững chắc trong lòng La Mã.
Với hệ thống giáo phận, quý tư thiện riêng, cùng sự kết nối xuyên biên giới từ Tây Bàn Nhà đến Bà Tư.
Quan trọng nhất, các tín hiệu kỳ tổ kiên quyết tư chối thực hiện nhiệm vụ cúng tế hoàng đế, bởi họ chỉ thờ phộng một thiên chúa duy nhất.
Đối với một hoàng đế La Mã, đây chẳng khác gì một căn bệnh hoại tử cần phải cắt bỏ ngay lập tức.
Năm 303, Diocletian phát động cuộc đại thanh trường tàn khốc nhất lịch sử.
Những máu càng đổ, kỹ tổ giáo càng bám dễ sầu hơn nữa.
Ngay cả với tầng lớp lãnh đạo La Mã cũng không phải ngoài lệ.
Trong thời gian phục vụ tại Triều Đình Phường Đông, Constantine đã tận mắt chứng kiến các cộng đồng kỹ tổ hữu không ngừng phát triển.
Thậm chí một số cận thần quanh ông còn bí mật theo đạo.
Bởi vậy, kỹ tổ giáo từ lâu đã không còn xa lạ đối với Constantine.
Vào buổi chiều trước trần cầu Minviang, họ bất ngờ nhìn thấy một cảnh tượng bất thường.
Phía trên mặt trời xuất hiện ánh sáng có hình dạng giống cây thập giá.
Bên cạnh là một dòng trước bằng tiếng Hy Lạp với nội dung.
Dưới dấu hiệu này, người sẽ triển thắng.
Không chỉ Constantine mà nhiều binh sĩ đi cùng cũng chứng kiến hiện tượng ấy.
Từ hôm đó, ông tiếp tục trải qua một giấc mơ kỳ lạ.
Chùa kỹ tổ xuất hiện và yêu cầu Constantine sử dụng biểu tượng nhìn thấy ban ngày làm dấu hiệu bảo hộ cho quân đội.
6 hôm sau, Constantine đã ra lệnh sử dụng một quân kỳ có vẽ hình Cairo.
Biểu tượng ghét từ hai kỳ tự đầu tiên của tiên gọi Christos trong tiếng Hy Lạp.
Quân kỳ này về sau đã trở thành biểu tượng nổi tiếng nhất của triều đại Constantine.
Trên thắng, tải cầu Minviang không chỉ trao cho ông quyền kiểm soát phần phía tây của đế quốc.
Nó còn mở ra một cách nhìn hoàn toàn khác về vai trò của kỹ tổ giáo trong tương lai Lạ Mã.
Qua nhiều năm quan sát, Constantine hiểu rằng các cộng đồng tín hiếu đã phát triển thành một lực lượng xã hội khổng lồ.
Họ sở hữu sự kỳ luật, lòng trung thành và mạng lưới tổ chức chặt chẽ, thứ mà ngay cả chính quyền Lạ Mã cũng không có được.
Thay vì tiếp tục đàn áp, ông lựa chọn biến nguồn sức mạnh đó thành đồng minh.
Năm 313, Constantine gặp gỡ vị Hoàng đế phương Đông Licinius tại My La.
Tại đây, hai người đã ban hành một văn kiện làm thay đổi lịch sử nhân loại.
Sắc lệnh My La.
Văn bản ấy không được kỹ tổ giáo trở thành quốc giáo.
Điều nó mang lại là sự hợp pháp hóa hoàn toàn quyền tự do thờ phụ trên toàn đế quốc.
Mọi tài sản từng bị tịch thu trong cuộc đại thanh trừng đều phải hoàn trả cho giáo hội.
Kẻ sáng đổi ngày hôm qua giờ đấy trở thành người bảo hộ.
Nhiều đặc quyền thuế khóa được trao cho hàng giáo sĩ.
Các học giả kỹ tổ giáo dần xuất hiện trong những vòng cổ vấn cao cấp.
Đến năm 325, Constantine triêu tập cộng đồng Nicea nhằm giải quyết các tranh cãi thần học.
Đang chia rẽ công đồng tin hữu.
Điều đáng chú ý là vào thời điểm đó, ông thậm chí vẫn chưa làm lễ rửa tội.
Từng bước một, giáo hội được gắn chặt vào cấu trúc vận hành của nhà nước.
Niềm tin dành cho Thiên Chúa cũng dần hòa quyện với lòng trung thành hướng về Ngài và.
Các vị thần của tôn giáo La Mã truyền thống chưa biến mất ngay lập tức.
Tuy nhiên kỷ nguyên của họ đã bắt đầu đi đến hồi kết.
Năm 324, sau khi đánh bại Hoàng đế Phương Đông Licinius, Constantine chính thức thống nhất đất nước.
Ông trở thành chủ nhân của cả thế giới La Mã.
Nhưng khi đứng trên đỉnh cao quyền lực, Constantine nhận ra một vấn đề nghiêm trọng.
Trung tâm quyền lực của La Mã không còn là nơi tương sản sinh ra đế chế.
Sau một thế kỷ nội chiến, phần phía Tây của đế quốc đã hoàn toàn kiệt quệ.
Đất đã bỏ hoang, dân số rụt giảm, thương mại đình trệ và nguồn thú thuế trở nên neo hẹp.
Trong khi đó, các vùng đất phía Đông lại phát triển theo chủ hướng hoàn toàn trái ngược.
Ách Cập cung cấp lương thực, Syria kiểm soát những tuyến thương mại béo bở.
Tiểu Á sở hữu các đô thị đông đúc cùng nền kinh tế năng động.
Hy Lạp vẫn giữ vai trò trung tâm văn hóa của thế giới địa trung hà.
Phần lớn của cải và nhân lực mà đế chế cần để tồn tại được tập trung tại khu vực này.
Khó khăn không chỉ nằm ở kinh tế, rồ mở quá xa những mặt trận nguy hiểm nhất.
Phía Bắc là tuyến phòng thủ sông Danube luôn chịu áp lực từ các liên minh màn tộc.
Phường Đồng là biên giới ba tư, nơi triều đại Sassanid liên tục thách thức quyền lực là má.
Constantine hiểu rằng đế quốc không thể tiếp tục được điều hành từ một thành phố đã trở nên xa rời những trung tâm quyền lực mới.
Bởi vậy, ông đưa ra quyết định táo bạo nhất trong sự nghiệp của mình.
Thay vì cố như giữ hòa quang quá khứ, vị Hoàng đế lựa chọn xây dựng tương lai ở phường Đồng.
Địa điểm được chọn là Byzantium, một đô thị cổ nằm bên eo biển Boforus.
Từ vị trí này, hạm đội có thể kiểm soát tuyến giao thông giữa biển Đen và địa Trung Hải.
Quân đội cũng dễ dàng cơ động tới cả mặt trận Danube lẫn biên giới ba tư.
Sau nhiều năm xây dựng với nguồn lực khổng lồ từ khắp đế quốc, kinh đồ mới chính thức khánh thành vào ngày 11 tháng 5 năm 330.
Thành phố ấy mang tên Constantinople.
Nhiều người còn gọi nơi đây là Rome mới.
Cộng trình này không đơn thuần là sự thay đổi địa điểm hành trình.
Nó đánh dấu sự dịch chuyển của trọng tâm quyền lực làm mã từ Tây sang Đông.
Một viện nguyên lão mới được thành lập.
Những quyết định nguyên nga lần lục mọc lên.
Các nhà thờ kỹ tô giáo đồ sộ xuất hiện giữa đường phố.
Nguồn đầu tư của triều đình bắt đầu chảy về kinh đồ mới.
Giới quý tộc, thương nhân, học giả cùng quan chức cấp cao cũng dần tìm tới đây để tìm kiếm cơ hội.
Theo thời gian, Constantinople ngày càng giàu có.
Trong khi đó, Tây Lạ Mã giờ đây chỉ có biết run dày đến ngược thời gian.
Chiếc những tiếng móng ngựa của làn sóng ngoại bạc kéo tới.
Cuối thế kỷ thứ tư, từ những thảo nguyên mênh mông của Trung Á, người hung tràn vào Đồng Ngọc.
Vì dồn tới đường cùng, hàng chục nghìn người Germanic kéo tới bờ sông Dionysus,
cầu xin được tiến vào lãnh thổ Là Mã.
Triều đình Rome khi ấy đã đồng ý mở cửa.
Họ tin rằng những người tị nạn đó sẽ bổ sung dân số, đóng thuế và cung cấp binh sĩ cho các quân đoàn đang thiếu hụt nhân lực trầm trọng.
Nhưng họ đã nhập.
Tình trạng tham nhũng khiến lương thực cứu trợ bị biển thủ.
Đám đông lưu vong rơi vào cảnh đói khát cùng cực.
Hy vọng dân chuyển thành hoán hận.
Cảm phận cuối cùng bùng nổ thành chiến tranh.
Năm 378, Hoàng đế Valens buộc phải thân trinh đối phó cuộc nổi dậy.
Kết quả là một trong những thảo mạo quân sự lớn nhất lịch sử Là Mã.
Quốc đội đế quốc bị nghiền nát.
Valens tử trận giữa chiến trường.
Biên cầu ấy khiến toàn bộ thế giới địa chung Hải nhận ra một sự thật đáng sợ.
Các quân đoàn từng chinh phục thiên hạ không còn bất khả chế bại nữa.
Để duy trì sự tồn tại, chính quyền trung quân buộc phải thay đổi cách vận hành.
Thay vì loại bỏ cộng đồng ngoại tộc,
họ bắt đầu tuyển dụng những chiến binh và quân đội với tư cách đồng minh và lĩnh đánh thuê.
Trên giành nghĩa, họ sẽ phục vụ Hoàng đế.
Nhưng thực tế, Rome không thể có được lòng trung thành của cộng đồng Manji.
Chính sách nguy hiểm ấy nhanh chóng đẩy nửa phía tây Là Mã vào thảm kịch.
Khi mạng lưới tài chính ngày càng sủi yếu,
Rome không còn đủ khả năng bao đảm lương bổng và thực phẩm cho lực lượng vũ trang.
Nhiều toán binh sĩ ngoại bàng bắt đầu trở mặt.
Năm 410, thủ lĩnh tên Alaric dẫn đại quân bao vây Rome,
thành phố từng cai trị cả thế giới, bị cướp phá suốt vài ngày.
Triều đình bất lực trốn về Ravenna,
một đô thị đầm lầy dễ phòng thủ hơn nhiều so với kinh đồ cũ.
Đó là lần đầu tiên sau gần 8 thế kỷ, trung tâm thiêng liêng của người Là Mã thất thủ trước ngoại bàng.
Tiếng tức ấy gây chấn động toàn bộ địa trung hải.
Nếu Rome có thể bị đánh chiếm, vậy còn điều gì là bất khả xâm phạm?
45 năm sau, tham họa lập lại.
Một dân tộc Germanic khác mang tên Vandan vướt biển từ Bắc Phi, Tiến và Italy.
Năm 455, họ cướp phá Rome lần thứ hai.
Không bỏ tích lý qua nhiều thế kỷ, đã bị Là Mã mang đi.
Danh tiếng cuối cùng của phương Tây cũng trôi dần theo những cánh buồm khuất giảm ngoài khơi.
Hình hình càng tuyệt vọng hơn khi Bắc Phi rơi vào tay Vandan.
Sự kiện ấy đồng nghĩa với việc đế quốc đánh mất kho lương lớn nhất của mình.
Quyền kiểm soát địa trung hải phía Tây cũng không còn thuộc về Là Mã nữa.
Bước sang thế kỷ thứ năm, cao hoàng đế chỉ còn là cái bóng ngồi trên ngài vàng.
Anh hưởng thực sự nằm trong tay các từng lính xuất thân từ những cộng đồng Germanic đang phục vụ quân đội.
Họ dựng lên quân vương mới khi cần thiết, rồi loại bỏ bất cứ ai không có giá trị sử dụng.
Mùa thu năm 476, khối kết cuối cùng đã đến.
Trong số những chiến binh phục vụ triều đình thời bấy giờ, Odessa nổi lên như nhân vật có uy tìn lớn nhất.
Ông dành cả tuổi trẻ chiến đấu dưới lá cờ Là Mã và nhiều lần bảo vệ chính quyền Ravenna trước các mối đe dọa từ bên ngoài.
Đổi lại cho sự công hiến ấy, điều binh sĩ giới quyền mong muốn chỉ là vài mảnh đất canh tác tại Italy để ổn địa quốc sống sau nhiều năm chiến chiến.
Giới quyết tộc lại kiên quyết từ chối.
Quyết định ấy trở thành giọt nước làm trản lịch.
Ở đây sẽ hiểu rằng lòng trung thành không còn mang lại bất kỳ phần thưởng nào từ một bộ máy đã mục rũa đến từ gốc rễ.
Ông phát động binh biến.
Quân đoàn mang dòng máu Chomanic lập tức tiến thẳng về Ravenna.
Bên trong quân đội lúc ấy là Romulus Augustulus, vị hoàng đế mới 16 tuổi.
Lịch sử giống như cố tình tạo ra một sự mỉa mai cay đắng.
Người đầu tiên lập nên Rome mang tên Romulus.
Vị hoàng đế vĩ đại đầu tiên mang tức hiệu Augustus.
Cái cuối cùng cai trị Tây Lạ Mã lại mang cả hai cái tên ấy.
Hồ Đề Sơ không buồn sự từ cậu bé.
Ông ta hiểu rằng quyền lực thực sự đã chết từ lâu.
Những biểu tượng hoang quyền được gửi tới Constantinople.
Thông điệp rất rõ ràng.
Phương Tây không còn hoàng đế nữa.
Năm 476 thường được xem là ngày đế quốc Tây Lạ Mã sụp đổ.
Tuy nhiên, cái chết thực chất ấy đã bắt đầu từ nhiều thế hệ trước.
Mọi thứ khởi nguồn từ cuộc khủng hoảng thế kỷ thứ 3.
Những cải cách của Diocletian khiến sự chơi cách ngày càng sâu sắc.
Quyết định rời đô của Constantin tiếp tục kéo trọng tâm quyền lực sang phương Đông.
Người hung chỉ là cơn bão.
Các bộ tộc Germanic đơn thuần là lưỡi dìu.
Odessa chẳng qua chỉ là người đọc bản án cuối cùng.
Thứ thực sự giết chết Tây Lạ Mã chính là sự suy kiệt kéo dài của cơ thể đế quốc.
Khi năm 476 khép lại, một kỷ nguyên hoàn toàn mới bắt đầu.
Những vương quốc Germanic mọc lên trên nền móng Lạ Mã cũ.
Giáo hội trở thành nhiều lưu giữ ký ức của thời cổ đại.
Còn tại Constantinople, đế quốc Đông Lạ Mã vẫn tiếp tục tồn tại thêm gần một thiền niên kỷ nữa.
Lạ Mã đã chết ở phường Tây.
Do vậy, cây bóng của nó vẫn phủ dài lên lịch sử nhân loại trong nhiều thế kỷ tiếp theo.