MK Ultra – Thí Nghiệm Kiểm Soát Tâm Trí Tàn Độc Nhất Của CIA

Vũ Trụ Nguyên Thuỷ
724 Người theo dõi
179 Lượt xem video·16 thg 9, 2026
MK-Ultra là chương trình tuyệt mật của CIA với tham vọng kiểm soát tâm trí con người bằng LSD, thôi miên và nhiều phương pháp thử nghiệm gây tranh cãi. Từ những nạn nhân không hề biết mình bị thử nghiệm đến cái chết bí ẩn của nhà khoa học Frank Olson, MK-Ultra đã trở thành một trong những chương đen tối nhất trong lịch sử tình báo Mỹ.
---------------------------------
Executive Producer: Phung Trung Dung
Producer: Dat Nguyen & Ma Thi Hue
Research: Lanh Tran
Editing & AI engineer: Thuy Nga
Narrator: Viet Cuong Nguyen
Thumbnail: Ngoc Nguyen
Quality Control: Dinh Khiem Vu
👍 Liên hệ công việc:
Email: [email protected]
Zalo: 0876695969
Mọi sự ủng hộ cho kênh mời các bạn donate qua:
STK: 0393331668 - Ngân hàng BIDV - Nguyễn Việt Cường
Momo: 0393331668
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
Người vừa đưa ra lựa chọn tồi tệ ấy là Frank Elson, một nhà khoa học chuyên nghiên cứu vũ khí sinh học của quân đội Mỹ.
Ông được chính phủ lựa chọn tham gia vào một kế hoạch tuyệt mật để rồi bị chính họ kết liễu khi kế hoạch ấy không còn khả thi.
Mãi sau này, khi lục lại hồ sơ, người ta mới biết cái chết của Elson là kết quả của một chương trình tuyệt mật với tham vọng kiểm soát đồng chí con người.
Dự án MKULTRA
Đầu những năm 1940, Elson là một trong những chuyên gia trẻ triển vọng nhất trong lĩnh vực vi sinh học của Hoa Kỳ.
Cuộc sống của ông khi ấy chỉ xoay quanh gia đình, giảng dạy và phòng nghiên cứu.
Nhưng Thế chiến thứ 2 đã làm thay đổi hoàn toàn con đường bình yên đó.
Để chuẩn bị cho nguy cơ chiến tranh sinh học, Washington bắt đầu triển khai nhiều dự án nghiên cứu tuyệt mật.
Và Elson nhanh chóng xuất hiện trong danh sách được tuyển chọn.
Đến đầu thập niên 1950, nhờ năng lực vượt trội, Elson được chuyển sang làm việc cho Phân Cục Hành Động Đặc Biệt.
Đây là đơn vị đầu não chịu trách nhiệm phát triển các phương thức tác chiến bí mật bằng hóa học và sinh học của tình báo Mỹ.
Nhiều loại vũ khí từng trường trì có trong tiểu thuyết đã ra đầy từ đây.
Ví dụ như binh chứa, ngụy tràng thành hộp kem cạo dâu để giải bệnh than trong khu vực hẹp.
Hay bật lửa phóng khí độc gây chết người.
Thậm chí còn tồn tại loại son môi có khả năng gây ra thương tức thì.
Elson khi ấy vẫn không hề hẳn biết rằng bản thân đang từng bước tiến vào một trong những trường đèn tối nhất của lịch sử nước Mỹ.
Thế chiến thứ hai kết thúc nhưng niềm vui thắng lợi không mang lại bình yên như nhiều người hy vọng.
Hàng loạt cáo buộc được trình lên cơ quan an ninh Hoa Kỳ.
Nội dung tiết lộ rằng Đức Quốc giá đã từng tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu tàn bạo với ý thức con người.
Tù nhân bị ép sử dụng chất gây ảo giác hoặc quá chất tác động thần kính.
Họ muốn xác định xem nhận thức của con người có thể bị thao túng hay không.
Để kiểm chứng điều này, sau khi chiến tranh kết thúc, chính phủ Mỹ đã bí mật tuyển dụng một số nhà khoa học Đức.
Những kinh tức đen tối mà họ mang theo được xem là tài sản chiến lược trong cuộc đối đầu với Liên Xô.
Người lò kiểm soát tâm trí của chính phủ Mỹ càng trở nên nghiêm trọng hơn vào năm 1949.
Một vị hồng nghi công giáo bị chính quyền thần Liên Xô đem ra xét xử với các cáo buộc về gián điệp và âm mưu lật đổ nhà nước.
Trước khi bị bắt, giáo sĩ này nổi tiếng là người cứng rắn trong phong trào chống Cộng sản.
Thế nhưng khi xuất hiện tại phiên tòa, hình ảnh ấy đã biến mất hoàn toàn.
Đối với phần lớn công chúng, đây chỉ là một phiên tòa mang màu sắc chính trị.
Tuy nhiên, về chính phủ Mỹ, đó là tín hiệu báo động.
Rốt cuộc, phía Cộng sản đã làm gì vị giáo sĩ ấy?
Washington bắt đầu tiên vào một viễn cảnh đáng sợ.
Liên Xô dừng như đã tìm ra phương pháp thao tủng phí thức con người.
Nếu đối thủ làm được điều đó, hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng.
CIA khi ấy mới thành lập chưa đầy 3 năm, quyết định tìm cho ra câu trả lời.
Năm 1950, dự án Chim Sanh được triển khai.
Mục tiêu là nghiên cứu các phương pháp thẩm vấn đặc biệt và tăng khả năng chống tẩy não.
Ma túy, thôi miên và trả tấn tâm lý được đưa vào sử dụng.
Một năm sau, chương trình tiếp tục phát triển thành dự án Artichoke.
Lần này, CIA muốn tìm ra một phương pháp mang tính triệt đẩy hơn.
Phá vỡ hoàn toàn nhận thức cũ, điều khiển hành vi và cưỡng ép khai thác thông tin
bằng cách kết hợp giữa hóa chất hướng thần với thôi miên sâu.
Để thực hiện tham vọng đó, họ cần thêm những chuyên gia có kinh nghiệm về độc chất và vi sinh học.
Đó là lý do Visual Ocean được triều tập.
Đây là nghĩa điều hành cao cấp nhất của dự án Artichoke.
Đối với hàng xóm ở vùng ngoại ô Virginia,
ông chỉ là một viên chức bình thường yêu thích công việc trồng lan và nuôi dề.
Khi căng thẳng, nghề đàn ông này còn nói lắp đôi chút.
Thế nhưng bên trong CIA, hình ảnh đó hoàn toàn thay đổi.
Cali sở hữu băng tiến sĩ hóa sinh thực Cortex,
một trong những cơ sở nghiên cứu hàng đầu nước Mỹ.
Thứ ông giỏi nhất là chế tạo chất động.
Trong suy nghĩ của Gottlieb, việc kiểm soát tâm trí gồm hai giai đoạn.
Bước đầu tiên là xóa sạch những gì đang tồn tại.
Tiếp theo là thay thế bằng một cấu trúc mới.
Nghe có vẻ đơn giản, nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại.
Cô lập, sốc điện, không cho phép ngủ
và nhiều biện pháp tra tấn khác chỉ đang phá hủy bộ não.
Kết quả là chẳng còn gì để tái lập trình.
Gottlieb gần một giải pháp tinh vi hơn những kỹ thuật thẩm vấn truyền thống.
Là một nhà hóa học, ông đặc biệt quan tâm tới các loại chất hướng thật.
Những thử nghiệm đầu tiên mang lại kết quả không rõ ràng.
Với cocaine và heroin, hành vi trở nên hỗn loạn và khó dự đoán.
Trong khi đó, mescaline, một chất từng được người Đức sử dụng,
cũng chẳng khá hơn là bao.
Chỉ còn một lựa chọn cuối cùng.
Vài năm trước đó,
quân đội Mỹ đã bắt đầu thử nghiệm một chất gây ảo giác có nguồn gốc từ Thụy Sĩ
mang tên LSD-2.
Chỉ một lượng nhỏ từng được vài hạt muối,
nó có thể làm biến dạng cảm nhận về thời gian, không gian và thực tại.
Gottlieb ngay lập tức bị quần hút.
Trải nghiệm đó khiến ông tin rằng
đấy chính là chìa khóa để thảo tùng ý thức.
Ngày sau đó, LSD đã trở thành trung tâm của toàn bộ chương trình nghiên cứu.
Hàng loạt thí nghiệm được tiến hành trên nhân viên CIA,
tù binh chiến tranh,
bệnh nhân tâm thần
và nhiều đối tượng khác.
Kết quả cho thấy,
LSD thực sự có khả năng bẻ gãy nhận thức cũ.
Nó khiến con người hoang mang,
mất phương hướng,
suy giảm khả năng phán đoán
và dễ bị tác động tâm lý hơn bình thường.
Tuy nhiên,
nó cũng tạo ra hàng loạt vấn đề mới.
Cùng một liều lượng,
nhưng phản ứng của mỗi người lại hoàn toàn khác nhau.
Dự án khi ấy rõ ràng không còn đủ quy mô cho tham vọng của Godley.
Ông lập tức trình lên giám đốc CIA
kế hoạch xây dựng một chương trình kiểm soát nhận thức tập trung quy mô lớn.
Ngày 13 tháng 4 năm 1953,
dự án mang tên MK Ultra được phê chuẩn.
Từ thời điểm đó,
Godley có trong tay thứ mà ông tin
là chìa khóa mở cánh cửa cuối cùng
của bộ đảo con người.
Một xuân năm 1953,
dự án MK Ultra trình thức đi vào hoạt động.
Chỉ trong thời gian ngắn,
nó đã phát triển thành một mạng lưới khổng lồ.
Dòng tiền được chuyển qua nhiều lớp trung giãn.
Các bệnh viện,
trường đại học,
cơ sở nghiên cứu
hay cả nhà tù nhận tài trợ
đều không hề biết ai mới là người đứng sau.
Đối tượng nghiên cứu thường là tù nhân,
kẻ vô gia cư,
con nghiện và gái mại rầm.
Những sinh mạng bị gạt ra ngoài lệ xã hội.
James Boucher,
kẻ mà sau này trở thành ông trùm mafia khét tiếng nhất vùng Boston,
chính là một con chuột bạch như thế.
Khi đang thủ án tại nhà tù liên bang,
Boucher đã ký vào đơn tình nguyện tham gia chương trình thử nghiệm LSD.
Bởi ông tin rằng,
đây là dự án y khoa tìm thuốc trước bệnh tâm thần phân liệt.
Trời chiều thai,
thứ chào đón Boucher
là chuỗi ngày sống trong địa ngục.
Trong suốt 14 tháng,
những liều LSD cực mạnh
liên tiếp được tiêm vào ông và 8 tù nhân khác.
Do vậy,
những nghiên cứu này vẫn chưa làm CIA hài lòng.
Họ muốn xem chuyện gì sẽ xảy ra
nếu một người bị đánh thuốc mà không hề hay biết.
Và đó là cách chiến dịch cực khói lúc nửa đêm đã ra đời.
CIA thuê gái mại rầm
để rủ rối những tên tội phạm được chọn là mục tiêu.
Nhà nhân sẽ bị dẫn đến các căn hộ bí mật
ở New York và San Francisco.
Tại đây,
thức uống pha LSD đã được chuẩn bị sẵn.
Cứ thế,
chỉ khoảng 10 đến 15 phút dọc,
nhiều người bắt đầu nói không ngừng.
Từ các vụ buồn ma túy,
những án mạng,
cho tới bất cứ bí mật nào họ đang che giấu.
Nhưng đó chưa phải là phần tồi tệ nhất của MKUltra.
Chương trình này thậm chí còn mờ rộng sang các trẻ em.
Người phụ trách yêu cầu những đứa trẻ
vẽ thật nhiều hình vương trên giấy
cho đến khi đồng hồ báo thức vàng lên.
Nếu hoàn thành nhiệm vụ,
em sẽ được thưởng kẹo.
Ngược lại,
cô bé sẽ bị giao cho một con quái vật.
Kỳ như thế,
hàng nghìn công dân vô tội đã bị hủy hoại
bởi nỗi lo kiểm soát tầm trí của giới cầm quyền.
Các thiết nghiệm vẫn tiếp tục.
Ngày này,
nối tiếp người khác.
Nhân liệu một cô máy bí mật khổng lồ như MKUltra
có thể vận hành mãi
mà không để lại bất kỳ vết nứt nào hay không?
Khoảnh khắc ấy
đang đến rất gần.
Chuyện trêu thay nó lại bắt đầu
từ chính những con người đang phục vụ cho chương trình.
Tháng 5 năm 1953,
các chuyên gia thực dự án MKUltra
bắt đầu thử nghiệm một
trong những chất độc thần kinh nguy hiểm nhất lịch sử nhân loại.
Sari.
Toàn bộ đối tượng tham gia
đều là quân nhân tình nguyện.
Họ được thông báo rằng
cần tìm người hỗ trợ các khoa học thử nghiệm
phương pháp điều trí cảm lạnh mới.
Mỗi cá nhân đăng ký
sẽ nhận thêm khoản tiền bồi dưỡng.
Lời định ý hếp dẫn ấy
nhanh chóng thu út Kenner.
Ít ngày sau,
cậu cùng 5 bình sĩ khác
được đưa vào phòng thí nghiệm.
Chẳng ai đứng ra giải thích
cuộc thử nghiệm sẽ diễn ra như thế nào.
Nhóm quân nhân chỉ nhảy mận lệnh
dù bất cứ chuyện gì xảy ra
họ tuyệt đối không được tự ý
tháo thiết bị bảo hộ xuống.
Khoảng 30 phút trôi qua,
cánh cửa sắt cuối cùng cũng mở.
Cả bình sĩ trẻ như chết đi sống lại.
Đội ngũ khoa học thì khác.
Họ đã thu được dữ liệu mình cần.
Hai ngày sau,
thí nghiệm tiếp tục.
61 người mặt mới xuất hiện.
Nhưng lần này không phải ai
cũng có thể bước ra khỏi căn phòng ấy.
Chưa đầy 45 phút
kể từ lúc cuộc thử nghiệm bắt đầu,
một người lính trẻ đã gục xuống.
Olsen chứng kiến tất cả.
Ông là một trong số ít
những người biết rõ về MK Ultra.
Những gì trước mắt
khiến Olsen vô cùng bàng hoàng.
Nỗi ám ảnh khiến ông
phải tìm gặp bác sĩ tâm thần.
Tại đây, Olsen thối nhận rằng
mình đã nhìn thấy việc
đáng lẽ không bao giờ được phép xảy ra.
Và cuộc trò chuyện nhanh cho ông
đến tay người đứng đầu MK Ultra.
Những tháng sau đó,
Olsen lại tiếp tục chứng kiến
nhiều cảnh tương tự ở Đức.
Khi tìm đến bác sĩ tâm thần lần nữa,
ông không còn là con người
điểm tính trước đời.
Đối loại ấy đã khiến Olsen
trở thành mối nguy hiểm.
Liệu nhà khoa học này
có còn đủ khả năng
tiếp tục nắm giữ những bí mật
tối quan trọng của chiến tranh lạnh hay không?
Và một cuộc thử nghiệm đã diễn ra
để tìm kiếm câu trả lời.
Frank Olsen,
cùng khoảng 20 nhân viên quân đội
và tình báo,
được triệu tập để trao đổi
về các dự án đang triển khai.
Trong số đó,
có Sidney Godley
và trợ lý Robert Lasbroke.
Sau bời học,
mọi người cùng ăn tối.
Không ai biết rằng,
Godley đã bí mật ra lệ
cho Lasbroke và Els
đi vào đồ uống.
Khoảng 20 phút sau,
ông mới tiết lộ sự thật.
Lúc ấy,
chất gây ảo giác
đã bắt đầu phát huy tác dụng.
Phần lớn những người có mặt
vẫn giữ được bình tĩnh.
Họ là các sĩ quan tình báo
được huấn luyện
để đối phó với tình huống như vậy.
Nhưng Olsen thì không.
Els đi khiến ông rơi vào cơn hoang tưởng.
Đến sáng hôm sau,
Olsen gần như suy sụp hoàn toàn.
Ông lên tủ yêu cầu
được trở về bên gia đình.
Sao ông Godley lại có kế hoạch khác?
Ông lệnh cho Lasbroke
đưa Olsen đến New York
để điều trị tâm lý.
Điều mà Olsen không biết
là vì bác sĩ tâm thần ấy
cũng đang nhận tài trợ từ CIA.
Tối 27 tháng 11 năm 1953,
ông gọi điện cho vợ,
báo rằng hôm sau mình sẽ trở về.
Nhưng điều đó không bao giờ diễn ra.
Sáng ngày 28,
Olsen rơi từ cơ sổ tầng 13
của khách sạn xuống
và tử vong.
Khi cảnh sát tới nơi,
họ phát hiện Lasbroke
vẫn ở trong phòng.
Ông ta hoàn toàn bình tĩnh
và yêu cầu mọi chuyện
phải được xử lý nhanh nhất.
Gia đình Olsen
chỉ được thông báo rằng
nghề trụ cột của họ
đã tử vong
sau một cơn suy sụp tinh thần nghiêm trọng.
Còn MK Ultra thì sao?
Mọi chuyện chẳng có gì thay đổi.
Sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc,
Washington tiếp tục nhận được
nhiều báo cáo đáng lo ngại.
Một số tu binh Mỹ trở về
lại công khai chí trích chính tổ quốc
rồi đưa ra lời thú tội
vô cùng khó hiểu.
Cứ thế,
chương trình kiểm soát tâm trí
càng được đẩy mạnh.
Bên ngoài,
nơi đây là một cơ sở
điều trị tâm thần danh tiếng.
Các bệnh nhân tìm đến
với hy vọng được chữa lành.
Thế nhưng,
nó đã bị biến thành
một công sừng tra tấn người sống
dưới danh nghĩa khoặc hiện đại.
Nghề chịu trách nhiệm tiến hành
là bác sĩ tâm thần người Scotland
Elwin Cameron.
Kỹ thuật nổi tiếng nhất của ông
được gọi là thạo tùng tâm trí.
Bệnh nhân được tiêm thuốc an thân liêu mạnh
để rơi vào trạng thái hôn mình nhân tạo.
Thời gian bất tình
có thể kéo dài từ vài tuần
cho tới 3 tháng liên tiếp.
Khi cơ thể không còn khả năng phản kháng,
các đợt sốc điện bắt đầu được triển khai.
Cương độ sử dụng cao
gấp 30-40 lần tiêu chuẩn thông thường.
Mục tiêu cuối cùng của Cameron
là xóa sạch toàn bộ cấu trúc
nhân cách hiện hữu
đưa nạn nhân về trạng thái thực vật vô trì.
Khi bản sắc của đã bị sáng phạm,
quá trình tái lập trình sẽ bắt đầu.
Trong nhiều giờ liên tiếp mỗi ngày,
nạn nhân bị ép nghe các đoạn ghi âm
được lựa chọn sẵn.
Thời lượng đôi khi lên tới 16 tiếng.
Số lần lập lại
có thể vượt qua nửa triệu lượt.
Mười ngày đầu tiên,
bệnh nhân được nghe các thông điệp đầy tiêu cực
như bản thân là đồ vô dụng.
Sau đó nội dung sẽ được thay thế
bằng những câu nói tích cực.
Mục đích là xây dựng một nhân cách mới
theo thiết kế của Cameron.
Trong suốt những năm sau đó,
MKUltra tiếp tục trải rộng
trên hơn 80 cơ sở khác nhau.
Tổng cộng có trên 150 dự án nghiên cứu
riêng biệt đã được triển khai.
Nhân sách dành cho chương trình
lên tới 10 triệu đô la thời đó.
Do vậy, đến đầu tầm niên 1970,
sau gần 20 năm theo đuổi dung
và kiểm soát tầm trí,
chương trình vẫn không mang lại kết quả
như kỳ vọng.
Năm 1972,
gác lý chính thức kết thúc MKUltra.
Toàn bộ tài liệu và hồ sơ
bị đem đi tiêu hủy.
CIA tin rằng
mọi dấu vết của chương trình
đã biến mất vĩnh viễn.
Thế nhưng, họ đã bỏ sót một thứ.
Đó là các trứng tự tài chính.
Năm 1975,
sau cuộc bê bôi Watergate
liên quan đến chính quyền
của Tổng thống Hoa Kỳ Rick Jackson,
Cụ Hội Mỹ mở hàng loạt cuộc điều tra
về các hoạt động bí mật của CIA.
Trong quá trình gia soát,
người ta phát hiện hơn 16.000 trang chứng tư kế toán
chưa từng bị tiêu hủy.
Những hóa đơn,
biểu thanh toán,
hợp đồng nghiên cứu
và các bảng kê trí phí.
Khi ghép tất cả lại với nhau,
chúng dân hé lộ quy mô thật sự
của MKUltra.
Godley bị triệu tập ra điều trần
trước thương biến Hoa Kỳ.
Dù vậy, đối với nhiều nghị sĩ,
MKUltra vẫn chỉ giống như một dự án
nghiên cứu đã vượt khỏi tầm kiểm soát.
Godley không phải trả giá
cho bất cứ tội lỗi nào của mình.
Khi nghỉ hiệu,
ông dành phần lớn thời gian cho gia đình,
các hoạt động cộng đồng và để sống tâm linh.
Hai cũng nghĩ rằng
vụ việc đã khép lại.
Thế nhưng,
31 năm sau cái chết của Olsen,
con trai ông là Eric Olsen
vẫn không thể buông bỏ quá khứ.
Eric quyết định tìm gặp Godley
để hỏi về cha mình.
Câu trả lời chỉ đơn giản là
lập lại những điều CIA từng công bố.
Khi Eric tiếp tục chất vấn,
Godley từ chối giải thích thêm
và cho rằng ông nên buông bỏ nội ám ảnh ấy.
Chính cuộc gặp này
khiến Eric quyết tâm đi tìm sự thật.
Sau khi mẹ qua đời,
ông cho khai quật thi thể của cha
để giảm định pháp ý.
Kết quả phát hiện một vết nứt bất thường
phía trên mắt trái,
dấu vết không phù hợp với kết luận
tự rơi từ cửa sổ.
3 năm sau, vào năm 1997,
CIA giải mật một tài liệu huấn luyện mang tên
Nghiên cứu về vụ ám sát.
Nó được viết năm 1953,
đúng năm mà Olson qua đời.
Trong đó mô tả một phương pháp ám sát
bằng cách đánh bất tỉnh mục tiêu
rơi đầy từ cửa sổ cao xuống đất
để nghĩ tràn thành tai nạn.
Sự trùng hợp này khiến Eric Olson tin rằng
cha mình đã bị sát hại.
Tuy nhiên,
đến nay vẫn chưa có bằng chứng pháp lý
đủ sức khẳng định giả thuyết đó.
Godley qua đời trước khi
bất kỳ phiên tòa nào có thể diễn ra.
Frank Olson chỉ là gương mặt
nổi tiếng nhất trong số rất nhiều
nạn nhân của MKUltra.
Sau đó còn có tu nhân,
bệnh nhân tâm thần, nghề nghiện,
sinh viên và cả những công dân bình thường.
Vô tình trở thành
đối tượng thử nghiệm mà không hề được lựa chọn.
Đối với họ,
công lý thực sự chưa bao giờ đến.
Hàng nghìn mạng người đã nằm lại
chỉ vì một thử nghiệm khổng lồ
chẳng đi tới đâu.
