Việt Nam Chi 2 Tỷ Đô Mua Tàu Ngầm Kilo Để Đối Phó Với Điều Gì?

Kiến Thức Quân Sự
204 Người theo dõi
150 Lượt xem video·5 thg 9, 2026
Việt Nam từng chấp nhận chi gần 2 tỷ USD để sở hữu 6 tàu ngầm Kilo, một quyết định táo bạo trong quá trình hiện đại hóa Hải quân. Vì sao Việt Nam lựa chọn khoản đầu tư khổng lồ này, và 6 “hố đen đại dương” có ý nghĩa thế nào với năng lực bảo vệ chủ quyền biển đảo?
-----------------------------
Executive Producer: Phung Trung Dung
Producer: Dat Nguyen & Ma Thi Hue
Research: Anh Nguyen
Editing & Animation: Nguyen Tuan Anh
Host: Viet Cuong
Thumbnail: Ngoc Nguyen
Quality Control: Dinh Khiem Vu
👉 Liên hệ công việc:
📩 Email: [email protected]
📲 Zalo: 0876695969
Mọi sự ủng hộ cho kênh mời các bạn donate qua:
STK: 0393331668 - Ngân hàng BIDV - Nguyễn Việt Cường
Momo: 0393331668
📩 For business and partnership inquiries: [email protected]
Được tạo bởi AI·Có thể có lỗi
195 quốc gia trên thế giới, với khoảng 170 nước duy trì quân đội thường trực.
Nhưng chỉ có tầm 40 trong số đó sẵn sàng bạo chi để sở hữu tầm vé tham gia một cộng đồng xa xỉ,
Câu Lọc Bộ Tàu Ngầm.
Giá thành đắt đỏ, chi phí bảo giữ khổng lồ, cùng quy trình đào tạo thùy thù ngặt nghèo,
chính những rào cản ấy khiến không phải ai cũng có thể chạm tay vào món vũ khí đáng sợ này.
Tuy vậy, trong số thành viên ít ỏi của câu lọc bộ đó,
bạn sẽ dễ dàng bắt gặp một cái tên vô cùng thân thuộc, Việt Nam.
Nhưng, vì sao chúng ta lại chấp nhận đầu tư tới gần 2 tỷ đô la vào năm 2009
để sở hữu cho mình hạm đội tàu ngầm hiện đại bậc nhất trong khu vực?
Để bắt đầu, hãy cùng quay ngược về những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trước
và gặp gỡ Đại tá Phạm Tân,
một trong những người đầu tiên đặt nền móng xây dựng lực lượng tàu ngầm Việt Nam.
Thời điểm đó, đất nước còn bộn bề khó khăn sau chiến tranh.
Thế nhưng, với tầm nhìn chiến lược đi trước thời đại,
lãnh đạo quân chủng Hải quân đã âm thầm tuyển chọn những chiến sĩ tinh nhẹ nhất
để gửi sang Liên Xô đào tạo về kỹ thuật tác chiến tàu ngầm.
Trải qua hàng loạt vòng sơ tuyển gắt gao,
anh lính Trải Phạm Tân cùng hơn 100 đồng đội khác đã xuất sắc được chọn.
Tới tháng 3 năm 1984, nhóm học viên Việt Nam đầu tiên
đã đặt chân tới trung tâm huấn luyện tàu ngầm Liên Xô đóng tại Latvia.
Những ngày tháng học tập nơi xứ người là vô cùng khắc nghiệt,
đối mặt với rào cả ngôn ngữ và khối lượng kiên thức khổng lồ.
Nhưng trong tim những người lính trẻ năm ấy luôn cháy bỏng một quyết tâm
phải nhanh chóng làm chủ loại vũ khí hiện đại này để trở về bảo vệ biển đảo quê hương.
Riêng với Phạm Tân, những năm tháng gian khổ tại Liên Xô đã trở thành quả ngọt,
khi anh chính là người được trao trọng trách làm thuyền trưởng của khung tàu ngầm đầu tiên
thuộc hải đội tàu ngầm 182.
Đầu tháng 5 năm 1986,
lứa học viên xuất sắc của Hải quân Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ và trở về nước.
Thế nhưng, do điều kiện kinh tế đất nước lúc bấy giờ, hải đội 182 buộc phải giải tán.
Giấc mơ chinh phục lòng biển sâu tạm thời phải gác lại,
Phạm Tân cùng đồng đội được điều động sang các đơn vị khác.
Đến năm 1997, hy vọng về lực lượng tác chiến dưới mặt nước được nhanh nhóm trở lại,
khi Triều Tiên cung cấp cho Việt Nam một số tàu ngầm mini để huấn luyện thủy thủ và lực lượng đặc công.
Để rồi, khi tiềm lực đất nước chín mùi, bước ngọt mang tính lịch sử chính thức mở ra.
Tháng 12 năm 2009, trong chuyến thăm lên Bang Nga,
Thủ tướng Nguyễn Tân Dũng đặt bút ký kết hợp đồng mua 6 tàu lớp Kilo 636
nhằm chuẩn bị sẵn sàng đón nhận từ vũ khí chiến lược này.
Năm 2011, lứa đoàn tàu ngầm 189 được chính thức thành lập.
Và chỉ 3 năm sau, chiếc Kilo đầu tiên đã cập cảng Cam Ranh.
Nhiệm vụ năm nào mà hải đội của Đại tá Phạm Tân còn răng rở, giờ đây được trao lại cho thế hệ kế cận.
Những người sẽ làm chủ hãng đội Hồ Đen Đại Dương, tiếp nối sứ mệnh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Mở ra bước ngọn lịch sử cho Hải quân Việt Nam, thương vụ này cũng nhanh chóng trở thành tâm điểm chú ý của giới quan sát quốc tế.
Thậm chí, theo cố thực từ Nguyễn Trí Vĩnh, một số bên đã không ngần ngại gọi Hà Nội bằng cụm từ
Bởi xét giới góc độ kinh tế lẫn thông lệ mua sắm vũ khí, quyết định chốt lền một lúc 6 tàu ngầm cỡ lớn
chính là nước đi cực kỳ táo bạo, nếu không muốn nói là mạo hiểm.
Năm 2008, ngân sách quốc phòng của Việt Nam rơi vào khoảng 27.000 tỷ đồng, tương đương với 1,46 tỷ USD.
Trong khi đó, hợp đồng mua 6 tàu ngầm Kilo có giá trị gần 2 tỷ đô la,
tức là lớn hơn cả chi tiêu quân sự của năm trước và tương đương gần 2% GDP của cả nước khi ấy.
Thế nhưng, con số khổng lồ này mới chỉ là bước khởi đầu.
Tại thời điểm ký hợp đồng, Việt Nam gần như chưa có năng lực vận hành hạm đội tàu ngầm cỡ lớn.
Vì vậy, cơ sở hạ tầng cần phải được nâng cấp đồng bộ,
từ cầu cảng, luồng lạch đến kho tàng, căn cứ kỹ thuật và lực lượng cứu hộ chuyên dụng,
với tổng chi phí lên tới hàng trăm triệu USD.
Bài toán nhân lực cũng không hề đơn giản, mỗi tàu Kilo cần khoảng 50 thủy thủ để vận hành.
Vì vậy, muốn duy trì cả hạm đội, chúng ta cần tối thiểu 300 nhân sự cốt lõi,
chưa tính các kiếp tàu dự bị.
Điều đó đồng nghĩa với việc Việt Nam phải đầu tư xây dựng gần như từ đầu một thế hệ lính tàu ngầm mới.
Cuối cùng, thương vụ này còn đặt ra những áp lực lớn trên khía cạnh quan hệ quốc tế.
Bởi lẽ, tốc độ xây dựng lực lượng tác chiến biển sâu của Việt Nam gần như chưa từng có tiền lệ trong khu vực.
Indonesia, nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á, phải mất hơn 30 năm mới hình thành được hạm đội khoảng 5 tàu ngầm.
Singapore, quốc gia nổi tiếng bạo chi và giàu có, cũng lựa chọn con đường thận trọng.
Nước này mua lại 4 tàu cũ của Thụy Điển vào năm 1995 để học hỏi,
tích lũy kinh nghiệm trong 20 năm trước khi đặt hàng các phiên bản đờ mới hơn từ Đức.
Còn với Hải quân Hoàng gia Thái Lan, lực lượng duy nhất sở hữu tàu sân bay tại Đông Nam Á,
họ vẫn hoàn toàn trắng tay dưới biển sâu từ thời điểm năm 2009.
Có thể nói, khi hầu hết các quốc gia trong khu vực đều mở rộng lực lượng tàu ngầm theo từng bước nhỏ,
Việt Nam lại quyết định nhảy cóc, đặt mua cùng lúc 6 chiếc kilo hiện đại
và xây dựng cả một hạm đội gần như từ con số 0.
Chính tốc độ phát triển hiếm cò ấy đã khiến không ít quốc gia trong khu vực phải dè chừng.
Bởi căn cơ sức mạnh ở Biển Đông có nguy cơ thay đổi sau thương vụ lịch sử giữa Hà Nội và Moscow,
tuần kém về tài chính, gian nan về nhân lực, nhạy cảm về địa chính trị.
Ở bất kỳ góc độ nào, quyết định mua cùng lúc 6 tàu ngầm kilo rõ ràng ẩn chứa rủi ro rất lớn.
Vậy, điều gì đã khiến Việt Nam chấp nhận trở thành kẻ to gan để sở hữu bằng được hạm đội này?
Câu trả lời nằm trong chính tư duy chiến lược của nước ta.
Với Việt Nam, mua tàu ngầm chưa bao giờ là mục đích chạy đua vũ trang,
mà chính là lựa chọn để tăng cường năng lực gian đe bất đối xứng.
Hơn ai hết, chúng ta hiểu rất rõ giới hạn của mình.
Với quy mô nền kinh tế và năng lực công nghiệp quốc phòng ở thời điểm đó,
việc cạnh tranh với các cường quốc trong khu vực bằng quy mô hạm đội là điều bất khả thi.
Muốn bảo vệ chủ quyền, Việt Nam phải khiến bất kỳ đối thủ nào cũng phải cân nhắc thật kỹ trước khi lựa chọn sử dụng vũ lực.
Nói cách khác, mục tiêu không phải giành ưu thế bằng sức mạnh vượt trội,
mà là khiến cái giá của một cuộc xung đột trở nên quá đắt để họ không dám khơi màu.
Đó cũng là tư duy mà nhiều quốc gia có quy mô trung bình lựa chọn khi phải đối mặt với những đối thủ mạnh hơn.
Thay vì lao vào cuộc chạy đua vũ trang tồn kém và gần như không có điểm dừng,
họ tập trung phát triển những năng lực có thể buộc đối phương phải trả giá rất đắt nếu quyết định khai hỏa.
Chiến lược đó càng trở nên cấp bách nếu nhìn vào tình hình Biển Đông trong giai đoạn cuối những năm 2000.
Thời điểm ấy, khu vực này liên tục nóng lên bởi những yêu sách chủ quyền phi lý
và quá trình hiện đại hóa quân sự diễn ra với tốc độ chóng mặt.
Khoảng cách về sức mạnh giữa Việt Nam và các quốc gia có tranh chấp trong khu vực,
đặc biệt là Trung Quốc, cũng ngày càng bị nới rộng.
Từ đầu những năm 2000, Bắc Kinh liên tục mở rộng lực lượng tác chiến giới biển sâu.
Tới năm 2009, họ đã sở hữu tới 62 tàu ngầm, trong đó có 8 chiếc chạy bằng năng lực hạt nhân.
Còn trên mặt nước, các biên đội tàu chiến cùng lực lượng không quân hải quân
mà ai hàng xóm to béo của chúng ta đang nằm trong tay cũng ngày càng lớn mạnh.
Nếu xung đột xảy ra, Việt Nam gần như không có cơ hội săn lốc khoảng cách về số lượng.
Vì vậy, điều chúng ta cần không phải là nhiều tàu chiến hơn,
mà là một loại vũ khí có thể khiến ưu thế về số lượng của đối phương bị vô hiệu hóa.
Tàu ngầm chính là câu trả lời.
Khác với tàu chiến mặt nước, giá trị lớn nhất của các hố đen đại dương
không nằm ở hóa lực mà ở sự vô hình.
Một tàu ngầm chưa bị phát hiện luôn tạo ra áp lực lớn hơn rất nhiều
so với một tàu chiến đang hiện diện trên màn hình radar.
Đối phương không biết vị trí chính xác,
nhưng lại buộc phải giả định rằng nguy cơ bị tấn công có thể xuất hiện ở bất cứ đâu.
Điều đó đồng nghĩa với việc họ phải phân tán lực lượng,
thay đổi đội hình và phương án tác chiến để phòng ngừa.
Đó chính là bản chất của săn đe bất đôi xứng.
Và để thực hiện hóa học thuyết ấy,
Việt Nam cần một loại tàu ngầm đủ yên lặng để không bị phát hiện,
nhưng cũng đủ uy lực để khiến đối phương phải rẻ trừng.
Kilo 636 chính là lời giải cho bài toán hốc búa này.
Loại khí tài này được đánh giá là một trong những tàu ngầm diesel điện chạy êm nhất thế giới.
Lớp vật liệu cao su đặc biệt dán bên ngoài lớp vỏ
giúp hấp thụ sóng sonar của đối phương,
biến kilo thành một kẻ vô hình thực sự giữa lòng đại dương.
Bên trong, hệ thống động cơ diesel và máy phát điện
được đặt trên các bệ đỡ cao su giảm chấn độc lập,
qua đó triệt tiêu tối đa dung động truyền ra.
Sự kết hợp này giúp kilo phát ra tính ồn cực thấp khi hoạt động,
hòa lẫn hoàn toàn vào tính động nền của đại dương.
Trong môi trường tắc chiến giới nước,
nơi bên phát hiện trước gần như luôn giành quyền khai hỏa trước,
tu thời ấy có ý nghĩa sống còn,
và kilo đâu chỉ biết ẩn mình.
Hố đen đại dương này được trang bị 6 ổng phóng ngư lôi cỡ 533mm
cùng tên lửa hành trình chống hạm và tấn công mặt đất Club S.
Những vũ khí này giúp nó thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau.
Hệ thống điều khiển hòa lực tự động cho phép tàu phóng lọt tên lửa từ dưới nước
lao vút lên không trung với tốc độ cận âm
trước khi tăng tốc lên đến Mach 2.9 ở giai đoạn cuối để xuyên thủng lớp phòng ngự của đối phương.
Từ săn ngầm, tiêu diệt tàu mặt nước,
cho tới tấn công các mục tiêu trên đất liền ở khoảng cách hàng trăm km.
Kilo đều có thể đảm nhận xuất sắc
nhờ hệ thống sonar kỹ thuật số có khả năng theo dõi nhiều mục tiêu cùng lúc.
Sự kết hợp giữa độ tàng hình rất cao và hòa lực đủ mạnh
đã biến bộ sáu cá quả kilo của Việt Nam trở thành nền tảng răn đe đặc biệt hiệu quả.
Đánh giá về vai trò của loại khí tài hiện đại này, Phó Đô Đốc Trần Hoài Trung nhận định
Bây giờ, bảo vệ biển đảo không chỉ có tàu mặt nước mà phải bảo vệ từ trong bờ ra đến ngoài biển,
từ trên không đến dưới ngầm. Có sáu tàu này thì chúng ta yên tâm lắm.
Nhà nghiên cứu Colin Koh cũng khẳng định khi số tàu ngầm của Việt Nam được đưa vào hoạt động đầy đủ trên biển,
chúng sẽ có tác dụng răn đe về mặt tâm lý rất lớn đối với các lực lượng hải quân đông và mạnh hơn.
Uy lực là vậy, nhưng để phát huy tối đa sức mạnh tiềm ảnh trong kilo,
Việt Nam còn sở hữu một loại lợi thế khác mà không phải quốc gia nào cũng có, đó chính là quân cạc cam ranh.
Được bao bọc bởi các dãy núi và bán đạc tự nhiên,
đây là một trong những vịnh nước sâu lý tưởng nhất thế giới để triển khai lực lượng tàu ngầm.
Nó được ví như pháo đài tự nhiên, bảo vệ lữ đoàn 189 trước khỏa lực đối phương cũng như bão vùng nhiệt đới.
Quan trọng hơn, độ sâu của vịnh cho phép các chiến hạn kilo Việt Nam cơ động ngay từ trong lòng quân cạc,
qua đó hạn chế tối đa nguy cơ bị phát hiện trong giai đoạn rời căn cứ,
thời điểm vốn được xem là nhạy cảm nhất đối với mọi lực lượng tàu ngầm.
Không chỉ có lợi thế tự nhiên, cam ranh còn sở hữu nền tảng hạ tầng mà rất ít căn cứ hải quân trong khu vực có được.
Trong nhiều thập kỷ, nơi đây từng là cơ sở quy mô lớn cho hải quân liên xô
với sự xuất hiện của lực lượng tàu ngầm hạt nhân chiến lược.
Vì vậy, khi tiếp nhận kilo, Việt Nam không phải xây dựng mọi thứ từ đầu.
Nhiều hạng mục hạ tầng, cầu cảng và khu vực bao đạc kỹ thuật đã có sẵn nền tảng để nâng cấp.
Qua đó, rút ngăn đáng kẻ thời gian cũng như chi phí hình thành lực lượng tàu ngầm.
Không phải ngậu nhiên mà suốt nhiều thập kỷ, các cường quốc hải quân đều tìm cách hiện diện tại cam ranh.
Bởi một căn cứ tàu ngầm lý tưởng có thể mất tới hàng chục năm để xây dựng.
Nhưng một vị biển hoàn hảo như cam ranh thì không thể tạo ra bằng tiền bạc hay công nghệ.
Đó là món quà mà thiên nhiên chỉ ban tặng trong mảnh đất hình chữ S.
Có thể nói, sự kết hợp giữa tư duy chiến lược, sức mạnh từ lớp kilo
và lợi thế tự nhiên hiểm có mà căn cứ cam ranh sở hữu
đã dẫn đến đánh giá của giáo sư Carl Thayer, chuyên gia hàng đầu thế giới về chính trị Đông Nam Á.
Việc Việt Nam tiếp nhận các tàu ngầm kilo không chỉ tăng cường năng lực gian đe
mà còn góp phần thay đổi cán cân sức mạnh hải quân trong khu vực và đâng cao vị thế chiến lược của đất nước.
Nhưng với hải quân Việt Nam, kilo có lẽ chưa phải là đích đến cuối cùng.
Đó chỉ là nền tảng để hướng tới một mục tiêu lớn hơn.
Từng bước làm chủ công nghệ chế tạo khí tài tác chiến dưới nước
và minh chứng rõ nét nhất cho tham vọng ấy là TN-75, mẫu tàu ngầm mini do chính Việt Nam hiên cứu và chế tạo.
Với lượng rãn nước khoảng 75 tấn, nó chỉ bằng một phần rất nhỏ so với kilo 636.
Tuy nhiên, hai lớp phương tiện này không cạnh tranh mà giữ vai trò bổ trợ lẫn nhau.
Nếu khí tài do Nga sản xuất là lực lượng gian đe chiến lược,
đảm nhiệm các nhiệm vụ tác chiến ở vùng biển sâu và xa bờ,
thì TN-75 lại phát huy ưu thế trong môi trường ven biển, cửa sông, khu vực đảo đá và vùng nước nông,
nơi những chiến hạm cỡ lớn khó khai thác hết khả năng cơ động.
Theo thiết kế, TN-75 có thể bám biển liên tục khoảng 7 ngày,
lặn sâu tối đa 300m và đã thử nghiệm thành công ở độ sâu 156m vào năm 2022.
Khoang tàu đủ sức chở một tiểu đội đặc công nước,
trong khi hai ổng phóng ngư lôi cỡ 400mm ở mũi vẫn đảm bảo cho nó khả năng tấn công khi cần thiết.
Nhờ đó, phương tiện này đặc biệt phù hợp với các nhiệm vụ trinh sát bí mật,
chuyên trở đặc công thọc sâu hoặc bảo vệ các khu vực đảo và bai đá.
Thay vì phải tiếp cận mục tiêu bằng xuồng cao tốc
hay các phương tiện nổi với nguy cơ dễ bị hệ thống quan sát của đối phương phát hiện,
lực lượng đặc công Hải quân giờ đây có thể cơ động hoàn toàn dưới mặt nước,
giữ ký niệu tố bất ngờ cho đến thời điểm triển khai nhiệm vụ.
Quan trọng hơn, sự ra đẩy của tàu ngầm mini nội địa
giúp Hải quân Việt Nam tiến gần hơn tới một cấu trúc tác chiến dưới nước hoàn chỉnh.
Sự phối hợp giữa Kilo và TN-75 cho phép Việt Nam linh hoạt hơn
trước những kịch bảng tác chiến đa dạ trên Biển Đông.
Nhưng giá trị của TN-75 không chỉ nằm ở những thông số kỹ thuật hay khả năng tác chiến.
Điều quan trọng là con tàu này đánh dấu bước truyền mình của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam.
Bởi để chế tạo được một phương tiện lặn quân sự, dù chỉ có lượng dẫn nước vài chục tấn,
các kỹ sư phải làm chủ hàng loạt công nghệ cực kỳ phức tạp.
Từ thiết kế thân tàu chịu áp lực, tinh toán thủy động học, hệ thống nổi, chìm, điều khiển tự động
cho đến các tiêu chuẩn an toàn khi hoạt động ở độ sâu lớn.
Đây đều là những năng lực nền tảng mà không quốc gia nào có thể mua chọn gói từ bên ngoài.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu và chế tạo thành công TN-75 đã đưa Việt Nam trở thành một trong số ít các quốc gia
tại châu Á làm chủ hoàn toàn quy trình thiết kế và đóng mới tàu ngầm quân sự,
sánh vai với các cường quốc như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Ấn Độ.
TN-75 sẽ đóng vai trò bàn đạp trong các mục tiêu lớn lao hơn bởi theo định hướng đang được quân chủng hải quân nghiên cứu.
Việt Nam còn đang đặt mục tiêu phát triển một lớp phương tiện dưới nước có lượng dẫn nước khoảng 300 tấn.
Nếu kế hoạch này được hiện thực hóa, đó sẽ không chỉ là sự ra đời của một mẫu khí tài hiện đại
mà còn đánh dấu bước chuyển mình của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam
từ chỉ vận hành sang từng bước làm chủ công nghệ chế tạo tàu ngầm.
Nhìn lại hơn 4 thập kỷ đã qua, hành trình của lực lượng tàu ngầm Việt Nam
không đơn thuần là sự ra đời của một binh chủng mới
mà còn là câu chuyện về khát vọng làm chủ những công nghệ quân sự hiện đại bậc nhất thế giới của người Việt.
Nhưng năng lực ấy chưa bao giờ được xây dựng để theo đuổi chiến tranh.
Ngược lại, Việt Nam hiểu hơn ai hết giá trị của hòa bình,
bởi chúng ta đã phải đánh đuổi quá nhiều để có được điều đó.
Không nhằm đe dọa bất kỳ ai, nhưng luôn sẵn sàng bảo vệ chủ quyền, độc lập và toàn vẹn đánh thổ.
Đó không chỉ là triết lý của lực lượng tàu ngầm,
mà còn là tinh thần xuyên suốt trong đường đối quốc phòng Việt Nam.
