Nền văn minh của Hy Lạp cổ đại thường được chia theo phong cách thành bốn giai đoạn: giai đoạn hình khối và đông phương hoá, cổ xưa, cổ điển, và Hy Lạp hóa. Thứ mà chúng ta biết nhiều về Hy Lạp ngày nay thật ra là chỉ bắt đầu từ những năm 900 trước công nguyên. Còn trước đó là một câu chuyện buồn. Sau khi nền văn minh Mycenaean đi đến hồi kết vào khoảng năm 1200 TCN. Kéo theo đó, trật tự xã hội và truyền thống của vùng biển Aegean tiền sử tại Hy Lạp cũng tan rã. Hy Lạp thời kỳ Mycenae là giai đoạn cuối cùng của thời đại đồ đồng tại Hy Lạp. Các vị vua hùng mạnh dần biến mất, Hy Lạp lúc bấy giờ trở thành một nơi vô chủ, vô cùng hỗn loạn. Hơn thế nữa, những kiến thức quý giá về xây dựng, thiết kế cũng biến mất theo họ. Trong nhiều năm trời, người Hy Lạp đã tạo ra những công trình dựa trên những tỉ lệ nhất định. Họ dùng những tỉ lệ đó để cắt gây xây và dùng cho các toà thành và lăng mộ. Hay dùng để tạo ra các bức vẽ bích hoạ và điêu khắc. Tuy nhiên, nay đã không còn nữa. Những năm 1200 TCN còn được biết đến là thời kỳ đen tối của Hy Lạp tiền sử. Vì sự sụt giảm dân số, nghèo đói và gần như biệt lập với thế giới bên ngoài. Họ tin rằng các vị thần đã quay lưng với mình. Chỉ đến thế kỷ thứ 8 TCN, điều kiện kinh tế mới được cảm thiện và dân số bắt đầu phục hồi. Thời đại này được xem là thời đại anh hùng. Khi đó người Hy Lạp thành lập Thế vận hội Olympic và sáng tác ra những bài thơ và sử thi như của nhà thơ Homer. Ông cũng chính là người kể câu chuyện về những cuộc phiêu lưu Odyssey qua đó chúng ta biết đến những vị thần Hy Lạp. Bút tích và những câu chuyện của ông được lưu truyền cho đến tận bây giờ. Trong thế kỷ thứ 8 TCN, người Hy Lạp thoát khỏi sự bế tắc, cô lập và một lần nữa giao thương với các thành phố khác ở bờ tây và bờ đông lãnh thổ. Một kỷ nguyên mới đã bắt đầu.
Nền văn minh Hy Lạp cổ đại thường được chia làm 4 giai đoạn, giai đoạn hình khối và động phương hóa, giai đoạn cổ xưa, giai đoạn cổ điển và giai đoạn Hy Lạp hóa.
Thứ mà chúng ta biết đến nhiều nhất về Hy Lạp ngày nay thật ra chỉ bắt đầu từ những năm 900 trước công nguyên.
Còn trước đó là một câu chuyện buồn, sau khi nền văn minh Mycenae đi đến hồi kết vào khoảng năm 1200 trước công nguyên.
Kế theo đó, trọt tự xã hội truyền thống của vùng biển Aegean tiền sử tại Hy Lạp cũng tan rẽ.
Hy Lạp tại thời kỳ Mycenae là giai đoạn cuối cùng của thời đại đồ đồng tại Hy Lạp.
Các vị vua hồn mạnh nhất dần biến mất, Hy Lạp lúc bấy giờ trở thành một nơi vô chủ vô cùng hỗn loạn.
Hơn thế nữa, những kiến thức về xây dựng quý giá, thiết kế của họ cũng biến mất heo.
Trong nhiều năm trời, người Hy Lạp đã tạo ra những công trình dựa trên những tỷ lệ nhất định.
Họ sử dụng những tỷ lệ đó để cắt gặp và xây dựng, dùng cho các tòa nhà và lăn mộ hay dùng để tạo ra những bức bích họa và điều khác.
Tuy nhiên, nay đã không còn nữa.
Vào những năm 1200 trước công nguyên, còn được biết đến là thời kỳ đen tối của Hy Lạp tiện sử.
Vì sự rụt giảm dân số, nghèo đói và gần như biệt lập với thế giới bên ngoài,
họ tin rằng các vị thần đã quay lưng với chính mình.
Chỉ đến thế kỷ thứ 8 trước công nguyên, điều kiện kinh tế mới được cải thiện và dân số dần dần phục hội.
Thời đại này được xem là thời đại của những anh hùng.
Khi đó, người Hy Lạp thành lập Thế văn hội Olympic và sáng tác ra những bài thơ, những bài sử thi như nhà thơ Homer.
Ông cũng chính là người kể lại những câu chuyện về những cuộc phiêu lưu của Odyssey.
Qua đó, chúng ta biết đến những vị thần Hy Lạp.
Bức tích và những câu chuyện của ông được lưu truyền cho đến tận bây giờ.
Trong thế kỷ thứ 8 trước công nguyên, người Hy Lạp thoát khỏi sự bế tắc và cô lập.
Một lần nữa, họ giao thương với các thành phố khác ở bờ Tây và bờ Đông của lãnh thổ.
Một kỷ nguyên mới bắt đầu.
Vào thế kỷ thứ 8, người Hy Lạp mang trở lại hình tượng con người trên những di tích nghệ thuật.
Không phải là những bức tượng khổng lồ mà hình ảnh con người xuất hiện trên những chiếc bình gớm và những bức tượng nhỏ.
Người Hy Lạp tuyên sử vẽ trên những bình gớm được làm bằng đất nung.
Các nhà khảo cổ đã khai quật những chiếc bình này ở lăn mộ của Deep Island tại về thành Athens.
Những chiếc bình này dùng để đánh dấu ngôi mộ của những người đã chết.
Vào khoảng những năm 740 trước công nguyên, dựa trên kích thước của nó cao gần 1 mét,
thì ta có thể thấy một thành tụ đáng chú ý về cảnh gớm của người Hy Lạp.
Minh chứng cho kỹ năng của những người thọ làm gớm và sự giàu có cũng như là địa vị xã hội của chủ nhân sở hữu chúng.
Những chiếc bình này không có đấy, người ta giải thích theo 2 khí cạnh.
Về khí cạnh nghi thức thì có lẽ là để những người đến thăm mộ có thể rót rượu cho người đã chết.
Rượu sẽ đi tựa bình thắm xuống mặt đất và đến chỗ người được trông cất.
Cũng giống như một nghi thức của người lưỡng Hà thường hay thực hành.
Đó là rót rượu xuống mặt đất để tỏ lòng biết ơn và tôn trọng.
Về công năng thì có lẽ đây đơn giản chỉ là cách mà họ muốn tạo ra một đường để thoát nước mưa.
Vì nếu nước mưa đọng quá lâu trong bình gớm sẽ dẫn đến hư hạng hoặc cũng có thể là cả 2 điều đúng.
Hầu hết bề mặt của chiếc bình đều được bao phủ bởi những hóa tiết nghệ nhân đã sử dụng những hình ảnh trù tượng góc cạnh để trang trí cho chiếc bình.
Chúng được lập đi lập lại tạo thành những giải ngang bao phủ chiếc bình.
Đặc biệt là ở phần miệng bình, những hóa tiết có phần góc cạnh dễ nhìn hơn.
Trong thời kỳ này, người Hay Lạp hầu như chỉ sử dụng những hình ảnh trù tượng tạo thành các hóa tiết để trang trí.
Do đó, người ta mới gọi đây là thời kỳ nghệ thuật hình khối.
Tuy nhiên, trên chiếc bình này, người tạo ra nó đã dành một mảng lớn cho 2 giải hình.
Một giải phía trên là hình của người, còn giải phía dưới là hình của xe ngựa.
Có thể thấy họ đã dành sự ưu ái cho những chi tiết quan trọng hơn.
Câu chuyện được thuộc lại trên đó là khung cảnh của một đám tan, một người nằm trong quang tài và được đoàn người cử hành tan lễ.
Những cảnh này thường xuyên xuất hiện trên những chiếc bình.
Do đó, người ta nói rằng công dụng của chiếc bình này là để đánh dấu những ngôi mộ và những hóa tiết là cách phân biệt của những ngôi mộ.
Cũng như bia mộ mà chúng ta thường thấy ngày nay, những hóa tiết có góc cảnh ở phần miệng bình.
Người tạo ra nó cũng sử dụng những đường kẽ hình tròn và những hóa tiết hình chữ M để trang trí cho chiếc bình.
Hình người, hình động vật và những vật phẩm khác đều được vẽ 2 chiều, giống như những hình khối trên khắp bề mặt.
Ở chỗ người đàn ông đã chết, ông nằm trên một bàn cao hơn so với mặt đất.
Phía sau là một tấm dễ liệm có hóa tiết hình bàn cờ vua.
Họ đã sử dụng hình tăm giết để vẽ người, gồm phần tay, chân và bàn chân.
Trên khuôn mặt có một đôi mắt lớn.
Cách vẽ mắt như vậy là tuân theo một quy tắc có từ lâu đời.
Để phân biệt được giữa nam và nữ, họ đã vẽ thêm một hình nhô ra từ đùi nếu đó là nam.
Còn người phụ nữ thì có bộ ngực được vẽ bằng những đường ngắn ở dưới phần nách.
Chẳng qua đây chỉ là cách mà người ta sử dụng để xác định giới tính của nhân vật,
chứ không thể hiện chính xác về mặt cơ thể.
Dải hình bên dưới là những chiến binh cầm khiên để di chuyển.
Những con ngựa có số lượng đầu và chân thì chính xác,
nhưng lại có cùng một cơ thể, do thấy đây là nỗ lực để thể hiện chiều sâu của bức hình.
Thân con ngựa này chồng lên con ngựa kia.
Phải nói rằng, mặc dù cách thể hiện này trông rất bình thường và có phần cách điệu,
nhưng những chiếc bình gớm này đánh dấu một bước ngoạc quan trọng trong lịch sử nghệ thuật Hy Lạp.
Không chỉ hình ảnh của con người xuất hiện trong nghệ thuật mà còn làm sống lại cách kể chuyện bằng hình ảnh.
Trước đó, người ta chỉ thể hiện những con vật và những vị thần có hình thù kỳ lạ.
Cũng không phải ngẫu nhiên mà sự tái sinh của cách kể chuyện này
xảy ra cùng lúc với sự xuất hiện của những bài thơ từ sử thi của Homer.
Đây có thể là thời điểm xuất hiện sự giao thoa giữa các loại hình nghệ thuật,
tức là cùng một câu chuyện người ta có thể sử dụng hình ảnh để thể hiện,
hoặc cũng có thể dùng thơ ca để thuật lại.
Một trong những tác phẩm điêu khác được sử dụng hình khối ấn tượng nhất còn sót lại
đó chính là bức tượng đút bằng đầu nguyên khối.
Những di tích này thường xuất hiện theo cặp giống như một cuộc đối đầu, đấu tay đôi.
Người đàn ông trong di tích này có thể là vị anh hùng vĩ đại nhất Hy Lạp Herakles
và đối thủ của anh ta là một nhân mã có tên là Nessus.
Trong thần thoại, nhân mã đã tình nguyện cổng vỡ của Herakles sang sông.
Khi ra đến giữa sông, hắn nổi lòng tha muốn cướp người đẹp liền rẽ sang một hướng khác dự định bỏ chạy.
Người anh hùng nhìn thấy ý đồ của hắn liên dụng mũi tên tẩm độc của Hydra để bắn chết Nessus
nhưng hắn chưa kịp chết ngay.
Trong lúc hấp hối, hắn đưa chiếc áo đẫm máu của mình cho vợ của Herakles
và gạt nàng răng hay giữ chiếc áo này.
Sau này nếu mà thấy chồng của cô ngoại tỉnh thì hãy đưa chiếc áo này cho anh ta mặc
và cô sẽ giữ được chồng của mình.
Về sau, chính chiếc áo này đã giết chết Herakles vì chất độc ở trên áo.
Nessus là kẻ không ăn được sẽ đạp đổ trước khi chết
Cho dù bức tượng này có đúng là nói về Herakles hay là Nessus
thì bản chất của nó vẫn mang tính thần thoại
bởi vì sự xuất hiện của nhân mã
mối liên hệ giữa tạo hình này và tính thần thoại là quá mạnh liệt
đến nổi khi bạn thấy hình tượng nhân mã
thì trí não của bạn đã diệt chuyển sang một bối cảnh thần thoại ngay lập tức.
Những người tạo ra các chi tiết này
họ không bị giới hạn bởi câu chuyện có thật.
Họ mở rộng chủ đề sang những thứ siêu nhiên liên quan đến thầm thánh.
Sự kết hợp giữa hình tượng con người và ngựa của người Hy Lạp
thật ra cũng có thể là lấy cảm hứng từ nền văn minh Lưỡng Hà và Ây Cập.
Việc giao thoa với các nền văn hóa Đông Phương
đã truyền cảm hứng cho những quái vật hình người này ra đời.
Tuy nhiên, nhân mã là một sáng tạo của người Hy Lạp
vì trước đó chưa có ai nghĩ ra sự kết hợp giữa người và ngựa.
Ít nhất là những gì chúng ta biết qua các di tích
nó cũng đặt ra một câu hỏi thú vị là ai đã tạo ra hình tượng này.
Dựa trên những di tích, người Hy Lạp quan niệm
nhân mã là sự kết hợp của một người đàn ông ở phía trước
và một con ngựa ở phía sau.
Hình tượng này rất kỳ hoạt và thiếu sức thuyết phục.
Cũng trong di tích này, nhà điêu khắc đã tạo ra hình tượng nhân mã
và anh hùng khá giống nhau.
Cả hai đều đổi chiếc mũ sắt và có râu.
Kích thước của người đàn ông thì lớn hơn,
biểu thị rằng anh ta sẽ là người chiến thắng.
Cả hai đều trong bộ diện khỏa thân.
Đây cũng là một điểm khác biệt giữa những di tích của người Hy Lạp.
Liên hệ với thực tế trước kia,
một số bạn động viên của Hy Lạp cũng tập luyện trong tình đạn khỏa thân.
Thậm chí, trong lúc thi đấu thế vận hộ Olympic,
họ cũng không mặc gì.
Tuy nhiên, đó là thời kỳ đầu tiên của người Hy Lạp.
Cũng dễ hiểu, vì họ là những người
có bản năng thể hiện vẻ đẹp tự nhiên của con người.
Do đó mà khỏa thân là cách thể hiện rõ ràng nhất
mà họ đã sử dụng.
Một cách lý giải khác, đặc trưng của nghệ thuật Hy Lạp
trong suốt nhiều thế kỷ là trọc tự và hỗn loạn.
Trọc tự luôn chiến thắng hỗn loạn.
Trong các cuộc đấu tranh giữa con người và động vật,
thì con người luôn là người chiến thắng.
Con người đại diện cho trọc tự và lý trí
trong khi động vật lại đại diện cho sự hỗn loạn.
Chủ đề này bạn sẽ còn thấy nhiều,
đảo kháo cổ sẽ còn đảo sâu hơn nữa
vào những kỳ sau.
Trong thế kỷ thứ 7 trước công nguyên,
thương mại của Hy Lạp tăng tốc tính
về cả tốc độ giao thương và phạm vi phụ sống.
Người Hy Lạp chưa bao giờ tiếp xúc
với nền văn hóa đông phương như lúc bây giờ.
Đặc biệt là những món đồ chạm khác có kích thước rất nhỏ
vừa lồng bàn tay của người Syria.
Sự giao thoa đó đã có ảnh hưởng sâu sắc
đến sự phát triển của văn hóa Hy Lạp.
Thật vậy, rất nhiều mô típ của người Hy Lạp
vây mượn từ người Ai Cập và người Luân Hạ.
Đó là một luồn gió mới thở qua từng ốc ngáp
trong thành trì văn hóa của Hy Lạp
đến mức người ta phải đặt cho nó một cái tên.
Vào thế kỷ thứ 7 trước công nguyên,
đây là thời kỳ Hy Lạp tiếp cận văn hóa đông phương.
Một trong những kỳ tết đầu tiên
vào thế kỷ thứ 7 trước công nguyên đó là
một bức tượng nhỏ được làm bằng đồng.
Người đàn ông có tên là Manticlaus
đã tặng cho thần Apollo, vị thần của mặt trời và thơ ke.
Trên đùi của bức tượng có những dấu vết
đó là một thông điệp gửi đến Apollo.
Manticlaus đã dân tặng bức tượng này
như một lễ vật nhỏ cho The Lord of Silver Bull
tức là thần Apollo.
Xin người hãy đáp lại cho ông bằng những ân huệ.
Bởi vì người Hy Lạp quan niệm
các vị thần của họ có hình diện là con người
nên thật sự chúng ta không biết bức tượng này
là mô tả Manticlaus hay là Apollo.
Nếu như mà tay trái của bức tượng
cầm một cây cung thì có thể khẳng định ngay
đó là hình ảnh của thần Apollo.
Còn không thì bức tượng này chính là Manticlaus.
Nhưng có một điểm cần lưu ý là những nhà điêu khác
trong giai đoạn này đã rất quan tâm
đến việc tái tạo lại những chi tiết trong giống con người
chứ không chỉ là những hình khối đặc trưng.
Họ bắt đầu chú ý hơn về giải phẫu học
như là phần cơ ngực được tái tạo lại
rất rõ nét ra phần thân của con người
theo phong cách cách điệu.
Nhà điêu khác cũng chăm chút hơn thể hiện mái tóc
Khung mặt hình tam giết có 2 lỗ trên đó
có thể là dùng để gắn đôi mắt
hoặc là anh ta đã tần đội một chiếc mũ
và cái lỗ đó là chốt để giữ lại.
Tại thành phố Corinth, Hy Lạp
ngành thương mại gấm sứ xuất khẩu
đã nổi lên vào thế kỷ thứ 7 trước công nguyên.
Chiếc bình Hi-Y Corinth tượng trưng cho niềm đam mê
của người Hy Lạp với phong cách đông phương.
Trên chiếc bình này có nhiều giải hình vẽ trang trí
những con vật như lợn rừng xuất hiện bên cạnh
những con sư tử và bão đớm.
Cùng với đó là những sinh vật bán nhân,
quái thú lấy cảm hứng từ quái vật đông phương
như nhân sư.
Gần miệng bình còn có một người phụ nữ
có hình dạng nửa người nửa chim.
Cách trang trí những chiếc bình theo phong cách này
rất thu hút sự chú ý của nhiều người.
Nhưng mà kỹ thuật làm màu trên gớm
được phát minh bởi người Corinth mới là thứ quan trọng.
Các sửa gia gọi kiểu trang trí này
là những bước hắc họa
vì nó có màu đen như cái bóng của con người.
Từ xa xưa, người ta đã vẽ xung quanh
những cái bóng của con người
để tạo ra hình ảnh của họ bằng đất xét
sau đó cắt gọt lại để tạo ra một bức tượng.
Chiếc bên này còn có những điểm nổi bật
được mô tả bằng màu trắng và màu đỏ tía
trên nền đen để sau khi nung,
màu sẽ bám dài hơn.
Về mặt màu sắc, sự kết hợp của màu đen nặng nề
với những chi tiết tinh tế khác trên đất xét
như màu kem và lớp phủ màu sáng hơn
tạo ra một cách phối hợp màu rất chặt chẽ.
Về sau, các ngoại sĩ người Athens
đã sao chép ý tưởng này từ những người Corinth.
Năm 630 trước công nguyên,
Hy Lạp thành lập một hiệp định thương mại
ở thành phố North Rhodes với Hy Lạp.
Bước đi này đưa người Hy Lạp đến với kiến trúc bằng đá
cực kỳ ấn tượng của người Ai Cập.
Hồng lâu sau đó, các thợ xây Hy Lạp
đã dẫn lên những tòa nhà bằng đá đầu tiên
mốc thời gian có thể tính
từ khi vương quốc Mycenaeum sập đổ.
Một trong những ngôi đền cổ nhất là đền A,
công trình nổi bật với những trang trí
điều khác phong phú đền được đạt
tại Grynos trên đảo Crete.
Nơi đây từng là trung tâm
của nền văn hóa Minoan thuộc thời kỳ Đồ Đồng
và cũng là một trong những trung tâm
của sự đổi mới trong giai đoạn Đông Phương Hóa.
Tại đó, một nhà điêu khắc ngữ Hy Lạp
đã chạm khắp bức tượng bằng đá vôi
có tên là Lady of Orser được đạt theo tên thị trấn.
Bức tượng Lady of Orser
là một kiệt tác của một phong cách
có tên được gọi là Didalic
theo tên của một nghệ sĩ nguyên thoại
có tên là Daedalus.
Tên của ông Mai Ý Nghĩa là người khéo léo,
cũng giống như bức tượng Manticloss.
Chúng ta không rõ bức tượng này là một nữ thần
hay là một thiếu nữ bình thường.
Nhưng trái ngược với bức tượng đàn ông khỏe thân,
bức tượng này có mặc quần áo
và tất cả những hình ảnh của các nữ thần và phụ nữ
vào thời kỳ này đều mặc quần áo.
Tuy nhiên trên đầu của cô ấy không đeo một quân miệng
hay là một chiếc mũ nào.
Và việc đặt bàn tay ngang trước ngực là một cử chỉ
thể hiện một lời cầu nguyện cho thấy
đây là một bức tượng mô tả một con người bình thường.
Thêm vào đó là bức tượng được tìm thấy
tại một ngôi mộ. Điều này xác nhận rằng
đây là một bức tượng đại diện cho một người phụ nữ
đã chết chứ không phải một vị thần.
Phong cách của bức tượng thì có vẻ trong tự nhiên hơn
so với thời kỳ sử dụng hình khối.
Tuy nhiên tình yêu dành cho hình khối
của những nghệ nhân người Hy Lạp
vẫn còn được tìm thấy trên bức tượng.
Ví dụ như hãy chú ý đến chiếc đồ phẳng hình tâm giác
được bao quanh bởi những lọn tóc dài
tạo thành một hình tâm giác lớn hơn.
Bố cục này được sử dụng để củng cố
hình diện của khung mặt. Phần trang trí
của chiếc váy với những chiếc ô vuông đồng tâm
được khắc họa một cách rõ ràng giống như
những bức tượng đá của Hy Lạp.
Có một quan niệm hiện đại cho rằng tượng Hy Lạp
và La Mã có màu trắng tinh khiết thì đó
có thể là sai lầm. Người Hy Lạp không
tô màu cho những bức tượng của họ bằng những
màu sắc sọt sở. Họ để nguyên màu
tự nhiên của đá, sau đó họ sẽ đánh sát
phủ bóng và vẽ mắt tô môi, cuối cùng
là phủ sân bóng. Với kỹ thuật này,
người Hy Lạp đã trộn bột màu và sắp
nóng, sau đó bôi lên bức tượng để màu bền hơn.